Lê Quang Định – Tiểu sử

Lê Quang Định
Một trang trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí năm 1806

Lê Quang Định, tự Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, sinh năm Canh Thìn (1767). Nguyên tổ gốc ở huyện Phú Vang, Thửa Thiên. Cha ông tên là Sách, làm Thủ ngự ở nguồn Đà Bồng, mất trong lúc Lê Quang Định còn nhỏ. Nhà nghèo, Quang Định theo anh là Hiến vào huyện Bình Dương, Gia Định. Có y sinh Hoàng Đức Thành đem lòng thương, gả con gái cho.

Lê Quang Định theo học trường của Xử sĩ Võ Trường Toản. Ông kết thân với Ngô Nhơn Tĩnh và Trịnh Hoài Đức rồi lập “Bình Dương thi xã”, nổi danh phong nhã. Ngoài tài thơ, Quang Định còn viết tốt và vẽ tài.

Năm Mậu Thân (1788), ông được tiến cử với chúa Nguyễn Phúc Ánh, làm Hàn lâm viện Chế cáo, chuyên việc khuyến nông. Sau, ông sung chức Đông cung Thị giảng rồi thăng Hữu tham tri bộ Hình, từng theo quân đi trông coi việc lương.

Năm Canh Thân (1800), Lê Quang Định cùng Nguyễn Văn Nhân phò Đông cung Cảnh ở giữ Gia Định.

Năm Nhâm Tuất (1802), Lê Quang Định lãnh chức Hiệp trấn Thanh Hoa. Rồi sau ông thăng Thượng thư bộ Binh, sung chánh sứ, cùng đi sứ với hai vị phó sứ Lê Chính Lộ và Nguyễn Gia Cát, sang nhà Thanh trần tình về việc đổi quốc hiệu là Nam Việt.

Vua Thanh sai Quảng Tây Án sát sứ Tề Bố Sâm sang phong và đổi lại là Việt Nam (thay vì Nam Việt).

Năm Bính Dần (1806), Lê Quang Định lãnh sắc làm sách Đại Việt nhất thống dư địa chí gồm 19 quyển, khảo đủ đồ tịch trong nước, từ kinh sư vào Nam tới Hà Tiên, ra Bắc tới Lạng Sơn, nhất nhất đều biên chép hết.

Năm Kỷ Tụ (1809), Lê Quang Định đổi làm Thượng thư bộ Hộ kiêm quản Khâm thiên giám.

Năm Canh Ngọ (1810), Lê Quang Định coi sắp đặt bộ Điền thổ.

Năm Quý Dậu (1813), Lê Quang Định mất, đặng 54 tuổi. Ngày đưa tang ông, có cả chiến thuyên đi hộ tống.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Tác phẩm

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử
Khu lăng mộ Ngô Nhơn Tĩnh tại Tp. Hồ Chí Minh

Ngô Nhơn Tĩnh – Tác phẩm

Ngô Nhơn Tĩnh học giỏi, thơ hay. Khi đi sứ được người Nhà Thanh khen tài văn chương. Ngô là học trò của Võ Trường Toản, ông cùng với Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định được người đương thời xưng tặng là ba nhà thơ lớn đất Gia Định (Gia Định Tam gia) trong nhóm Bình Dương thi xã.

Sự nghiệp văn thơ của ông để lại có:

  • Thập Anh đường thi tập (in khắc 1811) gồm 81 bài thơ chữ Hán, chủ yếu làm trong dịp đi sứ.
  • Thập Anh văn tập, gồm 187 bài kinh nghĩa lấy đề tài trong Kinh Thi, Kinh Thư, được soạn làm tài liệu cho người học đi thi (theo Nho học).
  • Gia Định tam gia thi tập, chung với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định.
  • Hoan Châu phong thổ ký (Hoan Châu xưa, ngày nay là Nghệ An) soạn chung với Bùi Dương Lịch (1774-1814). Nội dung sách viết về phong tục, nhân vật, diên cách của 12 huyện thuộc đất Hoan Châu xưa (Nghệ An ngày nay). Kế đến viết về danh thắng, núi sông, cổ tích, đến miếu xứ Hoan Châu xưa. Đây có thể được xem là một trong những tác phẩm về địa phương chí Nghệ An sớm nhất.
  • Ông là người hiệu đính sách Hoàng Việt nhất thống địa chí của Lê Quang Định.

Đăng tác phẩm tại dienvan.space

Tôi vẫn chưa có được toàn bộ các tác phẩm của Ngô Nhơn Tĩnh. Tôi sẽ đăng lần lượt theo tiêu chí “có bào nhiêu đăng bấy nhiêu” để phổ biến rộng rãi hơn đến bạn đọc gần xa.

Mục lục tất cả các tác phẩm của Ngô Nhơn Tĩnh.

Chúc độc giả có khoảng thời gian thú vị qua những áng văn thơ xưa.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử
Khu lăng mộ Ngô Nhơn Tĩnh tại Tp. Hồ Chí Minh

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử

Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm nào không rõ (*), tự Nhữ Sơn. Nguyên tổ phụ là người Quảng Đông sang đất Gia Định. Đến đời Ngô Ngơn Tĩnh, cầu học với Võ Trường Toản. Ông cùng ra giúp nước một lượt với hai bạn đồng học là Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức. Ban đầu Ngô lãnh chức Hàn lâm viện Thị Độc.

Năm Mậu Ngọ (1798), Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường bàn nghị phải sai người sang Nhà Thanh để dò la tin tức vua Lê Chiêu Thống.

Hai người dâng biểu nói:

Ngô phẩm hạnh ngay thẳng, học vấn giỏi giang, đáng được chức tuyển ấy”.

Ngô được thăng chức Binh bộ Hữu tham tri, đi sứ, lãnh quốc thư, ngồi thuyền buôn qua tới Quảng Đông. Đoàn sứ nghe tin vua Lê đã băng thì trở về liền. Qua lần đi sứ này, ông tỏ rõ là người biết việc, xử thế đúng mực, hiểu rõ đối phương. Do đó, mặc dù thời gian ông đi sứ ngắn nhưng ông đã hoàn tất mỹ mãn mọi công việc.

Năm Canh Thân (1800), Ngô theo Nguyễn vương ra cứu thành Qui Nhơn. Ngô cùng với Nguyễn Kỳ Kế coi về việc binh lương. sau đó ông được lãnh coi việc chính trị Phú Yên, thâu tiền và lúa để cung cấp quân nhu.

Năm Gia Long thứ nhứt, Nhâm Tuất (1802), Ngô được cử làm giáp phó sứ, cùng với Chánh sứ là Trịnh Hoài Đức và phó sứ là Hoàng Ngọc Uẩn đi sứ Nhà Thanh. Sứ bộ ngồi hai chiếc thuyền “Bạch Yến” và “Huyền Hạc” từ cửa Thuận An (Huế) ra đi. Đến giữa biển thì bị bão nên tới tháng 7 sứ đoàn mới tới Hổ Môn quan.

Tổng đốc Lưỡng Quảng dâng sớ tấu, vua Thanh liền truyền bảo sứ đoàn theo đường Quảng Tây mà lên kinh.

Vừa tới Quảng Tây thì gặp sứ bộ của Lê Quang Định phụng chỉ sang cầu phong. Hai phái đoàn cùng ở lại tỉnh Quảng Tây chờ mạng lệnh vua Thanh.

Đến tháng 4 năm Quý Hợi (1803), thuyền sứ mới rời Quảng Tây mà lần lên kinh, vào chầu vua Gia Khánh.

Xuân năm Giáp Tý (1804), hai đoàn sứ bộ mới làm xong nhiệm vụ mà trở về. Trong khi tiếp xúc với sứ thần nhà Thanh, Ngô Nhơn Tĩnh đã thể hiện sự thông minh và tài trí khôn khéo của mình. Ngoài tài ứng đối, bình tĩnh đấu kế để giữ gìn quốc thể, ông còn dùng thơ văn thuyết phục vua quan nhà Thanh, bắt họ phải thực hiện những điều cam kết với ta. Bấy giờ, Ngô Nhơn Tĩnh vẫn giữ chức Binh bộ Hữu tham tri như cũ.

Năm Gia Long thứ 6, Đinh Mão (1807), Ngô Nhơn Tĩnh lại sung chức Chánh sứ cùng với Phó sứ Trần Công Đàn đem ấn sắc vào Nam, tới thành La Bích mà phong cho Nặc Ong Chân làm vua Chân Lạp.

Năm Gia Long thứ 10, Tân Tị (1811), Ngô Nhơn Tĩnh lãnh chức Hiệp trấn Nghệ An. Thấy dân tình thảm khổ, Ngô Nhơn Tĩnh dâng sớ xin về kinh bệ kiến mà tấu vua rõ. Vua phê chuẩn lời Ngô xin. Ngô cùng Đốc học Nghệ An là Bùi Dương Lịch soạn quyển Nghệ An phong phổ ký.

Năm Gia Long thứ 11, Nhâm Thân (1812), Ngô thăng chức Thượng thư bộ Công, lãnh chức Hiệp trấn thành Gia Định, cùng Tham tri bộ Hộ Lê Viết Nghĩa phụng mạng đi kiểm soát tiền lương và văn án các dinh.


Năm Gia Long thứ 12, Quý Dậu (1813), Ngô cùng tổng trấn Lê Văn Duyệt đem quân đưa vua Chân Lạp là Nặc Ong Chanh về nước. Họ họp cùng Xiêm La (Thái Lan ngày nay) để bàn việc Chân Lạp. Đến khi Ngô về, có người gièm pha rằng Ngô ăn của lót. Tuy không có bằng cớ gì song quan Tổng trấn cũng cứ tâu về triều. Vua Gia Long hình như không bằng lòng, nhưng bỏ qua.

Ngô vô cùng đau khổ và uất hận về sự vu oan này. Những kẻ lâu nay ghen ghét tài năng, đức độ và công lao đã tìm cách hại ông.  Ngô biết vậy nhưng không có cách nào để minh oan. Đêm ngày lo nghĩ, buồn bực mà không biết giải bày với ai. Ngô chỉ biết ngậm ngùi than thở “trách người đi thêu dệt, khiến mình phải oan”. Từ đó, Ngô buồn bã đến thành bệnh.

Mùa xuân năm Quý Dậu (1813) thì Ngô bệnh nặng mà mất, táng tại xã Chí Hòa (Gia Định).

Ngô Nhơn Tĩnh có một con trai là Ngô Quốc Thoại.


Năm Bính Tý (1936), vì nhà cầm quyền cần nơi xây cất nhà ga, nên Hội Đình Minh Hương Gia Thạnh đã di dời mộ phần của ông về làng Tân Hóa, tổng Tân Phong Trung, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định. Nay là đường Lũy Bán Bích, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm Giáp Thân (2004), để tôn vinh một nhà thơ lớn của đất Gia Định năm xưa, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã di dời và an trí mộ phần của ông trong khuôn viên chùa Giác Lâm, trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình. Lăng mộ ông được liệt vào hàng Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp Quốc gia…


(*): Có tài liệu chép Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm 1760 hoặc 1761 và mất năm 1816.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Tác phẩm

Trịnh Hoài Đức – Tác phẩmTrịnh Hoài Đức – Tác phẩm

Tác phẩm của Trịnh Hoài Đức gồm có:

  • Cấn Trai thi tập: Sách in ván gỗ, chữ rõ, hiện Thư viện KHXH Hà Nội còn lưu giữ (bản in 1819:A.780). Cấn Trai thi tập là toàn tập thơ của ông, gồm những sáng tác từ 1728-1819. Cấn Trai thi tập gồm 3 tập: Thối thực truy biên tập; Quan Quang tập; Khả dĩ tập.

  • Gia Định thành thông chí: là bộ địa lý học – lịch sử được ta2c giả biên soạn rất công phu, theo thể loại địa chí, ghi chép về 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên thuộc Gia Định thành dưới triều vua Gia Long (1802-1819).

Các vấn đề mà sách Gia Định thành thông chí quan tâm đến khá rộng. Sách gồm 6 quyển, với trình tự nội dung sau:

Quyển 1: Tinh dã khí (khu vực các ngôi sao)

Quyển 2: Sơn xuyên chí (chép về núi sông)

Quyển 3: Cương vực chí (chép về bờ cõi)

Quyển 4: Phong tục chí (chép về phong tục tập quán)

Quyển 5: Vật sản chí (chép về sản vật)

Quyển 6: Thành trì chí (chép về thành quách)


  • Bắc sứ thi tập: làm khi đi sứ Trung Quốc, trong đó có 18 bài thơ nôm liên hoàn “Đi sứ cảm tác”.
  • Lịch đại kỷ nguyên
  • Khang tế lục
  • Gia Định tam gia thi tập: thơ chung với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh.

Cả cuộc đời của Trịnh Hoài Đức gắn bó với đất và người Đồng Nai, Gia Định. Thơ văn của ông tràn đầy niềm tự hào, yêu mến quê hương. Có thể nói, trong các nhà văn, nhà thơ vào thế kỷ 17-18 ở Nam bộ, ít có người nào có vốn sống và hiểu biết phong phú về đất Đồng Nai, Gia Định như Trịnh Hoài Đức.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Tiểu sử

Trịnh Hoài Đức – Tiểu sửTrịnh Hoài Đức – Tiểu sử

(Theo Trịnh Hoài Đức truyện, Đại Nam liệt truyện chính biên sợ tập quyển thứ 11, có bổ sung theo Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất, đệ nhị kỷ của Quốc sử quán triều Nguyễn).

Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) (1) có tên khác gọi là An, tên tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Ông bà đời trước gốc người huyện Trường Lạc, tại Phúc Kiến (Trung Quốc), nối đời làm quan. Đầu đời nhà Thanh, ông nội là Trịnh Hội giữ nguyên đầu tóc di cư qua Việt Nam, lưu ngụ ở đất Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay). Cha là Trịnh Khánh, từ nhỏ chăm học, viết chữ đại tự rất tốt và nổi tiếng cao cờ. Đời vua Thế Tông triều Nguyễn (tức Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát 1738-1765), Trịnh Khánh nhờ nạp quyên được làm chức Cai thu tại An Trường. Sau cha ông dời ra ba trường Quy Nhơn, Quy Hóa và bả Canh lam Cai đội.

Lúc Trịnh Khánh mất, Hoài Đức mới 10 tuổi mà rất bền chí hiếu học. Thời ấy gặp khởi nghĩa Tây Sơn, Hoài Đức bèn theo mẹ dời vào ở Phiên Trấn (tức Gia Định, phía bắc Sài Gòn ngày nay) và vâng theo lời mẹ, theo học với Xử sĩ Võ Trường Toản tiên sinh.

Năm Mậu Thân 1788, lúc Nguyễn Phúc Ánh (tức Nguyễn triều Thế Tổ, Gia Long đế) chiếm lại Gia Định, Trịnh Hoài Đức cùng nhóm Lê Quang Định ra ứng cử, được cho làm chức Hàn Lâm viện Chế cáo.

Năm 1789, Trịnh Hoài Đức nhiệm chức Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình, coi việc mở mang vùng tam giác sông Mê Kông và xác định chế độ điền thổ, đồng thời lo trù biện lương hướng cho quân đội. Sau ông đổi qua bộ Hình, tham dự việc xét nghĩ hình luật văn án, kế nhiệm chức Thị giảng Đông cung (con trưởng vua Gia Long, Hoàng tử Cảnh, sau truy tôn Anh Duệ Hoàng thái tử) và phụ tá Đông cung tọa trấn Diên Khánh và Phú Yên.

Năm 1794, Trịnh Hoài Đức ra nhiệm Ký lục dinh Trấn Định (tức Mỹ Tho ngày nay).

Mùa hạ năm 1801, quân Nguyễn thâu phục kinh đô Phú Xuân (tức Huế ngày nay), Lê Văn Duyệt và Tống Viết Phúc đốc quân ra cứu thành Quy Nhơn, Trịnh Hoài Đức nhiệm chức Hộ bộ Tham tri, chuyên trách lo binh lương tiếp tế.

Năm 1802, Trịnh Hoài Đức được vua Gia Long thăng nhiệm Thượng thư bộ Hộ, cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh cầu phong. Đến tháng 8-1803, ông trở về Thăng Long. Sau đó, 1804 ông hộ giá vua Gia Long về Phú Xuân. Về kinh sư, Trịnh Hoài Đức vẫn giữ chức Thượng thư bộ Hộ như trước.

Tháng 2-1805, triều đình phái Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Trương làm Gia Định Lưu trấn, khiến Hoài Đức làm Hiệp Lưu trấn.

Tháng 1-1808, Gia Định trấn đổi thành Gia Định thành. Tháng 9-1808, đặt chức Gia Định thành Tổng trấn. Nguyễn Văn Trương được về kinh, Nguyễn Văn Nhân làm Gia Định Tổng trấn, Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng trấn.

Tháng 7-1812, triều đình rút Trịnh Hoài Đức về kinh, cải nhiệm Lễ bộ Thượng thư, kiêm quản Khâm Thiên giám.

Năm 1813, Trịnh Hoài Đức cải lãnh Lại bộ Thượng thư.

Tháng 1-1816, Nguyễn Hoàng Đức nhiệm Gia Định Tổng trấn. Tháng 11 năm ấy, Thế Tổ cho rằng Gia Định là một thành lớn phương Nam, lại có việc giao thiệp với lân bang rất hệ trọng, cần phải có người giỏi trấn nhiệm mới được, bèn phái Lại bộ Thượng thư Trịnh Hoài Đức nhiệm chức Gia Định Hiệp Tổng trấn.

Tháng 9-1819, Nguyễn Hoàng Đức mất, triều đình phái Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn nhơn làm Gia Định thành Tổng trấn, khiến Trịnh Hoài Đức vẫn lãnh Hiệp Tổng trấn để phụ tá Nguyễn Văn Nhơn.

Tháng 12-1819, vua Thế Tổ mất, Hoàng tử thứ 4 là Phúc Hiệu nối ngôi, đổi niên hiệu làm Minh Mạng, tức Thánh Tổ triều Nguyễn. Đầu năm 1820, Gia Định Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn về kinh tiến yết, Trịnh Hoài Đức tạm lãnh chức vụ Tổng trấn. Tháng 6-1920, Thánh Tổ triệu Trịnh Hoài Đức về kinh, lãnh việc bộ Lại.

Lòng yêu quí và tin dùng của vua Minh Mạng đối với Trịnh Hoài Đức còn quá hơn tiên hoàng. Trịnh Hoài Đức trở thành nguyên lão của triều Nguyễn và làm cố vấn tối trọng yếu cho vua Minh Mạng.

Tháng 8-1821, vua Minh Mạng thăng cho Trịnh Hoài Đức làm Hiệp biện Đại học sĩ, nhưng lãnh Lại bộ Thượng thư kiêm Binh bộ Thượng thư. Cũng trong năm 1821, vào tháng 9, Trịnh Hoài Đức hộ giá vua Minh Mạng Bắc tuần các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa. Tháng 10 đến Bắc Thành (Thăng Long). Tháng 12, triều đình nhà Thanh sai Quảng Tây Án sát sứ Phan Cung Thần làm Sách Phong sứ qua Việt Nam. Ngày 19 tháng 12, Hoài Đức và Bắc Thành Tổng trấn Lê Chất đều sung chức Thị vệ Đại Thần, tham dự điển lễ. Xong việc, Trịnh Hoài Đức lại theo vua Minh Mạng trở về Nam.

Tháng 3-1822, Trịnh Hoài Đức sung Chánh Chủ khảo trường thi Hội. Tháng 9-1922, Trịnh Hoài Đức tiến một bộ Lịch Đại Kỷ Nguyên và bộ Khang Tế Lục lên vua Minh Mạng. Tháng 11-1822, Minh Mạng lại khiến kiêm lãnh Lễ bộ Thượng thư.

Tháng 7-1823, Trịnh Hoài Đức nhân khó nhọc quá độ sinh bệnh, bèn dâng biểu cầu xin trở về gia quán tại Gia Định, và nói rằng hiện vợ chết còn chưa chôn, con đương ở nhà chịu tang, không có người thị dưỡng. Vua Minh Mạng chỉ dụ yên ủi, cho ông tạm nghỉ việc nhưng vẫn lưu lại kinh đô. Vua Minh Mạng còn ban cho 2.000 quan tiền và săng gỗ ngói gạch để làm nhà ở. Trịnh Hoài Đức vâng mạng, cất một sở nhà hiệu Quỳ Viên, ở ngoài cửa đông thành Huế để dưỡng bệnh.

Tháng 9-1823, Trịnh Hoài Đức khỏi bịnh, dâng biểu tạ ơn, trở lại lãnh chức Thượng thư bộ Lại và bộ Lễ. Nhưng mới được hơn mươi ngày, lại dâng biểu xin nghỉ 3 tháng về thăm nhà, vua Minh Mạng buộc lòng phải y cho. Tháng 10-1823, Trịnh Hoài Đức về tới Gia Định liệu việc nhà.

Tháng 3-1824, Trịnh Hoài Đức trở ra kinh, lại lãnh Lại bộ Thượng thư kiêm quản Lễ bộ sự vụ. Tháng 7 nhuận năm 1824, vua Minh Mạng khiến biên sửa Nguyễn triều Ngọc Điệp và Tôn Phả, Hoài Đức sung chức Tổng tài để điều khiển công việc. Tháng 11, bản Ngọc Điệp sửa xong, do Tổng tài Hoài Đức thượng tiến. Trong tháng 11, Trịnh Hoài Đức lại vâng mạng quyền lãnh công việc ty Thương Bạc. nhưng chẳng bao lâu, bệnh cũ trở lại.

Tháng 3-1825, năm Minh Mạng thứ 6, Trịnh Hoài Đức mất tại Quỳ Viên, hưởng thọ 61 tuổi.

Vua Minh Mạng tặng phong cho Trịnh Hoài Đức hàm Thái Bảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ, (trật Chánh nhất phẩm), đặt tên thụy là Văn Khác.

Trịnh Hoài Đức có hai người con, một người tên Như làm đến Lang trung thì mất, một người tên Cấn lấy công chúa làm Phò mã Nguyễn triều, chức quan Đô úy.


(1): Có tài liệu nói ông sinh năm 1764.

Related Images:

Gia Định Tam Gia: Niềm tự hào của một vùng đất

Gia Định Tam Gia

Trước khi vua Minh Mạng đặt Lục tỉnh Nam kỳ, tên Gia Định đã có. Vả lại, “Gia Định cũng là tên gọi chung đất Nam kỳ, như danh từ khác là đất Đồng Nai” (Theo Vương Hồng Sển; Tự vị tiếng Việt miền Nam; Nxb. Văn hóa; 1993; 371).

Năm 1689, vâng lệnh chúa Nguyễn, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược vào Nam, đã lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định. Tới năm 1800, Gia Định phủ được đổi làm Gia Định trấn. Và tới năm 1808, vua Gia Long đổi tên Gia Định trấn làm Gia Định thành. Tên Gia Định chỉ thực sự trở thành tên của một đơn vị hành chính cấp tỉnh từ năm 1833, khi vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành Lục tỉnh.

Nói dông dài như vậy để thấy những danh nhân như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định không nên bó buộc vào một địa phương nào cụ thể. Các ông dĩ nhiên phải sinh ra từ một nơi chốn nào đó, nhưng còn là những người tiêu biểu của cả vùng đất, thậm chí của cả quốc gia ở một thời đại.

Năm Mậu Thân 1788, chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại thành Gia Định, cho mở khoa thi để chọn nhân tài. Các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, vốn là bạn bè của nhau, cùng thi đỗ và được bổ làm chức Hàn lâm viện chế cáo, chuyên biên soạn sách.

Trong vòng năm mươi năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, ở Nam Bộ có ba nhà thơ tài danh nhất: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh và Lê Quang Định. Ba ông đã họp thành nhóm Gia Định Tam Gia, từ văn đàn của mình là Bình Dương thi xã.


Gia Định Tam Gia: Niềm tự hào của một vùng đấtTrịnh Hoài Đức

Trịnh Hoài Đức là nhà văn hóa lớn nhất miền Nam, cả cuộc đời gắn bó máu thịt với đất Đồng Nai – Gia Định. Mang trong mình hai dòng máu Việt – Hoa, nhưng Trấn Biên đã là quê hương ông từ thuở lọt lòng, năm Ất Dậu (1765).

Trịnh Hoài Đức xuất thân từ một gia đình khoa bảng. Cha ông tên là Trịnh Khánh, có tiếng văn hay chữ tốt. Trịnh Khánh làm quan chức Cháp canh tam trường cai đội, một chức vụ không lấy gì làm lớn.

Năm Trịnh Hoài Đức lên 10, ông Trịnh Khánh mất. Không thấy sử sách ghi cụ thể về gia cảnh, nhưng trong thơ sau này, Trịnh Hoài Đức tả ông đi nhiều nơi, được mẹ cho học chữ với các vị sư sãi. Điều đó chứng tỏ cuộc sống gia đình ông khó khăn, nhất là vào thời đó đang lúc loạn lạc.

Cuộc đời làm quan của Trịnh Hoài Đức thật vinh hiển, ít người sánh được. Nhưng ông không chỉ là vị quan to mà còn là nhà văn hóa lớn. Nổi bật trong văn chương của Trịnh Hoài Đức là tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước. Ông đã viết khá nhiều bài thơ về từng vùng đất như Trấn Biên, Gia Định, Hà Tiên … Quê hương, cuộc sống bình thường đã đi vào thơ văn của Trịnh Hoài Đức vừa ngọt ngào, thân thuộc vừa thiết tha, yêu thương.


Lê Quang Định

Lê Quang Định là một trong “Gia Định Tam Gia”, sinh năm 1759, mất năm 1813. Ông hiệu là Tấn Trai, tự là Tri Chỉ (nghĩa là biết dừng đúng lúc), quê ở Phú Vinh, Thừa Thiên. Cha ông từng giữ một chức quan nhỏ, mất khi đương chức. Lê Quang Định khi ấy còn nhỏ, theo anh vào đất Gia Định.

Vốn có tư chất thông minh, từ nhỏ đã giỏi văn chương, hội họa, được thầy lang Hoàng Đức Thành yêu thương và gả con gái cho.

Lê Quang Định may mắn được học thầy Võ Trường Toản và kết bạn thân với Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh.

Trong nhóm Bình Dương thi xã, Lê Quang Định không chỉ giỏi thơ văn, mà còn nổi tiếng có tài vẽ đẹp, viết chữ đạp. Lê Quang Định có tập thơ riêng mang tên Hoa nguyên thi thảo.

Khi nói tới sự nghiệp của Lê Quang Định, không thể không kể đến công trình quan trọng của ông là bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. Đây là bộ địa chí toàn quốc đầu tiên của triều Nguyễn được Lê Quang Định biên soạn xong năm 1806, theo chiếu chỉ của vua Gia Long.


Ngô Nhơn Tĩnh

Cho đến bây giờ người ta vẫn chưa rõ Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm nào. Chỉ biết ông tự là Nhữ Sơn, gốc người Quảng Tây, giống cảnh ngộ Trịnh Hoài Đức, tổ phụ chạy trốn triều Mãn Thanh sang cư trú ở Gia Định, thành người Việt.

Cùng với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh lập nên nhóm Bình Dương thi xã và trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất của vùng đất phương Nam thời bấy giờ.

Trong đời làm quan, Ngô Nhơn Tĩnh hai lần được cử đi sứ Trung Quốc (1789, 1802) và một lần đi sứ Chân Lạp (1807). Ông được tiếng là vị quan thanh liêm, chính trức, đã làm được nhiều việc có ích cho dân cho nước. Song có lẽ, do nguồn gốc xuất thân, sự gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân và nhất là mang tâm hồn giàu trắc ẩn của một nhà thơ, Ngô Nhơn Tĩnh luôn ưu thời mẫn thế.


Nguồn: Sưu tầm và biên soạn

Related Images: