Giới thiệu Tao đàn Chiêu Anh Các

Giới thiệu Tao đàn Chiêu Anh Các

Giới thiệu

Tao đàn Chiêu Anh Các, gọi tắt là Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tứ (1706-1780, Tổng trấn Hà Tiên từ năm 1735) làm Tao đàn nguyên soái. Chiêu Anh Các chính thức ra đời vào năm 1736 ở Hà Tiên (nay thuộc tỉnh Kiên Giang), Việt Nam.

Chiêu Anh Các là nơi thờ Khổng Tử và như tên gọi, là nơi chiêu tập các bậc hiền tài và giúp đỡ (nhà Nghĩa học) cho những thiếu niên ưu tú theo đuổi nghiệp văn, nghiệp võ.


Các ghi chép về Tao đàn Chiêu Anh Các

Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn viết rằng Chiêu Anh các có 32 vị, ngoài Mạc Thiên Tứ chủ xướng nên Hà Tiên thập vịnh, còn có:

  • 25 nhà thơ người Hoa (Trung Quốc) là: Chu Phác, Ngô Chi Hãn, Lý Nhân Trường, Đơn Bỉnh Ngự, Vương Sưởng, Phương Minh, Lộ Phùng Cát, Từ Hiệp Phỉ, Lâm Duy Tắc, Từ Huyễn, Lâm Kỳ Nhiên, Trần Duy Đức, Từ Đăng Cơ, Thang Ngọc Sùng, Trần Tự Phát, Hoàng Kỳ Trân, Chu Cảnh Dương, Trần Thụy Phượng, Trần Tự Lan, Trần Dược Uyên, Trần Minh Hạ, Trần Diễn Tứ, Tôn Thiên Trân, Tôn Thiên Thụy, Tôn Quý Mậu,
  • 6 vị người Việt (Việt Nam) là: Trịnh Liên Sơn, Phan Thiên Quảng, Nguyễn Nghi, Trần Trinh, Đặng Minh Bản và Mạc Triều Đán.

31 vị sau viết 120 bài thơ họa lại Hà Tiên thập vịnh

Theo thi sĩ Đông Hồ, người có nhiều năm nghiên cứu và gắn bó với Hà Tiên đã cho biết:

“Đời Hồng Đức có lập tao đàn là một tổ chức văn học rất hoàn bị. Cách tổ chức Chiêu Anh Các cũng gần y như vậy. Nhân vật tao đàn Hồng Đức có Nhị thập bát tú, Chiêu Anh các có số người nhiều hơn. Có sách chép 32, nhưng có sách chép 36. Số 36 vị này gọi là tam thập lục kiệt, tức 36 vị kiệt sĩ, mà trong số đó có thập bát anh là 18 vị anh hoa xuất chúng, nên có câu thơ rằng:

Tài hoa lâm lập trú Phương thành

Nam Bắc hàm vân thập bát anh.

Dịch nghĩa:

Tài hoa ở Phương thành (Hà Tiên) đông như rừng

Việt Nam và Trung Quốc đều xưng tụng 18 vị anh tài.

Trong số đông đảo đó, có người ở tại Hà Tiên; có người từ Thuận Quảng (tức Thuận Hóa và Quảng Nam), Gia Định; có những người ở tận Trung Hoa, phần nhiều là người hai tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến. Tất cả họ vì hâm mộ thanh danh Chiêu Anh Các, cảm mến phong lưu tài vận đất Hà Tiên mà tìm đến”.


Tác phẩm

Hiện chỉ mới biết được:

  • Hà Tiên thập vịnh: Đây là tập thơ đầu tiên được Tao đàn này cho khắc bản in tại Hà Tiên năm 1737, do chính chủ soái Tao đàn là Mạc Thiên Tứ xướng thơ & đề tựa. Trần Trí Khải & Dư Tích Thuần viết lời bạt. Tác phẩm có cả thảy 320 bài thơ chữ Hán của 32 tác giả, vịnh mười cảnh đẹp của Hà Tiên. Năm 1755, Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) vào Nam giao thiệp với họ Mạc, đã họa thêm 10 bài nữa, nhưng vì làm sau nên không có trong tập.
  • Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh: gồm 10 bài đoạn thơ chữ Nôm vịnh mười cảnh đẹp của Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ sáng tác. Tập thơ dài 422 câu liên ngâm vừa lục bát gián thất vừa Đường luật bát cú, liên hành. Chính tác phẩm này đã gợi ý cho Nguyễn Cư Trinh sáng tác “Quảng Ngãi thập nhị cảnh”.
  • Thụ Đức Hiên tứ cảnh (hay Tứ cảnh hồi văn Thụ Đức Hiên): theo Lê Quý Đôn thì có 88 bài thơ của 32 tác giả, họa 4 bài thơ hồi văn vịnh phong cảnh bốn mùa của Hà Tiên do Mạc Thiên Tích sáng tác. Sách đã được khắc in, trong khoảng thời gian với Hà Tiên thập vịnh, hiện đã thất lạc chỉ còn 9 bài in trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.
  • Minh bột di ngư: gồm bài phú “Lư Khê nhàn điếu” hơn trăm câu và 32 bài thơ luật Đường bằng chữ Hán. Tập thơ được Trịnh Hoài Đức phát hiện, rồi cho khắc in. Đây là tập thi họa rất quý, chẳng những về phương diện sử liệu, văn học, còn quý về mỹ thuật, về bút tích của các danh bút trong nhóm Chiêu Anh Các.

Ngoài ra, theo Trịnh Hoài Đức, trong bài Tân tự được viết năm Minh Mạng thứ hai (1821) in trong tập Minh bột di ngư, thì Chiêu Anh Các còn có các bộ sách: Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Châu Thị Trinh liệt tặng ngôn, Thi truyện tặng Lưu tiết phụ và Thi thảo cách ngôn vị tập.


Thụ Đức Hiên

Theo Mạc thị gia phả, thì năm 1736, Mạc Thiên Tích “dựng gác Chiêu Anh để thờ Tiên thánh (thờ Khổng Tử) và làm nơi đón tiếp hiền tài. Cuối bài tựa đề cho tập Hà Tiên thập vịnh, Mạc Thiên Tứ cho biết “Thượng tuần của tháng cuối mùa hạ, năm Đinh Tỵ (1737)” ông đã “tự tay viết bài tựa ở Thụ Đức Hiên” (thư phòng ở đền thờ Thánh Đức, tức Khổng Tử).

Dù vẫn còn có người tỏ ý nghi ngờ, có hay không ngôi nhà riêng dành cho Chiêu Anh Các. Nhưng theo nghiên cứu của Trương Minh Đạt (người Hà Tiên), nhờ 9 bài thơ trong tập Thụ Đức Hên tứ cảnh còn sót lại (chép trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, nhất là bài thơ của ông Trần Diệu Liên, người Trung Quốc, đã mô tả khá rõ vị trí của tòa nhà). Nhờ những phế tích vẫn còn ở chùa Phù Dung, ông Đạt đã khẳng định vị trí “Thụ Đức Hiên tại Đền Khổng Tử xưa, trải qua bao biến cố, nay chính là nơi tọa lạc của chùa Phù Dung”.


Nguồn: Sưu tầm từ nhiều nguồn sách và tài liệu điện tử

Related Images:

 

Võ Trường Toản – Nhà văn hóa bậc thầy đất Gia Định xưa

Tiểu sử

Võ Trường Toản là bậc cự Nho, người thầy tiêu biểu của đất Gia Định. Có thể nói ông là người Thầy đầu tiên đã đào tạo nên một loạt các nho sĩ danh tiếng của đất Gia Định xưa. Tuy nhiên các tư liệu nghiên cứu về ông rất hiếm mà lại không thống nhất nhau về nhiều điểm. Cho tới nay hầu như chứng cứ duy nhất đầy đủ, chính xác về tiểu sử Võ Trường Toản thì không đâu bằng tấm bi chí do quan Kinh lược sứ Phan Thanh Giản viết về cuộc đời Võ xử sĩ, hiện được đặt trước mộ phần của vụ ở Ba Tri, Bến Tre.

Tấm bi chí này bằng đá cẩm thạch trắng, kích thước, chữ Nho đục lõm (âm khắc), nét còn rất sắc và thật hết sức may mắn, không hư mẻ một chữ nào.

Phan Thanh Giản soạn bài minh này vào ngày 28 tháng 3 năm Đinh Mão (1867), trước khi ông tuẫn tiết mấy tháng.

Bản dịch dưới là của Huỳnh Minh, Gia Định xưa (Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin in lại năm 2006, tr. 151). Có tham khảo thêm bản dịch của Ca Văn Thỉnh in trong sách Võ Trường Toản của Nam Xuân Thọ (Tân Việt, Sài Gòn, 1957, tr. 10).


Võ Trường Toản – Nhà văn hóa bậc thầy đất Gia Định xưa

Văn bia không ghi ngày tháng năm sinh của cụ Võ.

“Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản. Đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Quảng Đức), hoặc nói người Bình Dương (Gia Định), trước thọ nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật có thuật nghiệp thâm uyên thông đạt.

Xảy hồi loạn Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn mở trường dạy học, thường học trò đến mấy trăm. Ông Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Thứ đến là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tịnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc đều ẩn dật. Ngoài ra không kể hết được…Các ông ấy đều gặp hồi phong vận, thời trung hưng triều Gia Long đức bậc tôi hiền, có người hoặc sát thân để làm nên điều nhân, hoặc quên mình để trọng tiết nghĩa, thảy đều nên công nghiệp lớn…

Lúc ngự vào Gia Định, đức Thế Tổ Cao Hoàng đế hằng triệu tiên sinh tới đối ứng…Tiên sinh không hứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận, trau dồi về sau”.


Hay tin ông mất, chúa Nguyễn cảm mến, tiếc thương, ban từ hiệu là “Gia Ðịnh xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh” (nghĩa là bậc xử sĩ Võ tiên sinh, người Gia Định, sùng về đạo đức) để ghi vào mộ.

Để tưởng nhớ công đức của thầy (như cha), Vua Gia Long cũng có đôi liễn tưởng niệm:

Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong”

Dịch nghĩa:

Lúc sống, dạy dỗ được người, không con mà như có

Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn.


Tác phẩm

Cụ Võ Trường Toản là một bực cự Nho thì hẳn ông có nhiều trước tác và sách vở để lại như các vị khác. Nhưng không biết vì lý do gì mà ngày nay chỉ lưu lại duy nhất một bài phú viết bằng chữ Nôm với tựa đề là Hoài Cổ Phú.

Bài Hoài Cổ Phú gồm 24 câu, đối từng đôi.

1.

Rỡ rỡ cúc ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo;
Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời.

2.

Cho hay vực thẳm nên cồn;
Khá biết gò cao hoá bể.

3.

Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy mươi năm;
Đò tạo hoá đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.

4.

Nhấp nháy ngọn đèn trong kiếng;
Lênh đênh bóng nguyệt dòng sông.

5.

Đường Ngu ấp tổn rượu ba chung, dường say dường tỉnh;
Thang Võ chinh tru cờ một cuộc, thoạt đặng thoạt thua.

6.

Của có không nào khác đóm mây;
Người tan hiệp dường như bọt nước.

7.

Lánh non Thú cam bề ngã tử hai con Cô Trúc đã về đâu ?
Luyện linh đan lo chước trường sinh, bốn lão Thương san đà bặt dấu!

8.

Mộng tàn nửa gối, bướm Trang Chu giấc hởi mơ màng;
Xuân lụn mấy canh, quyên Thục đế tiếng còn khắc khoải.

9.

Tha thiết bấy một gò hoàng nhưỡng, ngọc lấp hương chôn;
Ảo não thay! mấy cụm bạch vân, mưa sầu gió thảm.

10.

Ngựa trên ải một may một rủi;
Hươu dưới Tần bên có bên không.

11.

Hán Võ ngọc đường người ngọc nọ xưa đà theo gió;
Thạch Sùng kim ốc của tiền xưa nay đã lấp sương.

12.

Lao xao cõi trần ai, trường hoan lạc gẫm không mấy lúc;
Thắm thiết cơn mộng ảo, đoạn biệt ly há dễ bao lâu.

13.

Nghìn năm hồn phách Hán anh hùng, hồn phách mất người kia cũng mất;
Muôn dặm nước non Đường thế võ, nước non còn đời ấy đâu còn.

14.

Thương hỡi thương! huyền quản cung Tần, chim làm tổ tiếng kêu văng vẳng;
Tiếc ỷ tiếc! y quan đời Tấn, biển nên cồn cỏ mọc xanh xanh.

15.
Cung Tuỳ xưa chim nói líu lo, mấy độ xuân về hoa sái luỵ;
Đài Ngô trước hươu nằm ngả ngớn, đòi ngàn sương ngọn cỏ đeo sầu.

16.
Ô giang đêm thẳm hé trăng mành, quạnh quẽ vó chùng họ Hạng;
Cai Hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu.

17.
Đài vắng Nghiêm lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết;
Thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken mù.

18.
Cho hay dời đổi ấy lẽ thường;
Mới biết thảo ngay là nghĩa cả.

19.
Luỵ rơi non Lịch, Đại Thuấn từng dời tính hai thân;
Sương lọt áo bô, Tử Khiên lại trọn niềm một thảo…

20.
Tôn khóc măng, Tường nằm giá, nằn nằn lo giữ đạo con;
Tích dấu quít, Cự chôn con, nắm nắm đua đền nghĩa mẹ.

21.
Trước đền Trụ mổ gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia;
Dưới thành Ngô treo mắt đôi tròng, nghìn năm hãy người đều nhởm gáy.

22.
Tám trăm dặm xông pha ải Bắc, thương họ Hàn chói lói lòng dân;
Mười chín năm giữ một niềm Tây, cảm ông Võ phơ phơ đầu bạc.

23.
Cật Võ Mục nhuộm thanh bốn chữ, tấm trung thành đã thấu trời xanh;
Áo Thiên Tường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đỏ.

24.
Trời món đất già danh hỡi rạng, luỵ non Ngưu nghĩ cũng sụt sùi;
Biển khô đá rã tiết nào phai, sử họ Mã chép còn tỏ rõ.


(Nguồn: trích từ sách Thành ngữ Điển tích Danh nhân Từ điển, tác giả Trịnh Văn Thanh).

Related Images:

 

Gia Định Tam Gia: Niềm tự hào của một vùng đất

Gia Định Tam Gia

Trước khi vua Minh Mạng đặt Lục tỉnh Nam kỳ, tên Gia Định đã có. Vả lại, “Gia Định cũng là tên gọi chung đất Nam kỳ, như danh từ khác là đất Đồng Nai” (Theo Vương Hồng Sển; Tự vị tiếng Việt miền Nam; Nxb. Văn hóa; 1993; 371).

Năm 1689, vâng lệnh chúa Nguyễn, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược vào Nam, đã lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định. Tới năm 1800, Gia Định phủ được đổi làm Gia Định trấn. Và tới năm 1808, vua Gia Long đổi tên Gia Định trấn làm Gia Định thành. Tên Gia Định chỉ thực sự trở thành tên của một đơn vị hành chính cấp tỉnh từ năm 1833, khi vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành Lục tỉnh.

Nói dông dài như vậy để thấy những danh nhân như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định không nên bó buộc vào một địa phương nào cụ thể. Các ông dĩ nhiên phải sinh ra từ một nơi chốn nào đó, nhưng còn là những người tiêu biểu của cả vùng đất, thậm chí của cả quốc gia ở một thời đại.

Năm Mậu Thân 1788, chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại thành Gia Định, cho mở khoa thi để chọn nhân tài. Các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, vốn là bạn bè của nhau, cùng thi đỗ và được bổ làm chức Hàn lâm viện chế cáo, chuyên biên soạn sách.

Trong vòng năm mươi năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, ở Nam Bộ có ba nhà thơ tài danh nhất: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh và Lê Quang Định. Ba ông đã họp thành nhóm Gia Định Tam Gia, từ văn đàn của mình là Bình Dương thi xã.


Gia Định Tam Gia: Niềm tự hào của một vùng đấtTrịnh Hoài Đức

Trịnh Hoài Đức là nhà văn hóa lớn nhất miền Nam, cả cuộc đời gắn bó máu thịt với đất Đồng Nai – Gia Định. Mang trong mình hai dòng máu Việt – Hoa, nhưng Trấn Biên đã là quê hương ông từ thuở lọt lòng, năm Ất Dậu (1765).

Trịnh Hoài Đức xuất thân từ một gia đình khoa bảng. Cha ông tên là Trịnh Khánh, có tiếng văn hay chữ tốt. Trịnh Khánh làm quan chức Cháp canh tam trường cai đội, một chức vụ không lấy gì làm lớn.

Năm Trịnh Hoài Đức lên 10, ông Trịnh Khánh mất. Không thấy sử sách ghi cụ thể về gia cảnh, nhưng trong thơ sau này, Trịnh Hoài Đức tả ông đi nhiều nơi, được mẹ cho học chữ với các vị sư sãi. Điều đó chứng tỏ cuộc sống gia đình ông khó khăn, nhất là vào thời đó đang lúc loạn lạc.

Cuộc đời làm quan của Trịnh Hoài Đức thật vinh hiển, ít người sánh được. Nhưng ông không chỉ là vị quan to mà còn là nhà văn hóa lớn. Nổi bật trong văn chương của Trịnh Hoài Đức là tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước. Ông đã viết khá nhiều bài thơ về từng vùng đất như Trấn Biên, Gia Định, Hà Tiên … Quê hương, cuộc sống bình thường đã đi vào thơ văn của Trịnh Hoài Đức vừa ngọt ngào, thân thuộc vừa thiết tha, yêu thương.


Lê Quang Định

Lê Quang Định là một trong “Gia Định Tam Gia”, sinh năm 1759, mất năm 1813. Ông hiệu là Tấn Trai, tự là Tri Chỉ (nghĩa là biết dừng đúng lúc), quê ở Phú Vinh, Thừa Thiên. Cha ông từng giữ một chức quan nhỏ, mất khi đương chức. Lê Quang Định khi ấy còn nhỏ, theo anh vào đất Gia Định.

Vốn có tư chất thông minh, từ nhỏ đã giỏi văn chương, hội họa, được thầy lang Hoàng Đức Thành yêu thương và gả con gái cho.

Lê Quang Định may mắn được học thầy Võ Trường Toản và kết bạn thân với Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh.

Trong nhóm Bình Dương thi xã, Lê Quang Định không chỉ giỏi thơ văn, mà còn nổi tiếng có tài vẽ đẹp, viết chữ đạp. Lê Quang Định có tập thơ riêng mang tên Hoa nguyên thi thảo.

Khi nói tới sự nghiệp của Lê Quang Định, không thể không kể đến công trình quan trọng của ông là bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. Đây là bộ địa chí toàn quốc đầu tiên của triều Nguyễn được Lê Quang Định biên soạn xong năm 1806, theo chiếu chỉ của vua Gia Long.


Ngô Nhơn Tĩnh

Cho đến bây giờ người ta vẫn chưa rõ Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm nào. Chỉ biết ông tự là Nhữ Sơn, gốc người Quảng Tây, giống cảnh ngộ Trịnh Hoài Đức, tổ phụ chạy trốn triều Mãn Thanh sang cư trú ở Gia Định, thành người Việt.

Cùng với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh lập nên nhóm Bình Dương thi xã và trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất của vùng đất phương Nam thời bấy giờ.

Trong đời làm quan, Ngô Nhơn Tĩnh hai lần được cử đi sứ Trung Quốc (1789, 1802) và một lần đi sứ Chân Lạp (1807). Ông được tiếng là vị quan thanh liêm, chính trức, đã làm được nhiều việc có ích cho dân cho nước. Song có lẽ, do nguồn gốc xuất thân, sự gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân và nhất là mang tâm hồn giàu trắc ẩn của một nhà thơ, Ngô Nhơn Tĩnh luôn ưu thời mẫn thế.


Nguồn: Sưu tầm và biên soạn

Related Images:

 

Các quán cà phê đầu tiên ở Sài Gòn

Các quán cà phê đầu tiên ở Sài Gòn
Quán cà phê đầu tiên ở Sài Gòn

Quán cà phê đầu tiên ở Sài Gòn

Các quán cà phê ở Sài Gòn xuất hiện rất sớm, ngay từ khi Pháp chiếm Sài Gòn chứ không phải đợi đến khi cây cà phê được đưa vào Việt Nam. Vì tại Pháp, quán cà phê xuất hiện đầu tiên tại Marseille gần 200 năm trước (1654), và quán cà phê Divan rất được khách lui tới, đã đóng cửa vào đúng năm thành Gia Định bị Pháp chiếm (1859). Mặt khác, sự hiện diện của đông đảo binh lính cần phải cấp dưỡng mà khẩu phần cà phê sáng là cần thiết và bắt buộc (hõ còn mang cả nệm chở trên lưng lừa cho các sĩ quan nằm trong các cuộc hành quân nữa!).

Cái câu nói là: “Để thành lập một thuộc địa, người Anh bắt đầu bằng túi tiến, người Tây Ban Nha bằng một nhà thờ, người Pháp bằng một quán cà phê ….” dẫn bởi Lemire trong cuốn La Cochinchine Francaise en 1878 (Xứ Nam Kỳ năm 1878) có thể được hiểu ám chỉ tính thích ăn ngon của người Pháp so với tinh thần thực tế của người Anh và sự mộ đạo của người Tây Ban Nha. Tuy thực sự người Pháp đã bắt đầu bằng lập một bệnh viện để chữa trị các thương binh của họ, nhưng đồng thời từ các căn tin trong quân đội, đã có các quán cà phê của tư nhân xuất hiện trước 1851. Như tài liệu xưa có ghi chép là trong số những công trình xây dựng đầu tiên có một quán cà phê cùng với một nhà thờ nhỏ được khánh thành ngày 15 tháng 8 năm 1860.


Có 2 quán cà phê mà tên hiệu và địa chỉ được nói đến trong các tờ Courrier de Saigon (Người đưa tin Sài Gòn), Illustration (Báo ảnh) và trong Annam de la Cochinchine (Niên giám Nam Kỳ), tất cả đều ra trong năm 1864. Đó là quán cà phê Lyon (Café Lyonnais) và quán cà phê Pari (Café de Paris). Hai quán cà phê này tất phải có lâu trước năm 1864, vì như ta biết, người Pháp chỉ cho là họ vững vàng trong việc chiếm Sài Gòn kể từ năm 1862 sau khi hạ được đồn Kỳ Hòa và tuy bị bao vây họ vẫn mở mang lần thành phố nhờ làm chủ được trên sông Sài Gòn đến Vũng Tàu, sông Soài Rạp, sông Vàm Cỏ lớn.


Quán Café Lyonnais, theo tờ Illustration ra ngày 23.4.1864 thì nằm ở tại đường Gouvernement gần ụ chiếc chiến hạm Primauguet. Trong tài liệu về tên đường chỉ có thấy nói đến Rue du Gouverneur (đường Thống Đốc = Lagrandière = Gia Long = Lý Tự Trọng). Nhưng đường này còn bị năn cách sông Sài Gòn bởi đường Lê Thánh Tông nên nếu có tên đường Gouvernement (Chính phủ) thì có lẽ xưa kia lúc mới đánh chiếm Sài Gòn. Và theo hình ảnh và bản đồ thì đó chỉ có teh63 là đường Ngô Văn Năm hiện nay (ngõ hẹp Primauguet và đường Hải quân cũ) đâm thẳng ra ụ chiếc Primauguet mà R. de Genouilly đóng trên đó lúc đánh SÀi Gòn và D’ Ariès cũng đặt văn phòng trên tàu.

Quán cà phê này không còn thấy ghi trong tập Thời sự cẩm nang Vade mecum 1905. Có lẽ nó được thay thế bởi quán cà phê Café de la Marine (Cà phê hải quân) dễ lui tới hơn và cũng ở gần đó tại số 3 -5 Công trường Rigault de Genouilly (Công viên Du lịch bến Bạch Đằng ngày nay), bên cạnh đường Tôn Đức Thắng.

Còn về quán Café de Paris, theo Niên giám Nam Kỳ, năm 1864 trong đó có Câu lạc bộ Thương mại (Cercle commercial), ở tại bến sông, góc đường số 16 (Catinat = Tự Do = Đồng Khởi) mà chủ nhân là ông Bonnerieux. Theo tờ Courrier de Saigon ra tháng 3 năm 1864, thì sứ bộ Phan Thanh Giản có ghé Sài Gòn trước khi về Huế để trình lên vua Tự Đức kết quả chuyến đi Pháp năm 1863 trong sứ mạng thương thuyết xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông đã nhượng cho Pháp và khi đó vào ngày 19, “Phan Thanh Giản và hai vị đồng sự không có lọng che và tiền hô hậu ủng như nghi lễ đã quá bộ đến thăm quán Café de Paris,  nơi đây họ có dịp gặp lại một số sĩ quan Pháp, một cách thăm viếng tế nhị những người mà họ còn chưa gặp ..” (Anthologie Franco – Indochinoise VI.49)

Quán cà phê này còn lưu lại dấu vết mãi đến năm 1905, ở tại đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) số 83, chủ nah6n tên là Vital.


Tác giả: Đỗ Văn Anh

Nguồn: capheannam.club

Related Images:

 

Cữ cà phê cuối năm cùng Công tử (Hay những phát hiện mới nhất về gia tộc Công tử Bạc Liêu)

Không dưng chiều cuối năm, tôi lại nhận được một cú phôn từ Bạc Liêu. Cứ ngỡ chuyện rối rắm công việc, hóa ra công tử Khánh rủ về quê ăn Tết. Lời mời bất chợt công thêm người nhắn lại là công tử Khánh nên vui. Một năm trước, công tử Khánh từng xuất hiện trên TNBNS Xuân năm con Cọp. Mọi người biết đến ông không chỉ vì ông gọi công tử Bạc Liêu bằng cậu mà công tử Khánh còn là một “hậu duệ” cuối cùng, xứng đáng với bao tật thói ăn chơi ngút trời.

Còn nhớ sau khi bài báo phát hành, ông đã đến nhà và hóm hỉnh bảo nhỏ: “Nói thiệt với cô chứ tui mà bằng cái lai nào so với ổng. Nói tới công tử Bạc Liêu là già trẻ lớn bé xứ này đều biết nói đến cậu Ba Huy. Tui ăn chơi cỡ nào rốt cục muôn đời cũng chỉ là cái bóng của ổng thôi”.

Tôi chợt phì cười nhưng rồi khi nhìn khóe miệng khinh mạn cộng với cung cách cầm ly cà phê hết sức trễ nải, quý phái lại nghĩ thầm: “Quái, cái ông công tử này đã ngoại lục tuần mà sao cứ như muốn trêu ngươi cùng thời gian”. Nhưng lý do để ông cất công tìm tôi trút bầu tâm sự lại là … đồ cổ trong gia tộc.

ông bảo, cách đây ngót 25 năm, trong một lần lên Đà Lạt săn thú, lão gia quản lý biệt thự của gia tộc Hội đồng Trạch có cậy ổng về hỏi cậu Ba Huy, cậu Hai Dinh về một cây kiếm cổ. Theo lão quản gia, cây kiếm đó là của “bà quốc mẫu” xứ Ba Lê tặng cho “quan 5 Trần Trinh Trạch”. Và công tử Khánh lại nheo nheo mắt bảo nhỏ:

– Bộn bạc đó cô.

Tôi gạt đi.

– Trời đất, từng ấy thời gian qua đi rồi. Bộ không bao giờ ông nghĩ đó chỉ là chuyện phù du. Nói chuyện khác nghe chơi đi ông Khánh.


Cội nguồn gia sản công tử Bạc Liêu

– Cô biết không, gia sản ông ngoại tôi (Hội đồng Trạch, cha ruột công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy – NV) thoạt đầu không phải do bóc lột tá điền như người ta nghĩ đâu. Tui ở trong nhà, tui biết rành lắm.

Dù đã lờ mờ biết nhưng tôi vẫn bất ngờ khi nghe ông Khánh tâm sự. Hóa ra, gia sản ông Hội đồng vẫn không bằng một lai nào khi so với cha vợ – bá hộ Bi. Ông bá hộ Bi có đến 7 vợ và trên 10 chiếc ghe chài – một gia sản lớn lao vào lúc bấy giờ.

Hồi môn của các cô con gái đủ để người ta khỏi phải bươn chải kiếm sống thêm. Thế nhưng, các ông con rể của bá hộ thấy đồng tiền sao kiếm dễ quá nên cứ lao vào hút sách, bài bạc đến độ vầm cố lần hồi.

Riêng ông con rể Trần Trinh Trạch không chỉ biết hưởng mà còn làm cho của hồi môn của vợ sinh sôi, nảy nở. Nhiều ruộng vườn mà các anh em cột chèo cầm cố rốt cùng cũng lọt vào tay ông.

Theo trí nhớ của dòng tộc, thì ông Hội có đến 69 ngàn mẫu ruộng, trên 10 cơ sở muối, toàn bộ 2 dãy phố lầu ở Bạc Liêu, một dãy phố lầu ở đường Gia Long, Sài Gòn cũ. Riêng bunggalo mà trước là nhà cầm đồ cộng với hãng rượu ven sông là gia sản các con rể bá hộ Bi cầm cố.

Khi thấy tôi thắc mắc, bộ ông hội đồng hồi đó là tay tổ cờ bạc hay sao mà dám rủ rê các địa chủ đánh bạc để lấy đất, lấy ruộng một cách hợp pháp.

Công tử Khánh cười ngất và bảo:

– Tui nói sợ cô không tin, chớ Băng bạc Chà hồi đó phải tán gia bại sản vì rủ ông ngoại tôi đánh bạc. Vài năm sau đồng tiền có giá, ông ngoại tôi biết ơn Băng bạc Chà hết biết (!).

Nhưng quả là ông trời có luật bù trừ, gia sản nhứt đố, đổ vách chớ nào mấy người được hưởng. Giàu cỡ đó, mua gan rồng còn được vậy mà hễ bà hội đồng Trạch đụng tới một miếng thịt, một đùi gà là ói đến mật xanh, mật vàng. Tư niên mãn mùa bà chỉ ăn cơm với cá kho quẹt thật mặn hoặc ba khía.

Dòng tộc lén lút truyền miệng rằng bà hội đồng là thần tài giữ của cho gia tộc Trần Trinh. Riêng ông lớn Trạch hồi đó nhất luận thế nào cũng phải ăn một mâm riêng, đi cầu thang riêng. Nhưng chuyện ăn mặc cũng rất đơn giản, không đi ra ngoài thì thôi, ở nhà ông vận độc chiếc áo túi hàm ếch màu trắng.

Có lúc lên hầu ông ngoại, công tử Khánh nhìn nhầm ông hội đồng là chú Trội – vị quản gia thân tín nhất của gia tộc. Và ngay cả cậu ba Trần Trinh Huy lúc đã ở Sài Thành hoa lệ, tháng nào cũng mướn dàn nhạc sống về để lấy le với tiếng hát á phiện Thanh Thúy, mở tiệc Tây liên miên cũng chỉ khoái về quê để được ăn ba khía.

Cữ cà phê cuối năm cùng Công tử (Hay những phát hiện mới nhất về gia tộc Công tử Bạc Liêu)

Ông Khánh còn nhớ, hồi đó nhà công tử Bạc Liêu ở gần nhà Phó Tổng thống chế độ cũ Nguyễn Ngọc Thơ ở miệt Phú Nhuận. Ai đến nhà cậu Ba chơi đều “hưởng xái” được lính bên phủ Phó Tổng thống xét đồ. Muôn lần như một, mỗi khi xét giỏ ông Khánh, thấy mắm ba khía tụi lính gác đều vặn vẹo:

– Mẹ, công tử thứ thiệt gì mà ăn đồ thúi vậy. Bộ hết chuyện chơi ngông hả?

Ông Khánh cười tủm tỉm bảo:

– Cậu Ba tui mướn Tây nấu ăn để giựt le, để có cảm giác sai dân Tây cho sướng đời, chớ ổng ham hố gì ba cái bánh lạt, bơ nhạt. mà tui nói thiệt cô nghe chơi nghen, ổng lấy vợ Tây cho vui vậy, chớ có thấy ổng bả ở chung được mấy ngày .. (!).


Về hai đám tang “danh tiếng” nhất xứ lục tỉnh và lời nguyền của thầy phong thủy

Nhâm nhi xong ly cà phê, công tử Khánh đột ngột cho tôi hay đến kỳ Thanh minh năm tới bà vợ nhỏ công tử Bạc Liêu – sẽ về Bạc Liêu thăm nom lại mồ mả của dòng tộc bên chồng.

– Hồi đó, cậu Ba tôi ở Sài Gòn còn bả đang bán bánh mì ở đường Gia Long mới 17 tuổi. Mợ Ba tui hồi con gái đẹp lắm. Mà hổng đẹp cậu Ba đâu có bỏ ra 50 ngàn đồng bạc Đông Dương để mua.

Tiếng là Mợ nhưng tuổi của mợ út cũng chỉ xấp xỉ tuổi thằng cháu trời đánh – như lời công tử Khánh bảo.

Mỗi lần về Bạc Liêu, bà hay rủ công tử Khánh giăng một cái mùng thật rộng ngay giữa nhà để rồi cả mợ, cả cháu, cả cậu ngủ chung cho .. đỡ sợ ma 9!).

Ông hội đồng Trạch mất năm 1942 tại Sài Gòn vì bệnh suyễn. Lúc đó, cậu Tám Bò – Trần Trinh Khương sống bên Pháp đã về Việt Nam. Không có tiếng chơi ngông bằng ông anh Ba Huy, nhưng để “xứng mặt” cậu Tám cũng đã nghĩ đến một chiêu khoe mẽ độc đáo.

Một chiếc Chevollet được điều đến và ông hội đồng được đeo kiếng đen đặt ngồi ngay ngắn trong xe. Khi về đến địa phận Bạc Liêu, tá điền hai bên đường cứ cúi đầu cung kính vì ngỡ .. ông hội đồng đi thăm ruộng.

Đến khi gia tộc phát tang mọi người mới bật ngửa. Đến nay, thời gian qua đi khá lâu nên dân cố cựu Bạc Liêu không còn nhớ rõ chi tiết. Người thì bảo xác ông hội đồng quàn 1 tháng, kẻ thì bảo 7 ngày. Nhưng ai cũng nhớ, người đi đưa đám đông vô số kể. Khúc đầu dòng người đưa tiễn về đến Cái Dầy, Vĩnh Lợi; khúc đuôi vẫn còn loanh quanh trong khu phố cố. Tôi trộm nghĩ, có đến 5 cây số quốc lộ chớ chẳng chơi (?). Trâu, bò, gà, vịt chết la liệt lội nước hột é đã phải quậy bằng mái dầm để la liệt quanh nhà. Tá điền các nơi về ăn nhậu thỏa thích 7 ngày 7 đêm.

Nhưng đám ma ông hội đồng thấy vậy vẫn không danh tiếng bằng đám ma bà hội đồng 5 năm sau đó. Chuyện thì hơi dài dòng, nhưng là vầy. Sau khi ông hội đồng mất, thấy cảnh nhà trống vắng, đơn chiếc bà hội đồng qua Pháp ở với cô cháu gái tên là Hai Lưỡng. Cô Hai này trước là vợ một viên quan cận thần của vua Bảo Đại nhưng sau ly dị qua Pháp làm vợ một ông thị trưởng. Chẳng may, thưởng ngoạn cảnh hoa lệ phố phường Ba Lê không bao lâu bà hội đồng qua đời.

Và theo những người còn lại trong gia tộc, viên thị trưởng nọ đã đặt một quan tài có nắp bằng kính để tỏ lòng hiếu thảo với ngoại vợ và còm-măng hẳn một chiếc phi cơ chở quan tài về Việt Nam (!).

Tiếng đồn cón nhanh hơn tốc độ phi cơ. Khi đưa được quan tài về khu mộ gia ở Cái Dầy thì dân lục tỉnh đã đổ xô về vô kể. Họ muốn lần đầu tiên nhìn thấy một quan tài bằng kiếng. Và khuôn mặt bà hội đồng đã được dồi phấn rực rỡ hiển hiện sau khung kính quan tài càng làm cho dòng người đổ về thêm đông.

Tôi chợt hiểu, chuyện đến mức đó thì việc chụp ảnh, hay quay phim lúc bấy giờ nào có khó khăn gì với gia tộc công tử Bạc Liêu.

Chợt công tử Khánh trầm giọng bảo:

– Phải hồi đó, các cậu tôi nge lời ông thầy phong thủy giờ đâu đến nỗi.

Trời đất, thêm một nhân vật lạ hoắc nào đây – tôi nhủ thầm. Cũng theo lời ông Khánh, lúc chọn đất để chôn cất, gia tộc có rước về một ông thầy phong thủy nghe đâu danh tiếng nhất xứ Sài Gòn Chợ Lớn.

Nhìn trước, nhìn sau, bấm quẻ thế nào ông thầy phán một câu:

– Tiếng ông hội đất đai lớn vậy nhưng không có chỗ chôn. Không cải số được. Phải chịch qua vài tấm đất ngay miếng đất hàm rồng, ráng nói khó với người ta để xin cho mình một công đất làm mộ gia. Còn hổng tin tui, tui kỳ hẹn nội trong 10 năm đổ lại không tán gia bại sản tui không làm người.

Dĩ nhiên, tin thì tin, nhưng trong gia tộc lại bàn tán chẳng lẽ điền đất cỡ đó lại phải xin một thẻo đất để chôn, tiếng tăm đồn đãi đến bao giờ mới hết. Vả lại, gia sản cỡ đó có nằm mơ cũng xài không hết, rồi lãi mẹ đẻ lãi con nói chi đến chuyện tán gia bại sản. Ngay cả chuyện cụ cố Ngô Đình Cẩn từ miền Trung đánh tiếng vào mua lại một chiếc sập gụ với giá .. 1 triệu bạc, các công tử còn không buồn trả lời, huống chi … Vậy là, các cậu công tử cho một chiếc xe đưa lão thầy về Chợ Lớn sớm cho … khuất mắt.

Ngay sau đó, một khu mộ gia sừng sững bằng đá hoa cương, cẩm thạch mọc lên. Lời nghiệm của lão phong thủy có ứng hay không thì chẳng biết. Có điều khu lăng mộ lộng lẫy kia lại là một dấu chấm hết cho một gia tộc lẫy lừng đang lần hồi lụn bại.

Ngoắc một chiếc xe lôi bằng cái búng tay điệu nghệ, công tử Khánh từ giã tôi không quên hạ giọng bảo:

– Cô đọc Trăm năm cô đơn của Mác-kết rồi phải không. Phả hệ Trần Trinh rối rắm, ly kỳ không kém đâu cô à. Bữa nào rảnh tui kể cho nghe.

Tôi há hốc miệng sửng sốt, nhưng chiếc xe lôi cọc cạch đạ khuất dạng. Tôi biết, tôi lại phải đi kiếm cái lão ngoan đồng này không chỉ một lần nữa trong đời.


Tác giả: Hồng Hạnh

Nguồn: capheannam.club

Related Images:

 

Tả quân Lê Văn Duyệt – Lược sử: 20 – Dật sự

Vài lời từ người đánh máy

Sách không có thông tin về năm xuất bản và sách có hai trang cuối “Cải chính” các lỗi in sai trong sách. Tôi đã sửa trực tiếp trong các bài viết.

Bản in gốc được chụp thành file pdf, bạn đọc có thể tham khảo.


Tả quân Lê Văn Duyệt - Lược sử: 20 – Dật sựTả quân Lê Văn Duyệt – Lược sử

Tác giả: Ngô Tất Tố

Xuất bản: Nhà in Mai Linh


20– Dật sự

Duyệt coi quân nghiêm ngặt, người nào hơi trái quân lệnh tức thì trị tội không hề khoan dong. Vậy mà đối với binh sỹ rất có ân tình, những kẻ đau ốm, bị thương, Duyệt săn sóc cẩn thận. Nhất là những ai chẳng may chết trận, Duyệt rất kính trọng và thương xót.

Trận đánh ở cửa biển Thi Nại, nhờ sự hăng hái, can đảm của Duyệt mà được đại thắng, nhưng tướng sỹ chết hại có đến hơn 600 người. Bình sanh Duyệt lấy trận đó làm đau nhất. Sau khi đất nước thống nhất, hằng năm, đến ngày mười sáu tháng giêng, Duyệt sai bầy lễ tam sanh cúng tế những người chết về trận ấy! khi cúng, Duyệt tự đốt nhang khấn khứa, khóc lóc thảm thiết.

Tánh Duyệt rất ưa hát bộ, mà ở Gia Định trước kia chưa có. Vì đất ấy mới mở mang được từ đời họ Nguyễn, lối hát ấy ở đường ngoài chưa truyền đến nơi. Khi làm Tổng trấn, Duyệt mới lập ra một gánh hát bộ riêng của mình để thỉnh thoảng hát chơi. Con hát của Duyệt luyện tập, đều là những tay đào kép tài giỏi, được vừa ý Duyệt. Lúc còn vua Gia Long, Duyệt hát suốt ngày suốt đêm. Đến hồi vua ấy tạ thế, triều đình cấm âm nhạc, Duyệt mới thôi hát.

Nam Kỳ có nghề hát bộ là tự bấy giờ.

Hồi Duyệt theo vua Gia Long ở đậu bên Xiêm, vua Xiêm đối đãi với vua tôi Duyệt không ra thế nào. Duyệt vẫn căm giận không quên. Lúc làm Tổng trấn Gia Định, Duyệt muốn kéo quân đánh Xiêm cho đỡ hờn, nên đã sắm sửa sẵn sàng.

Về mặt bộ, Duyệt có đắp một con đường lớn từ chợ Ông Lãnh qua Trặng Bàng lên Tây Ninh. Đó là Duyệt định sẽ theo đường ấy mà kéo quân lên Nam Vang.

Về mặt thủy, Duyệt khai một cái kênh lớn từ Châu Đốc đến Trà Lơn tức là kênh Vĩnh Tế, ý Duyệt muốn dùng kênh ấy để vận tải lương thực và thủy quân.

Về quân lính, Duyệt đã thao luyện được một cơ voi, một cơ cọp và mười tám cơ Tuyển Phong. Tuyển Phong là những binh có biết võ nghệ, mỗi cơ 10 vệ, mội vệ 10 đội, mỗi đội 50 người 91). Vậy là lúc ấy Duyệt đã có được một vạn người biết võ nghệ, còn lính khác không kể.

Khí giới lương thực Duyệt cũng dự bị được nhiều lắm rồi.

Chỉ chờ xin được mạng lệnh của vua Gia Long là kéo quân đi.

Đánh đùng một cái, vua Gia Long chết, thế là việc phải hoãn.

Từ lúc còn làm thái giám, đến lúc lên làm đại thướng Duyệt vẫn gần vua Gia Long luôn luôn. Vua Gia Long rất mến Duyệt, cho nên Duyệt cũng mến vua Gia Long. Lúc làm Tổng trấn Gia Định, nghe tin vua Gia Long bị bệnh, đòi Duyệt về triều, tức thì Duyệt đi luôn ba đêm, trạm ngựa chạy từ Sài Gòn về đến Huế mới hết sáu ngày, coi đó đủ thấy sức khỏe mạnh, tánh hăng hái nóng nẩy của Duyệt.

Sau khi hết tang vua Gia Long, Duyệt có dưng sớ lên vua Minh Mạng xin cho đem quân đánh Xiêm. Nhưng mà vua ấy không nghe, vì Ngài là ông vua Nhà Nho, không ưa việc chinh chiến. Người ta nói rằng: Lúc ấy vua Minh Mạng vẫn sợ Duyệt, tuy không bằng lòng cho Duyệt đánh Xiêm, nhưng cũng nói nhũn rằng: nhà vua xin ngài hãy đình lại, chứ không dám nói hẳn rằng không cho.

Theo như tục truyền thì Duyệt cũng hay tin quỉ thần.

Một đêm kia, Duyệt đem quân đi trong đường núi, bỗng có vài chục thú rừng lớn hằng con voi, nằm núp giữa đường. Đám quân đi trước, sợ hãi không dám lại. Duyệt cho đi hỏi, mới biết ở đó có miếu Ngọc Nương thiêng lắm. Duyệt liền khấn thầm mấy câu, giây lát đàn thú rừng ấy kéo nhau đi hết.

Ở phủ Quảng Ngãi có một giống cọp vằn đen làm hại cho nhân dân nhiều. Khi Duyệt dẹp mọi Thạch Bích sai quân đuổi hoài không được. Gần đó có miếu Trấn Bắc, thờ Bùi Tá Hán. Duyệt đem quân đóng ở miền ấy, rồi sai binh sỹ đóng một cái cũi rất lớn, đưa vào trong miếu, và khấn rằng: “Cọp làm hại dân, thần có trách nhiệm vào đó. Nếu thần có linh phải nộp cọp vào cũi này.”

Sáng mai ra đình, cọp đều nằm nép dưới miếu, cúi đầu rù rũ, không dám nh63y chạy gầm hét chi cả, mặc cho quân sỹ bắt bỏ vào cũi.

Có lần nhiều cọp ở truông ổ gà (Hóc Môn) kéo ra làng xóm dân cư quấy nhiễu. Quan huyện Bình Phong phi báo xuống Gia Định, Duyệt sai quân sỹ sửa soạn lên bắt. Tối hôm ấy, dân ở quanh truông nghe cọp gầm hét một hồi, rồi rủ nhau lội qua bưng Tầm Lạc mà tản tác mỗi con đi mỗi nơi. Từ đó trở đi, ở truông ổ gà không còn có tiếng cọp nữa (2).

Trước khi Duyệt mất, một hôm, trời không giông gió chi hết, cây cột cờ trên thành tự nhiên bị gẫy. Hơn một tháng sau, Duyệt đi ra thành, con voi của Duyệt vẫn cưỡi, thình lình nằm phục xuống đất, kêu rống rầm rĩ, đánh hoài không dậy. Duyệt phải đi ngựa, nhưng ngựa cũng không chịu đi. Duyệt lấy làm lạ, bảo với người nhà rằng: “Ta sẽ bị bệnh đến nơi”.

Chẳng bao lâu, quả nhiên Duyệt bị đau rồi mất.

Người ta còn nói lại nhiều chuyện nữa, nhưng đại khái cũng hoang đường như mấy chuyện trên đây. Đó cũng vì Duyệt là một người khác thường, cho nên thiên hạ mới dùng những việc khác thường mà nói thêm cho Duyệt. Sự đó không lạ gì.


(1): Theo Thoái thực ký văn.

(2): Theo Đại Nam chánh biên liệt truyện.

——- Hết ———-

Related Images: