Nguồn gốc địa danh Nam kỳ lục tỉnh xưa: Bà Rịa

Nguồn gốc địa danh Nam kỳ lục tỉnh xưa: Bà RịaĐịa danh Bà Rịa


1. Bà Rịa – Xưa là nước Bà Lợi, Bà Lỵ, Bà Lịa

Lâu nay, có nhiều cách giải thích khác nhau về địa danh Bà Rịa. Một hướng nghiên cứu dựa vào thư tịch cổ, giải thích địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ vương quốc Bà Ly, Bà Lịa, Bà Lợi xưa. Trịnh Hoài Đức, một học giả hàng đầu nghiên cứu về lục tỉnh Nam Kỳ đã viết:

“Bà Rịa là ở đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: Cơm Nai – Rịa cà Ri – Rang là lấy xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ cũng ở vào trong đó.

Đất này dựa lưng vào núi, quay mặt ra biển, rừng rậm trên cao,… vẫn là địa hạt xung yếu thứ nhất …”

Tân Đường thư nói: “Bà Ly ở ngay phía đông nam Chiêm Thành, từ Giao Châu đi ghe theo biển, trải qua các nước Xích Thố, Dan Đan rồi đến Đại địa châu Đà Mã (cũng gọi là Mã Lễ, quốc tục xỏ tai, đeo hoa, lấy một bức vải quấn ngang lưng), phía nam nước ấy có nước Thủ Nại, sau niên hiện Vĩnh Huy đời Đường (651-655) bị Chân Lạp thôn tính.”

Thận trọng hơn, Trịnh Hoài Đức chú thích: “Tra theo Chánh Văn thì chữ Lợi âm là lục địa, thiết âm là ‘lịa’, vậy nghi chữ Bà Rịa tức là nước Bà Lợi thuở xưa. Còn âm hai chữ Thủ Nại với Đồng Nai hay Nồng Nại, không sai nhau lắm, vậy có lẽ cũng là đất Sài Gòn ngày nay.


2. Truyền thuyết về bà Nguyễn Thị Rịa

Hướng nghiên cứu thứ hai, qua truyền thuyết của nhân dân trong vùng, giải thích nguồn gốc địa danh Bà Rịa là để tưởng nhớ công đức bà Nguyễn Thị Rịa, cuốn Châu Thành đấu tranh và xây dựng (1945-1985) viết như sau:

“Địa danh Bà Rịa có từ lúc nào? Theo thư tịch cổ, bà Rịa người gốc Phú yên theo gia đình vào Nam tìm đất sống từ năm 1680. Gia đình bà vào tại làng Mỹ Khê (Tam Phước, Long Đất), bà Rịa cùng với nhân dân đã khai phá rừng rậm lập ruộng vườn, xây dựng làng xóm. Năm 1698, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Nguyễn Hữu Cảnh) được chúa Nguyễn Phúc Chu cử kinh lý đất phía Nam, khi quân đổ bộ lên Phước Lễ, lúc đó vừa bị một trận lụt lớn các cầu đều bị trôi, đường đi lại bị hư hỏng. Bà Rịa đã huy động nhân dân trong vùng tu sửa đường sá, bắb lại các cây cầu để quân chúa Nguyễn qua sông; cảm kích công trạng này chúa Nguyễn đã ra sắc phong cho bà Rịa “Hàm Nghè” danh dự và cho bà được mang họ Chúa (tức họ Nguyễn).

Từ đó bà được nhân dân quý trọng, tiếng vang khắp vùng. Năm 1759 bà Rịa qua đời, bà không có con cái, 300 mẫu ruộng của bà được sung vào công điền và chia cho người nghèo. Dân làng nhớ ơn góp sức lập miếu thờ bà bên đường, nay thuộc địa phận xã Tam Phước, huyện Long Đất.

Trước đó, cuốn Địa chí Bà Rịa 1902 do Hiệp hội nghiên cứu Đông Dương biên soạn cũng mô tả gần giống thế. Tuy nhiên, có đôi chỗ khác biệt, nhất là về niên đại. Theo tài liệu này thì bà Rịa vào Nam khai khẩn đất hoang lập làng Phước Liễu vào năm 1789, và mất năm Gia Long thứ 2 (1803), Mộ bà Rịa do Viện Viễn Đông bác cổ Pháp xây hiện còn ở cạnh hương lộ từ An Ngãi đi Phước Hải.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã từng trăn trở rất nhiều khi hạ bút viết về địa danh Bà Rịa. Ông đã lật đi lật lại nhiều lần, đưa ra đủ cơ sở tư liệu để khẳng định rằng: “Tác giả Địa chí Bà Rịa 1902 đã sai lầm khi nói đất Bà Rịa mới có hơn trăm năm nay….”


3. Kiến giải thứ ba: Sự trùng hợp giữa Tên đất và Tên người

Năm 1620, quốc vương Chân Lạp Prea Chey Chettha cầu thân với chúa Nguyễn (chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên), xin cưới công chúa Ngọc vạn, lập làm hoàng hậu. Ngọc Vạn công chúa đem theo nhiều người Việt về kinh đô Oudong, lập xưởng thợ, mở tiệm buôn.

Chúa Nguyễn gửi quân lính, thuyền chiến và vũ khí giúp Chân Lạp chống lại các cuộc xâm lấn của vua Xiêm, đổi lại, vua Chân Lạp cho phép lưu dân người Việt tới lập nghiệp trong mấy tỉnh thưa dân phía đông nam vương quốc.

Chúa Nguyễn khuyến khích người Việt vào làm ăn, lập ra sở thuế ở Sài Gòn, cử tướng lĩnh đến đóng đồn giữ gìn trật tự. Xứ Mô Xoài, Bà Rịa được xem là địa đầu vùng Biên Trấn, nơi những lưu dân người Việt đầu tiên đặt chân khai phá vùng Nam bộ.

Kể từ thời điểm ấy, các đợt Nam tiến của người Việt vào Mô Xoài ngày càng đông. Năm 1698, chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (dinh Phiên Trấn). Khi ấy, theo biên kê sổ đinh, cả vùng Sài Gòn, Đồng Nai có 40 ngàn hộ, ước tính 200 ngàn dân. Xứ Mô Xoài (Bà Rịa) khi đó thuộc phủ Phước An, sau đổi thành huyện Phước An, làng xã đã tương đối ổn định.

Địa bạ lập ra sau khi bà Rịa qua đời hơn 70 năm (theo truyền thuyết), nhưng cũng để lại những con số đáng suy nghĩ cho chúng ta về thực chất khai phá, quản lý và sử dụng đất đai thời ấy.

Theo mô tả của Đại Nam nhất thống chí thì sông Xích Lam chính là sông Ray mà hạ lưu phía đông của nó bao gồm các xã vùng Long Điền, Đất Đỏ ngày nay (trong đó có cả địa phận của 2 xã Hòa Long, Long Phước nay thuộc thị xã Bà Rịa). Khu vực này xưa nhiều bàu trũng với câu ca trao duyên “Bao giờ Bưng Bạc hết sình, Bàu Thành hết nước chúng mình hết thương”. Khu vực này đã được cải tạo thành cánh đồng lúa và tập trung 300 mẫu đất công ở đây.

Trong một công trình nghiên cứu, PTS Sữ học Đinh Văn Hạnh đã dẫn tài liệu của nhà khảo cổ người Pháp, ông L. Malleret cho rằng: “Địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ tên gọi Khơ-me của một cái bàu gần Long Điền là Bà Rày hay Bà Rey, chuyển sang âm Việt chệch đi thành Bà Rịa.”

Sau khi đối chiếu với sách Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) về núi Bà Rịa, chợ Bà Rịa, đối chiếu với Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đinh Văn Hạnh cho rằng: “Cách giải thích địa danh hiện nay dùng để chỉ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ tên một ‘nước’ Bà Ly (Bà Lịa) là có cơ sở hơn. Tên nước này đã được thư tịch cổ Trung Quốc đời Đường ghi lại, kèm theo những sự kiện về sự hưng khởi của Chân lạp – một sự kiện lịch sử có thật. Chính sự ổn định tương đối của thực thể địa lý đó (chưa nói đến sự tồn tại lịch sử của nước Bà Ly) đã khiến cho những địa danh, tộc danh, thủy danh liên quan đến từ Bà Rịa có sức sống trường kỳ.”

Ông cũng đưa ra một giả thuyết đáng lưu ý: Bà Rịa vốn là tên đất (bàu Rày, Bà Rey), tên một vương quốc (bà Lợi, Bà Ly, Bà Lịa), tên một tộc người (Bà Rịa man) và rất có thể trùng tên với một người có công, xuất hiện sau này (là bà Nguyễn Thị Rịa).


Tác giả: Nguyễn Đình Thống – Tạp chí Xưa & Nay

Related Images: