C. 152 Truyện Thủ Huồn – Đinh Thái Sơn

chuyện tiếu lâm, Vương Hồng SểnCó một người tên là Thủ Huồn (1) ở tỉnh Gai Đình, làm việc thơ lại, thì làm nhiều sự bất nhơn muốn lợi cho mình mà hại người ta. Cho đến khi già thì giàu có lắm. Người vợ chết đi, anh ta mới thôi làm thơ lại. mà không có con, ngồi buồn mới tính mình giàu có mà không con, chẳng để của làm chi cho nhiều, phải đi ra xứ bắc kỳ đặng mà mua đồ chơi.

Té ra đến đó là xứ Quảng Yên, vừa gặp nhóm chợ Mạnh Ma, đủ cả người dương gian âm phủ đến đó, anh ta mới đến chợ ấy mà chơi, vừa gặp người vợ âm phủ lên đi chợ. Lúc ấy vợ chồng gặp nhau mừng rỡ lắm.

Anh ta mới hỏi người vợ rằng:

– Mầy chết xuống âm phủ bấy lâu nay mầy làm nghề gì?

Người vợ nói rằng:

– Tôi chết xuống tôi ở vú nuôi con cho vua, tôi sung sướng lắm.

Anh ta lại nói rằng:

– Tình nghĩa vợ chồng ở với nhau đã lâu, từ khi mầy chết đến nay, thì tao thương nhớ mầy lắm. Bây giờ mà gặp mầy đây, thì mầy phải đem tao đi với, xuống mà coi thử cho biết làm sao.

Người vợ nói:

– Đi thì đi, mà không đặng ở lâu, trong năm ba bữa thì về mà thôi.

Đó rồi vợ chồng dắt nhau đi. Đến nơi rồi, người vợ giấu anh ta ở dưới nhà bếp.

Anh ta mới nói với người vợ rằng:

– Mầy phải đem tao đi mấy cửa ngục mà coi thử những người ở dương gian làm sự chi, mà chết xuống mắc tội chi cho biết.

Khi ấy người vợ đem anh ta đi đến cửa ngục kia, thấy có một cái gông lớn lắm, anh ta sợ lắm. Mới biểu người vợ đam lại chỗ anh chủ ngục ở mà hỏi cái gông lớn đó, để phạt tội chi làm vậy mà không thấy ai mang?

Anh chủ ngục mới nói:

– Cái gông đó để dành, đặng sau làm tội Thủ Huồn.

Anh ta mới hỏi:

– Vậy cho Thủ Huồn ở trên dương gian làm những tội chi?

Chủ ngục nói rằng:

– Vì tên Thủ Huồn ở trên dương gian làm việc thơ lại, người ta có tội sống làm ra chết, tội phải làm ra quấy, cho vay đặt nợ một vốn ăn không biết mấy lớp lời, ăn ở nhiều sự bất nhơn bất nghĩa, trong bụng muốn tham lợi cho nhiều.

Anh ta lại hỏi:

– Như vậy thì vợ nó có tội chăng?

Chủ ngục nói:

– Sự ấy là tại người chồng bất nhơn, thì làm tội một người chồng mà thôi, chớ vợ khỏi tội.

Anh ta lại hỏi:

– Tội như vậy, phải làm sao cho hết?

Chủ ngục trả lời:

– Phải làm chay cho lớn, và bố thí của ấy cho hết, thì khỏi tội.

Anh ta mới nói với người vợ mau mau đem trở lên dương gian, chỗ chợ Mạnh Ma, rồi anh ta mau mau trở về Gia Định, mới rước thầy làm chay, mà làm việc bố thí đến ba năm, của anh ta mười phần hết bảy.

Anh ta lại trở lại chỗ chợ Mạnh Ma một lần nữa, đặng chờ người vợ lên mà đi theo về âm phủ mà coi thử cái gông đó làm sao. Vừa gặp người vợ lên, mới đem anh ta xuống âm phủ một lần nữa, anh ta mới đến chỗ cái gông mà coi, thì thấy cái gông mười phần nhỏ hết chín phần, còn một. Anh ta thấy cái gông nhỏ lại làm vậy thì mừng lắm, mới hỏi anh chủ ngục làm sao mà cái gông đó, trước khi lớn, bây giờ nhỏ như vậy?

Anh chủ ngục nói:

– Vì tên Thủ Huồn ở trên dương gian làm chay bố thì, thì tội nó giảm đi, cho nên cái gông nó nhỏ lại. Phải chi nó bố thí cho hết của nó đi, thì cái gông ấy tiêu mòn hết.

Người vợ liền đem anh ta về dương gian. Anh ta lại làm chay một lần nữa, và làm một cái nhà bè ở giữa sông (bây giờ là sông Nhà Bè) để mà thí tiền gạo, cùng nồi niêu trách trã và những đồ ăn, bố thí hoài hết của thì thôi. Lại làm ra một kiểng chùa tại tỉnh Biên Hòa, tục kêu là chùa Thủ Huôn.

Lúc ấy anh ta nằm chiêm bao, có một người đến nói rằng:

– Mầy có lòng bố thí đã nhiều, lại làm một kiểng chùa mà thờ Phật, thì mầy đã đặng khỏi tội, mà kiếp sau mầy đặng phước lớn.

Thấy như vậy hay vậy, chớ không biết làm sao. Té ra sau lại đến đời vua Đạo Quang ở bên tàu, có giấy qua hỏi nước An Na tỉnh Gia Định có ai tên là Thủ Huồn chăng? Khi ấy vua An Nam trả lời lại nói có, và hỏi vua Tàu vì cớ gì mà hỏi tên Thủ Huồn làm chi?

Bên Tàu trả lời lại nói:

– Vì vua Đạo Quang sanh ra, nơi bàn tay có chữ son đề rằng “NAM VIỆT GIA ĐỊNH THỦ HUỒN”

Thì hiểu là anh ta đầu thai kiếp khác được làm vua Tàu; cho nên vua Đạo Quang có cúng ba cốt Phật bằng vàng tại chùa Thủ Huồn tỉnh Biên Hòa.


(1) Huồn: đây là tôi chép nguyên văn trong sách ra. Theo Việt ngữ chánh tả tự vị của ông bạn Lê Ngọc Trụ, chữ Huồng (viết có g), căn cứ theo tài liệu nhà học giả tiền bối Trương Vĩnh Ký để lại, là do đọc trại tên ông nầy, viết Võ Thủ Hoằng.


Lời bàn Vương Hồng Sển

Chuyện Thủ Huồn hay Võ Thủ Hoằng cho ta biết gốc tích sự thành lập nơi có địa danh là “Nhà Bè” nay còn đó. Chuyện có đáng tin hay không, chợ Mạnh Ma ở Quảng Yên có hay chăng, tôi không dám phê bình.

Vì cốt truyện là khuyến thiện trừng tham, nên đáng để dành trong sách.

Duy vua Đạo Quang là có thật, ông tức vị năm Tân Tị (1821), băng năm Tân Hợi (1851) thọ 69 tuổi, miếu hiệu Tuyên tông Thành hoàng đế. Việc ông vua nầy là hậu kiếp ông Võ Thủ Hoằng tôi không dám biết.

Nhà Bè còn đó, còn chùa Thủ Huồng ở Biên Hòa có còn chăng, là một vấn đề thiếu sót, tôi chưa được nghiên cứu và ước mong người thức giả xứ bưởi ngọt chỉ giáo.

Related Images:

C. 151 Hồn Trương Hoa, ma hàng thịt – Đinh Thái Sơn

chuyện tiếu lâm, Vương Hồng SểnAnh Trương Hoa là người đánh cờ tướng giỏi lắm, những người thế gian không ai đánh lại. Một ngày kia đánh cờ với một người kia, thì người kia phải túng nước ngồi mà nghĩ hoài, không biết đi nước nào mà gỡ cho khỏi thua. Anh Trương Hoa mới nói với người kia rằng:

– Cờ nầy có một mình ông tiên là ông Đế Thích, gỡ đặng mà thôi, chớ không ai gỡ đặng.

Nói rồi một chặp thì có một ông già ăn mày đến nhà Trương Hoa mà xin, thấy hai người đương ngồi mà đánh cờ, ông ấy bước lần đến mà coi, ổng thấy anh kia túng nước, ổng nói với Trương Hoa cho ổng đi thử một nước coi.

Anh Trương Hoa cười mà nói rằng:

– Cờ nầy có ông Đế Thích gỡ được cùng chăng, chớ ông làm gì được mà nói.

Ông già nói rằng:

– Xin anh hãy cho tôi đi thử một nước coi, như không đặng thì thôi.

Anh Trương Hoa bằng lòng mà cho ông ấy đi một nước cờ. Ông đi một nước thì gỡ đặng mà anh Trương Hoa lại phải thua.

Anh Trương Hoa tức mình, lấy làm lạ, mà nhìn ông già ấy hoài, rồi mời ông già ấy lên ngồi, anh ta mới bước xuống đất lạy ông già ấy mà nói rằng:

– Tôi chắc ông là ông Đế Thích, chẳng phải là người phàm.

Ông già ấy từ chối không chịu, nói mình là người bần nhơn.

Anh Trương Hoa không nghe cứ lạy ông ấy hoài, ông ấy phải chịu:

– Tôi là Đế Thích, tôi nghe anh nói đến tên tôi, nên tôi phải đến đây mà coi anh đánh cờ thể nào, thì thiệt anh cũng là người giỏi, tôi lấy làm bằng lòng lắm: nay có một sự, số anh đã gần ngày chết, mà chưa biết bữa nào, bây giờ tôi phải về trời. nay tôi dặn anh một điều, anh phải nói lại cho vợ anh biết, hễ đến khi anh chết rồi, thì phải thắp nhang lên mà vái tên tôi, thì tôi sẽ xuống mà cứu cho anh sống lại.

Đó rồi ông ấy đi mất. Anh Trương Hoa tin lời ổng nói là thiệt, mới dặn lại người vợ, hễ khi ảnh chết rồi phải làm như vậy. Người vợ cũng tin nhớ lời Trương Hoa dặn.

Cách một ít lâu thì anh Trương Hoa chết, người vợ than khóc mà lo sự chôn cất, quên lời ông Đế Thích dặn. Cách chừng một tháng, người vợ đi quét trong buồng, ngó thấy bàn cờ tướng mới nhớ sực lại lời ông Đế Thích dặn trong khi đánh cờ. Lật đật thắp nhang vái mà kêu tên ông Đế Thích. Được một chặp thì ông Đế Thích đến, ông hỏi sự tình thì người vợ nói:

– Chết đã được một tháng rồi, mà mắc lo chôn cất nên quên lời ông dặn, bây giờ tôi thấy bàn cờ thì nhớ sực lại mà vái ông, xin ông tính làm sao cho chồng tôi sống lại.

Ông Đế Thích rằng:

– Anh Trương Hoa chết đã lâu thì thịt nát xương tan rồi, làm sao nhập xác cho đặng?

Chị ta lạy ông Đế Thích hoài không cho ổng về, biểu ổng làm sao cho chồng sống lại.

Mà may ngày đó, lối xóm có anh bán thịt heo mới chết. Ông Đế Thích mới nói với vợ Trương Hoa rằng:

– Bây giờ phải nhập hồn cho thằng bán thịt, chị có bằng lòng chăng?

Chị ta nghe nói làm vậy không biết tính sao, cũng phải bằng lòng.

Đó rồi ổng làm phép đem hồn Trương Hoa nhập vào xác thằng bán thịt mà sống lại. Thì vợ con thằng bán thịt mừng rỡ lắm, mà thằng bán thịt không biết vợ con mình là ai, coi nhà cửa thì lạ hết, cứ nói nhà Trương Hoa hoài.

Vừa gặp vợ anh Trương Hoa đến, thì thằng bán thịt chạy đến ôm vợ Trương Hoa mà mừng rỡ. Vợ anh Trương Hoa đã nghe lời ông Đế Thích nói rồi, cũng mừng rỡ đem chồng mình về nhà. Vợ con thằng bán thịt chạy theo níu lại mà nói rằng:

– Người này là chồng tôi, mà sao chị dắt đi?

Vợ Trương Hoa lại nói rằng:

– Chồng của tôi, làm sao chị theo giành?

Rồi hai người đàn bà đánh lộn với nhau kiện đến quan.

Quan hỏi thằng bán thịt:

– Vợ con mầy là ai?

Thì nó nhè vợ Trương Hoa nó chỉ là vợ nó. Còn hỏi đờ bà kia là ai, thì nó nói vợ anh bán thịt cùng xóm với nó.

Quan lại hỏi cách làm heo buôn bán làm ao, thì nó không biết chi hết, mà biểu nó đánh cờ tướng thì nó đánh giỏi lắm.

Quan lấy làm khó xử vì hồn người nầy xác người kia. Quan lại hỏi vợ Trương Hoa:

– Trong khi chồng mầy còn sống có làm điều gì nhơn đức lớn không?

Vợ Trương Hoa nói rằng:

– Chồng tôi không có làm nhơn đức gì, có một sự đang đánh cờ tướng thì có ông Đế Thích xuống, thương yêu chồng tôi lắm. Ông mới dặn khi chồng tôi chết thì kêu ổng, ổng cứu giúp cho, rủi thì tôi quên đi. Đến một tháng tôi mới kêu ổng, ổng đến thì chồng tôi chết đã nát thịt rồi. Khi ấy vừa có anh bán thịt nầy mới chết, nên ổng đem hồn chồng tôi mà nhập với xác anh bán thịt nầy.

Ông quan đòi thằng bán thịt ra một nơi riêng kia mà hỏi có biết ông Đế Thích không, thì nó nói y như lời vợ Trương Hoa nói, nên quan cho nó về nhà Trương Hoa.

Related Images:

C. 150 Chuyện ma trong chợ lớn – Bạch Ngọc

 chuyện tiếu lâm, Vương Hồng SểnNhơn kể chuyện ma xen chuyện Tiếu lâm, tôi xin kể nốt chuyện sau đây vốn là bài cắt trong báo Miền Nam ngày 29-05-1964, dưới ngòi bút của ông Bạch Ngọc và tiện đây tôi xin có lời cám ơn tác giả, vì không rõ địa chỉ nên không thể biên thơ hoặc xin phép tận nhà (Vương Hồng Sển).

Bạn Tôn Ngô, hiện là một công chức cấp cao tại sở Ngoại Kiều, có kể cho tôi nghe một chuyện ma hiện hình mà anh đã mục kích như dưới đây ở hai mươi năm về trước.

Đêm hôm ấy tôi có việc phải đi thăm một người bà con đau nặng ở vùng Chợ Thiết (Chợ Lớn). Lúc đi trời không mưa, lúc trở về dọc đường thì trời đổ mưa xuống như trút nước. Tôi phải chạy núp vào gốc cây da sát vách tường rào của bịnh viện Chợ Rẫy.

Lúc ấy trời khuya không có một bóng người qua lại. Chỉ thỉnh thoảng môt chiếc xe hơi chạy vút qua rồi mất hút. Chỉ còn lại con đường rợp bóng lá, mờ mờ dưới những ánh đèn đường vàng vọt qua mưa rơi …

Độ nửa giờ sau, mưa dứt hột, tôi lách mình ra chỗ núp định đi dài theo đường chờ xe đi qua, đón đi về nhà ở Đất Hộ.

Đang đi, tôi vụt có cảm giác như sắp có ai sẽ đi ngược về phía tôi. Tôi vội đưa tay gạt những hột mưa còn bám đầu mắt cho dễ nhìn. Quả thật đúng vậy, không hiểu tự bao giờ có hai người xuất hiện và sắp đến gần tôi. Họ vận toàn trắng, có lẽ đây là hai kẻ mặc tang phục. Tôi ức đoán có lẽ hai kẻ có thân nhơn chết tại nhà thương Chợ Rẫy, họ đi chôn xác vừa về. Vì lúc ấy, họ đang đi qua khỏi cửa nhà xác độ vài chục thước. Tôi cũng yên trí bước đều …

Hai bóng trắng vừa vượt qua tôi. Lúc ấy tôi chợt muốn hút thuốc cho đỡ lạnh, nhưng tôi không quẹt đem theo. Tôi lật đật quay lại định hỏi hai bóng trắng vừa đi qua, để hỏi lửa. Nhưng bỗng nhiên tôi thấy lạnh xương sống vì quay lại thì tuyệt nhiên sau lưng tôi không có một bóng người nào nữa. Mặc dù cái xoay lưng của tôi không đầy một phút.

Tôi đứng phân vân, tim bấn loạn muốn vụt bỏ chạy, thì từ đằng xa, thấp thoáng hai bóng trắng ban nãy chợt hiện ra và bước mau trở về phía tôi. Tuy điếng hồn, tôi cũng cố đứng chờ họ đến. Nhưng rồi cả hai người ấy như hai cái bóng bằng mây khói, tan biến dần dần trước mắt tôi, không còn thấy nữa.

Đường khuya lạnh ướt và rùng rợn như nghĩa địa hoang vu. Tôi vụt bỏ chạy bất kể về hướng đường trước mắt, nơi ấy tôi thoáng thấy có ánh đèn đường hiện ra mở cho tôi một lối thoát.


Lời bàn Vương Hồng Sển

Tôi chép đến đây, chuyện ma đang giòn, nhơn còn hai chuyện sốt dẻo, tôi xin kể luôn đang khi ngon miệng vì biết mai nầy có còn sống để in tập khác tiếp theo tập nầy nữa không. Và mặc dù tôi đã hứa kể hết tập Đối cổ kỳ quan của ông Đặng Lễ Nghi là bắt qua kể chuyện Tiếu lâm tân thời.

Tiếp theo là hai chuyện lựa rút trong bộ “truyện đời xưa” của ông Đinh Thái Sơn, in lần ba tại Sài Gòn, nhà in Phát Toán, năm 1908: Hồn Trương Hoa – Ma hàng thịt và Chuyện Thủ Huồn.

Related Images:

C. 149 Tà bất cảm chánh – Đặng Lễ Nghi

chuyện tiếu lâm, Vương Hồng SểnXứ Bắc Thành, tỉnh bắc Ninh, có một người tên là Nguyễn Chánh Bình, tâm tánh cang cường khí khái lắm, bình sanh không ưa sự dị đoan, ưa chánh ghét tà, việc văn chương người cũng thông, người đã vào hàng học sanh, vợ người khoản sớm để lại hai đứa con trai, đứa lớn nên mười một tuổi, đứa nhỏ nên chín tuổi. Chánh Bình ngày đêm lo dạy hai con cũng thông minh lắm.

Ngày kia Bình đem hai con xuống Hà Nội mướn phố ở mà học đặng đến khoa mà thi cho luôn thể. Cha con tới Hà Nội mà không có chỗ ở, liền dạo theo thiềng thị kiếm phố mà mướn, vừa thấy một dãy phố, có một căn đóng cửa không có người ở, hỏi thăm nhà chủ phố đến mướn.

Chủ phố nói:

– Phố tôi rất nhiều mà có một căn không ai mướn, dầu có mướn thì ở cũng không đặng, vì là ma yêu trong phố phá lắm, không ai dám ở.

Bình nghe nói thì cười và nói rằng:

– Nếu không ai ở thì cho tôi ở.

Chủ phố nói:

– Tôi không tiếc chi mà sợ e chú ở không đặng, nếu chú ở đặng thì tôi cho ở không, tôi không ăn tiền.

Bình nói:

– Không hề chi mà chú ngại, cho tôi ở nó làm sao tôi thì tôi chịu.

Chủ phố thấy than thỉ lắm thì biểu người đi đến phố đó mà quét dọn tử tế cho Bình ở.

Nguyễn Chánh Bình vào phố ở đã hai đêm không có sự chi cả, qua đêm thứ ba, cha con đang ngồi đọc sách, thì nghe tiếng giày lộp cộp trên tấm bửng, tức thì nghe tiếng thổi vo vo, đèn tắt. Nguyễn Chánh Bình tự nhiên lo thắp đèn, vừa xong thì lại thổi tắt đi, nó cứ làm vậy ba bốn lần, mà Bình cũng không sợ, cứ lo đọc sách.

Đang đọc sách thì nghe có tiếng con gái nói thanh thao rằng:

– Nhà nầy là của tôi ở thuở nay, người ở đâu dám đến mà choán chỗ của ta? Nếu người không đi thì ta sẽ làm hại.

Bình nghe nói thì trả lời rằng:

– Phố nầy ta mướn có chủ, ta chả đi đâu.

Qua đêm sau cha con cũng đọc sách, liền nghe tiếng lộp cộp, ngó lại thì thấy trên vách thòng xuống một cái thang, có một người con gái tác chừng mười tám mười chín tuổi, nhan sắc đạp đẽ lắm, đi xốc tới trước mặt Bình mà nói rằng:

– Ta biểu đi sao không đi? Nếu trong ba bữa mà không đi thì ta sẽ bắt con lớn của ngươi chết.

Bình nghe nói vậy nổi nóng lên, cầm quạt đánh vào mặt người con gái, tức thì con gái biến mất.

Cách ba ngày thì thằng con lớn đau bụng mà chết, Bình than khóc rồi lo chôn con. Tối lại còn một cha một co, cũng ngồi đọc sách, liền nghe tiếng kêu trên không mà rằng:

– Sao ngươi không đi?

Bình đáp rằng:

– Tao chả đi đâu, tao ở đây, mi giỏi làm chi thì làm.

Con gái ma nói rằng:

– Nếu năm ngày nữa mà ngươi không đi, thì ta sẽ bắt thác con ngươi.

Bình tự nhiên không sợ sệt chi, cứ việc lo học mà thôi. Đủ năm ngày thì đứa con đau mê man một buổi rồi chết. Bình than khóc và nói rằng:

– Số mạng nơi trời.

Lo chôn con an rồi, tối ngồi một mình mà học thì buồn vì là vắng con, trong một giây phút thì con ma lại kêu mà nói:

– Sao ngươi không đi, còn đợi ta bắt ngươi nữa sao?

Bình nói:

– Mi giỏi thì bắt ta, chớ ta nõ đi.

Con ma nói:

– Nếu ngươi không đi thì ngươi hãy coi ta!

Qua đêm sau, Bình đang ngồi học nghe tiếng động lộp cộp trên vách rồi nghe một cái đụi, ngó lại thấy một cái đùi người ta coi bộ như sình mà tái xanh. Bình ngồi xem chớ không sợ chi, rồi rớt xuống một cánh tay cũng tái xanh, một hồi lại rớt cái mình.

Bình ngồi tự nhiên và rằng:

– Lũ ma nầy thật là quái lắm. Bây cố ý làm như vậy mà nhát tao, song tao nõ sợ, trối kệ nhà mi làm gì thì làm.

Tức thì nó rớt liền liền đủ cả thân mình, ráp lại thành người liền bước tới trước mặt Nguyễn Chánh Bình, xem ra hình cung kính.

Bình ngó nó thì nó vòng tay lại mà lạy Bình và nói:

– Xin quan lớn chớ chấp kẻ tiện tì.

Bình nghe vậy thì thấy làm lạ liền hỏi lại rằng:

– Mi đã bắt hai con ta sao mi không bắt ta cho muôn, nay lại đến mà xin lỗi? Còn phận ta là một người bần sĩ sao gọi ta là quan lớn? Có chi vậy hãy nói cho ta nghe?

Con ma nói:

– Tôi không phải bắt con ông chết, đó là số mạng nơi trời. Vốn tôi là ma quỉ biết rõ ngày chết nên tôi mượn đó mà nhát cho ông sợ mà đi cho khỏi nơi đây, chớ ở lộn theo thì tôi sợ lắm. Thường yêu ma hay sợ người chánh khí, còn sự kêu bằng quan lớn là đến khoa thi đây, ông sẽ đậu đầu tấn sĩ, vì lòng trung nghĩa chánh khí thì ông đặng chức thiếu bảo. Bây giờ tôi xin nói một điều xin quan lớn nhậm lời: tại chỗ quan lớn ngồi, đó là cái hòm của tôi, khi chồng tôi chôn tôi thì có bỏ theo mười lăm nén bạc, xin ngài mướn người đào lên đem dời đi nơi khác, lấy mười lăm nén bạc đó mà tiêu xài nội cuộc, còn dư thì ngài tiêu xài, phận tôi tuy là ở nơi chín suối song cũng cảm đội ơn ngài, và tôi cũng hết lòng theo mà giúp ngài mọi việc.

Nói rồi biến mất.

Nguyễn Chánh Bình ngồi nghĩ một hồi rồi nói:

– Ma quỉ rất nên kỳ quái.

Sáng ngày Bình đi đến nhà chủ phố mà nói lại các việc đầu đuôi cho chủ phố nghe và xin chủ phố cho mình đào phố mà lấy cốt y như lời con ma xin.

Chủ phố chịu cho, Bình về mướn người đào xuống sâu hơn mười thước thì đụng một cái hòm bằng đá, trên nắp có khắc bốn chữ “Mã Viện thứ thê”, xem điệu chữ giống điệu chữ đời Hán, dỡ nắm hòm thì thấy xác một người con gái mặt mày xinh tốt, một chặp lâu hơi gió vào thì tan lần, xem lại cho kỹ thì có mười lăm nén bạc liệm theo.

Nguyễn Chánh Bình lấy bạc mướn người đem dời hài cốt nơi khác, lại đắp xây mồ mả tử tế, lấy mười lăm nén bạc đó mà trả tiền tổn phí cho mấy người làm công, còn dư tiền bao nhiêu thì Bình mau giấy tiền vàng bạc mà đốt hết, không lấy một đồng trong số tiền đó.

Qua năm sau tới hội khoa thi, thì Nguyễn Chánh Bình ra thi đậu đầu tấn sĩ, làm quan đến chức Thiếu Bảo y như lời con ma đã nói với mình năm trước.

Gẫm lại xưa nay chẳng khác, hễ người ở công bình chánh trực khí khái, dầu cho thần thánh cũng vì, còn loài ma quỉ thì kính sợ, như đời xưa, đời Tam Quốc, có Tôn Bá Phù (Tôn Sách) thật cũng là chánh khí, thầy Vu Kiết dùng tà thuật mà có dám làm chi đâu, sau Tôn Sách bị bịnh mà chết.

Related Images:

C. 148 Hồn Gia Định, xác Bắc Thành – Đặng Lễ Nghi

chuyện tiếu lâm, Vương Hồng SểnXem truyện kia sử nọ, thấy nhiều tích lạ lùng quái dị, khó mà luận biện giả chơn, là vì việc đã nhiều đời, tưởng lại những chuyện quái dị, tai biến thì đời nào cũng có. Xưa thì truyện sử biên chép để lại, còn như đời nay có việc kỳ quái biên vào nhựt trình cho thiên hạ xem.

Năm Quí Mão (1), xứ Hà Nội (Bắc Thành), có một chuyện rất quái dị, có thơ của người bằng hữu thuật lại rõ ràng. Tại châu thành Hà Nội, đường Hàng Buồm có một căn nhà mà hai chủ ở, ngăn làm hai, một người ở Gia Định làm thầy thông, một người Bắc Thành làm thợ rèn. Hai người đều có vợ, ở chung như vậy đã lâu.

Một ngày kia hai người đàn bà đau bịnh, nội đêm ba mươi tháng năm lang sa thì hai người đàn bà đều chết một lượt. Sáng ngày đi khai nơi quan giám thành, quan giám thành xem xét rồi thì cho phép chôn.

Thầy thông là người Gia Định, có sẵn sàng tiền bạc lo tống táng vợ an bài. Còn người thợ rèn là người Bắc, còn để xác vợ đó mà đi cho bà con thân tộc hay, lại cũng không có đủ tiền bạc mà dùng trong cuộc tống táng, đến chiều tối mới mua đặng quan quách mà liệm.

Trong nhà đang sửa soạn liệm, thì chị thợ rèn sống lại, ngồi dậy tỉnh táo, bước xuống đất đi cùng nhà, anh thợ rèn thấy sự kỳ quái thì lấy làm sợ, không hiểu ý nào. Trong lòng hồ nghi ma quỉ nhập vào xác mà nhát, anh thợ rèn quì xuống lạy vợ mà hỏi. Chị thợ rèn ngó anh thợ mà xem ra bộ hổ ngươi mắc cỡ.

Người đàn bà sống lại đó nói rằng:

– Tôi là vợ thầy thông ở Gia Định, chớ không phải là vợ thợ rèn, vốn tôi là người đàn bà ở Gia Định mà tâm tánh hiền lành trọn ngay trọn thảo với chồng nên cho sống lại mà ở với chồng cho trọn nghĩa cang thường.

Mấy người Bắc Thành nghe nói thì lấy làm lạ lắm, và không hiểu chị thợ rèn nói giống gì lạ tai quá. Liền đi kêu thầy thông mà nói lại các việc, thầy thông nghe nói thì buồn rầu nhớ vợ, liền trả lời rằng:

– Vợ tôi chết rồi chôn rồi, còn vợ nào đâu mà nói dị sự như vậy.

Người đàn bà nầy cứ nằn nằn quyết một nói thầy thông đó là chồng thật của mình mà thôi, cứ theo mãi, thầy thông lấy làm lạ mà lại mắc cỡ, vì là cứ theo hoài, thầy thông tức mình liền nói rằng:

– Như nói quả là vợ thì hãy nói tên cha mẹ ở Gia Định, ở làng nào tổng nào, tên cha mẹ bên chồng bên vợ, việc cưới hỏi thuở xưa làm sao, đồ nữ trang khi cưới những món gì, vợ chồng ở với nhau lâu nay làm sao, có dư dả hay là thiếu thốn, hồi chôn đồ tẩn liệm những vật chi phải nói cho rõ căn cội.

Thầy thông hỏi dứt lời, thì chị ta nói lại rõ ràng mỗi việc đều y kỳ, lại nói trúng những tiền bạc vợ chồng dành để mà chôn đâu để đâu đều nói trúng hết thảy. Thầy thông ngồi sửng đông, không biết nói làm sao, thật lấy làm lạ quá lẽ, không biết lấy đâu mà luận biện cho minh bạch.

Lời nói thì mỗi việc đều trúng, là người Gia Định vợ thầy thông, mà ngặt vì tay chơn mặt mũi hình vóc với lời nói thì là người Bắc Thành. Thầy thông không chịu nhìn là vợ, chị thợ cứ việc theo thầy thông, anh thợ rèn cứ theo bắt vợ.

Việc rất nên là liệu điệu, không ai biết đâu mà công nhận, sự rất nên quái đi, không ai xử đặng.


(1) Năm Quí Mão là năm 1903, tức năm thứ 15 đời vua Thành Thái.

Related Images:

C. 147 Nước gừng trừ bịnh bôn đồn (lớn dái) – Đặng Lễ Nghi

chuyện tiếu lâm, Vương Hồng SểnXứ Giồng Vắp, làng Lộc Giang, có nhà tên Mầu, làm nghề rẫy bái ruộng nương, va biết nhiều mặt thuốc nam, và cũng trị nhiều bịnh làm đã, nên trong xóm làng kêu va là thầy Mầu. Tuy là thuốc nam mà tổ đãi cũng khá, hễ làm bịnh nào thì lành bịn nấy, nên va có tiếng đồn rằng thầy có tài, lắm chỗ nầy rước chỗ kia rước.

Xóm trên có người tên là Đa, khi trước có làm trùm một năm, sau thôi làm trùm, mà trong làng cũng quen kêu là trùm Đa. Trong nhà khá có ăn, có trâu bò, ngày nọ va bị ăn trộm lùa hết hai con trâu, va theo dấu rồi va chạy nhào theo trâu, chạy từ hừng đông cho đến đứng bóng thì mới gặp trâu. Mấy người ăn trộm sợ chạy vào rừng, Đa lùa trâu về. Đi tới nửa đêm mới đến nhà, sáng ngày ra thì va phát bịnh lớn dái, vợ con lo chạy thuốc kia thuốc nọ thoa bóp mà không hết, rước thầy ngải, thầy Mên đến làm cũng không hết, trong nhà liền nhớ lại có thầy Mầu ở xóm dưới, tính sai người đi rước.

Trùm Đa nói:

– Tao nghe thầy Mầu trị bịnh máu cho đàn bà thì giỏi, mà các bịnh khác, tao e va làm không hết, sợ em làm bậy tốn tiền vô ích.

Người vợ nói:

– Người ta làm thầy thì lẽ nào không trị bịnh đặng, việc thuốc vốn là phước chủ may thầy.

Người chồng làm thinh, vợ liền sai người đi rước thầy Mầu tới. Thầy vô coi rồi ra nói rằng:

– Bịnh của anh đây, nó muốn làm bôn đồn, nếu nó làm bôn đồn thì vô phương trị.

Người vợ nói:

– Như bịnh đó thì thầy liệu thể nào? Uống mấy thang mà xọp mà mạnh?

Thầy nói:

– Đôi ba thang thì xọp, mà đều có thuốc khác trị mới là mau, ở đây cũng có đem theo mà không đủ.

Chủ nhà nghe nói xọp mau thì mừng vì là mấy bữa rồi nó làm tức chịu không đặng. Thầy cố ý kiếm chuyện nó đặng đi lo tìm phương rồi sẽ cho, nhưng mà chủ cứ theo năn nỉ xin có phương nào thì cho bây giờ đặng cho nó bớt tức.

Anh thầy ngẫm nghĩ liền hỏi chủ vậy chớ ở nhà có gừng già hay là không?

Chủ nhà nói có, liền biểu đào cho nhiều bỏ vô cối đâm cho nát, chế vô chút nước, rồi đem vắt lấy chừng hai phần chén nước đem đây tôi hòa với thuốc của tôi rồi đem vào thoa nội trong một lát thì xọp bớt.

Chủ nhà làm y như lời, đem chén nước gừng giao cho anh thầy, anh thầy làm bộ day mặt vô vách, dở cái đãy lấy một nhúm thuốc nát bỏ vào miệng nhai rồi nhổ vào chén cả cái và nước, liền trao cho chủ nhà biểu đem vào lấy tay mà chấm mà thoa cho cùng, thoa ba bốn lần cho nó thấm. Mới thoa vào thì nghe tăn tăn, một lát thì nghe nóng rát.

Đa liền kêu:

– Thầy ôi, sao nghe nó nóng rát lung lắm vậy?

Anh thầy nói:

– Không hề chi, cứ việc thoa hoài.

Một lát lâu lâu nó nóng và rát quá chừng, Đa nằm ngồi không đặng, nó nóng và rát quá chịu không đặng liền chửi anh thầy. Dầu chửi bao nhiêu cũng không hết nóng rát. Đa ngồi không đặng, rút cây rươt lão thầy mà đánh, lão thầy chạy xung quanh nhà vài vòng rồi chạy thẳng về nhà thở hào hển.

Thím thầy ra hỏi:

– Chạy đi đâu mà thở hung vậy?

Lão thầy nói:

– Chuyện tức cười lắm, mầy ôi! Để tao nói chuyện cho mà nghe. Thằng cha trùm Đa nó đau sao không biết mà dái nó sưng lớn bằng cái tô, tao coi rồi nó biểu tao hốt thuốc. Tao cố ý nói dối dá đặng về mà kiếm phương, mà nó không cho về, nó cứ biểu cho thuốc. Ta nhứt định thứ gừng thì nó nóng, xức vào có khi nó xọp, tao biểu nó đâm nước gừng đem cho tao hòa thuốc.

Vợ hỏi:

– Vậy mình hòa thuốc gì?

Anh thầy nói:

– Có thuốc gì đâu mà hòa! Tao lấy thuốc hút mà thuốc nát, tao bỏ vô chớ không có chi hết, rồi tao biểu nó thoa ba bốn bận nên thấm vào rát nóng quá, nó chửi, nó rượt tao nó đánh, tao chạy về đây. Còn nó ở đó làm sao không biết!

Vợ nó nói:

– Sao mà làm bậy vậy? Sao không hốt thuốc cho nó?

Lão thầy nói:

– Thuở nay mình thường làm thuốc máu giỏi, làm thuốc cho đàn bà, chớ ai có làm bịnh lớn dái đâu mà biết.

Còn trùm Đa, nóng nảy quá rát rao quá chịu không đặng, chạy bậy bạ ra đồng rồi chạy vô kiếm bàu kiếm vũng đặng nhảy xuống cho nó mát, kiếm quanh quắt không có vũng bàu chi cả, liền ngó ngoái lại thấy trong chuồng trâu có nước cứt trâu, va nhảy ầm xuống nước cứt trâu, lút khỏi lưng quần, đứng giữa đó mà chửi lão thầy um sùm, một lát sao nghe êm mát, va thò tay xuống rờ thì xọp khô, lấy làm mừng, vội vã đi lên tắm rửa sạch sẽ, vào nhà nằm nghĩ đi nghĩ lại tức cười, mà cảm thương lão thầy bị mình đánh chửi, nghĩ càng cám ơn thầy Mầu lắm, liền biểu trẻ trong nhà đi mua một chai rượu, bắt một cặp vịt, biểu vợ đưa vài đồng bạc, bảo trẻ xách rượu vịt đi với mình tới nhà thầy đặng xin lỗi và đền ơn.

Đến nơi thầy Mầu ra chào hỏi thăm:

– Căn bịnh anh bây giờ có khi đã mạnh rồi chăng? Còn bây giờ anh đi đâu mà ghé lại đây?

Trùm Đa nói:

– Tôi cố ý đến thầy.

Liền để rượu với bạc nơi ghế và nói:

– Tôi đem một chai rượu với một cặp vịt, đó là chút lễ mọn xin thầy nhậm mà tha lỗi cho tôi, còn hai đồng bạc là tiền tôi trả tiền thuốc.

Lão thầy nói:

– Anh có lòng thảo thì tôi rất cám ơn, mà anh thiệt nhát gan quá.

Nói sơ sài rồi hai đàng cười, Đa kiếu thầy ra về.

Thầy Mầu ngẫm nghĩ tức cườ, lại nghĩ không biết tại nước gừng nóng mà xọp, hay là nước gừng với nước cứt trâu kị nhau mà làm xọp, lấy làm khó biện luận thứ nào là hay.

Related Images: