Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên: 03 – Đệ nhứt hồi – Phần 02

Vài lời từ người đánh máy

Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên do Bùi Quang Nghĩa – Thủ thoa Nghĩa sáng tác và in tại Imprimerie de L’ouest, Cần Thơ, Nhà In An Hà, năm 1932.

Chữ Quốc ngữ vào những năm đầu thế kỷ 20 có khác so với chữ hiện đại. Tôi có “sửa vài lỗi về chính t” nhưng vẫn giữ nguyên cách dùng từ, hành văn.

Độc giả có thể tham khảo Bản in gốc năm 1933, link PDF.


Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ DuyênKim Thạch Kỳ Duyên: Đệ nhứt hồi – Phần 02

Hỏa Long chủ trại lâu la, cướp ghe quan phủ Đình Quí, bắt bà Giải thị về làm vợ. Giải thị muốn tự ải theo chồng, nhưng phải nhẫn nhục mà nuôi thai.


Tiêu Hỏa Long bạch viết:

Thần cung nhứt bả, quải phò tang,

Thiên hạ anh hùng mạc cảm đang;

Sử ngả cẩm phàm, kình ngạc tiềm tôn bắc hải,

Huy ngô bửu kiếm, tì hưu viễn tích nam san.

Hựu viết:

Đại Lư san hùng cứ nhứt phang,

Ngả trại chúa Hóa Long thị dã. Như ta,

Chiếm cứ nhứt châu thiên hạ, tự xưng Giang Hải đại vương;

Giấu vuốt nanh chờ vận Võ Thang,

Nuôi vai kiến cướp người thương khách.

Lâu la, bài khai kiếm kích, chỉnh túc thuyền sưu,

Truyền đoạn triệt giang đầu, ngõ truy tầm thương lữ.

Thiết Đình Quí viết:

Thăng Tây An tri phủ, Thiết Đình Quí thị danh,

Khăng thìn hai chữ trung thành, nắm giữ một câu cẩn thận.

Như ta, cùng Giải thị duyên vầy loan phụng,

Roi THiết gia chưa ứng bi xà,

Trước đà vưng lịnh hoàng gia, nay phải tới chăng trọng địa.

Giải thị viết:

Từ sánh duyên se chỉ, đà đẹp phận nưng khăn,

Mừng nay tam ngoạt hữu thần, xin đặng nhứt thuyền phó lị.

Đình Quí viết:

Thị thiết gia hoan hỉ, vậy ta, hứa hiền phụ đồng hành.

Đà công, phú đà công nhẹ tách đòng xanh,

Ra trọng địa vỗ an con đỏ,

Vãn viết:

Trọng địa vỗ an con đỏ,

Mây móc nhuần cây cỏ càng tươi,

Dương xuân bủa một phương trời,

Ngựa tre đón rước, vui cười gió nhơn.

Giải thị vãn viết:

Chữ tùng đẹp đẽ tơ dươn,

Sớm khuya tiếng hạc tiếng đờn gần nhau.

Đình Quí viết:

Muôn trùng vọi vọi non cao,

Trăm khúc minh minh biển thẳm, nọ.

Đất đã sanh thế hiểm, sóng lại vắng người đi,

Đà công, phú đà công tu khả thận trì,

Quá thử địa tối vi sầm tịch.

Hỏa Long viết:

Một thuyền nhẹ tách, mấy ngựa ruổi theo,

Kíp bẻ lái rút chèo, mau giết người lấy của.

Đình Quí viết:

Thất thố chơn thất thố, chí kinh thị thí kinh.

Ớ phu nhơn, hoại ngô vạn lý tiền trình,

Cố ngả nhứi ngôn cốt huyết.

Vật khả chấp kinh tuận tiết, tu đương nhẫn nhục tồn cô.

Tặc thủ bất nghi ô, giang trung đương tự tận.

Giải thị viết:

Chung thiên bảo hận, phũ địa trường hô,

Khởi khả sự nhị phu, quyết tự nhương nhứt tử.

Hỏa Long viết:

Cấp bảo trụ, cấp bảo trụ, vật khinh sanh, vật khinh sanh.

Xem qua phải sắc khuynh thành, đem lại thay ngôi chủ trại.

Giải thị viết:

Thề hẹn ấy nước non không cải, gian nan nầy trời đất có hay,

Lá sương chi quản tấm thân nầy,

Hột tuyết còn mang hòn máu đỏ. Như ta,

Ngộ biến đã mang lấy hổ, tùng quyền còn kể chi mình,

Lấp cơn sầu hồn dõi dòng xanh.

Lau giọt thảm máu rơi nước bích.

Ai vãn viết:

Giọt thảm máu rơi nước bích.

Thương phận mình giá sạch ra nhơ,

Dây oan khéo vấn sờ sờ, vì ai chẳng trọn một thờ với ai;

Gặp khi sóng gió giữa vời,

Thương vì máu mủ đổi dời non sông.


Mời coi tiếp

Related Images:

Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên: 02 – Đệ nhứt hồi – Phần 01

Vài lời từ người đánh máy

Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên do Bùi Quang Nghĩa – Thủ thoa Nghĩa sáng tác và in tại Imprimerie de L’ouest, Cần Thơ, Nhà In An Hà, năm 1932.

Chữ Quốc ngữ vào những năm đầu thế kỷ 20 có khác so với chữ hiện đại. Tôi có “sửa vài lỗi về chính t” nhưng vẫn giữ nguyên cách dùng từ, hành văn.

Độc giả có thể tham khảo Bản in gốc năm 1933, link PDF.


Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ DuyênKim Thạch Kỳ Duyên: Đệ nhứt hồi – Phần 01

Ngạn yêm lãnh chiếu chỉ đi trấn Bồ Châu. Vợ chồng Lâm Vượng kết nghĩa sui gia cùng quan huyện mà gả nàng Ái Châu cho Kim Ngọc.


Ngạn Yêm viết:

Hương vầy đinh giáp, móc gội vườn xuân.

Tiên té lừa dặm liễu vui mừng,

Sĩ biêu ngựa đường hoa hớn hở.

Sanh gặp đời Tống Tộ, tôi biểu tự Ngạn Yêm,

Lên thang mây đã tạn cung thiềm,

Vỗ cõi sấm ngửa vưng chiếu phụng.

Như ta, nhà nước đã thấy tài hữu dụng,

Giả chăng như tôi là nhứt cá thơ sanh, lạm đăng khoa giáp.

Nay lịnh thiên tử, ngài cho ta tể bách lý tiên đạo vinh qui.

Mần ri ni là, non sông thêm rõ mặt phi thường.

Quân, áp hầu.

Trước về bái tạ gia đường, sau sẽ xuất ưng dân xã.

Vãn viết: Sau sẽ xuất ưng dân xã,

Cuộc dinh hườn, vẻ lạ non sông.

Nửa ngàn gặp hội vân long,

Ướm tay chế cẩm, suy lòng phang tiêng.

Hà Nam đoái đã tạn miền,

Đầy sân liễu múa, chói hiên huê cười.

Lâm Vượng viết:

Phú hộ trẻ với đời, Lâm Vượng khoe danh mỗ,

Như ta, nói cho phải … nhờ hơi kẻm nghiệp nên đồ sộ,

Còn, kết dải đồng bạn cũng hẳn hòi.

Mình không trai, nghĩ đã thiệt thòi,

Sanh những gái, á, càng thêm mệt nhọc.

Tố Châu là gái út, Ái Châu thiệt thứ hai.

Như con gái út tôi là, thiệt thà đức hạnh không sai.

Sau nó có, gặp gỡ lứa đôi mặt thích. Con đó chẳng nói làm chi,

Chớ như con gái lớn tôi là, dung mạo tài tình rất lịch,

Lại thêm, cầm kỳ thi hõa đều thông.

Ai ngờ là may, trai văn vật khéo xui gặp lứa.

Số là, có con ông thủ khoa tên nó là thằng chi chi đây …

Ờ ờ phải, tên nó là thằng Kim Ngọc.

Cái thằng làm sao mà, diện mạo phải trang tài tử,

Còn, tư dung nên đứng nho phong;

Lại có tiếng thần đồng, ai cũng nhường văn học nó hết thảy mà!

Đã biết tôi giàu thời mặt lòng, nhưng mà dễ làm sui với ổng đặng hay mình răng!

Nhờ giáo thọ mở lời mai ước, nên,

Mới cùng giải nguyên kết nghĩa thông gia;

Sang giàu đã xứng sui gia, tài sắc lại nên dâu rể.

Nay chỉ sai ông sui tôi ngồi Bồ Châu tri huyện.

Cho nên tôi, bữa diếp qua đưa phó lị lời giao sau sẽ thành thân.

Gẫm con đã nên thân, khen lão đà tốt phước, đi mụ.

Trương thị viết:

Ông nong nả tìm cho đặng ngọc,

Mụ phập phòng, sợ những uổng châu;

Ông sui đà khoa hoạn cài đầu, chàng rể ắt trăm anh nối gối.

Lâm Vượng viết:

Lời hôn cấu nay đà ràng buộc, vẻ nhơn duyên sau ắt rỡ ràng.

Như thằng Kim Ngọc, đừng nói sau nó đặng làm quan,

Nay mừng trước chúng kêu bằng cậu.

Thấy tịch thượng tưởng đành dạ mụ,

Vậy thời, việc gia trung phải tỏ với con;

Nghĩa thất gia hầu đã vuông tròn,

Còn, bề khuê khổn khá tua vẹn vẻ.

Lâm Ái Châu xướng viết:

Vạn ban kiều diệm vạn ban xuân,

Băng ngọc hồn vô bán điểm trần;

Thanh điểu cận lai, truyền hảo tín,

Hồng lâu ngâm vịnh uổng thương thần.

Hựu viết

Thiếp Ái Châu tót bực hồng quần,

Cha Lâm Vượng nên trang cự ti.

Như tôi là, kiều diệm Tây Thi khá ví,

Còn, thông minh Đạo huấn chi hơn;

Cho nên, ví trân châu báu lạ khôn nhường,

Cùng Kim Ngọc duyên lành mới gá,

Như cha chồng tôi, đỗ tĩnh thí ra chăn dân xã,

Còn chồng tôi, tiếng thần đồng đã nức hương lân,

Có phải, rõ ràng một mặt phu nhân, cao tót phô loài phàm nữ.

A hườn! đòi Môi ẩu đây,

 Môi ẩu viết:

Mới lãnh lời tì nữ, vào đãi lịnh quới nương,

Đòi việc chi vốn mụ chưa tường, xin phân lại cho già đặng rõ.

Ái Châu viết:

Số là trẻ ở với tôi cũng năm bảy đứa,

Nhưng mà, xem nô tì mấy gã, chẳng vừa mắt một con;

Tôi muốn, tìm một đứa cho vẻn vang mày mặt,

Lại nhiều ít bút nghiên cho biết cách.

Đặng mà, khi xuất giá sửa đờn soạn sách,

Còn, lúc tại gia hắn vấn thuốc, pha trà;

Xin đó gắng công già, thời đây đền nghĩa trẻ.

Môi ẩu viết:

Cô đà dặn thế, tôi phải lần mò,

Xin cô chớ có lo, đến tôi thời phải đặng.


Mời coi tiếp

Related Images:

Bùi Tấn Phước – Kết Nghĩa Phi Tình: 10 – Bài tặng M. Tâm Tiết Bùi Tấn Phước

Vài lời từ người đánh máy

Vở tuồng Cải lương Kết nghĩa phi tình được viết và in vào năm 1927. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c trong cách viết để tránh những hiểu lầm về chính tả so với hiện đại.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1927, định dạng pdf theo link.


Bùi Tấn Phước - Kết Nghĩa Phi TìnhTuồng hát Cải lương: Kết Nghĩa Phi Tình

Chủ bổn: Bùi Tấn Phước

Phát hành: In tại nhà in Xưa Nay, NG. Háo Vĩnh, SAIGON – 1927


Bài tặng M. Tâm Tiết Bùi Tấn Phước

Tôi vẫn là một người bạn thiết của ông Tâm Tiết; nhơn cách ít lâu nay, ông bạn có đặt rồi bổn tuồng cải lương “Kết Nghĩa Phi Tình” nầy, ông có lòng đoái cố đến tôi nên có cho tôi coi cả nguyên bổn. Vì thấy rõ bổn cải lương nấy thật hay lạ vô song nên tôi chẳng nệ tài sơ trí siển, thỏ thẻ ra đây ít lời hầu để tặng ông. Tôi chỉ lấy sự thành thật mà tỏ ra đây cho đồng bào rõ: vì là người đã coi trước nhứt chớ chẳng phải vì vị nghĩa kim bằng.

Ông Tâm Tiết chẳng nài khó nhọc đặt ra bổn Kết Nghĩa Phi Tình nầy đã vừa hay lạ lại vừa có ích cho đồng bào. Chẳng những câu văn đã chải chuốt, bài vở tinh anh, cách sắp đặt đúng đắn, nhưng ý tứ lại thâm trầm, tỏ rõ cả nhơn tình thế thái.

Bổn Kết Nghĩa Phi Tình nầy, chẳng những là để giúp vui cho đồng bào trong lúc đêm tàn canh lụn mà thôi, mà lại là một cái gương rất trong sạch cho đời vậy. Trong bổn tuồng nầy có đủ cả các thứ tánh đức, kiêm đủ các tình đời. Như bên hiền đức thì có Ngô Thái Bửu vẫn là một trang thiếu niên thật nên đúng đắn, chàng gặp biết bao sự chông gai lao khổ nhưng chàng vẫn giữ chặt dạ anh hùng chẳng nao núng chi tới những việc thường tình thế sự.

Còn bên bọn ác, thì có nàng Huỳnh Kim Xuyến vẫn là một người đàn bà ác độc, trắc nết lang dâm, mong kế hại chồng thật nên khả ố, đàn bà như vậy nhắm lại cũng chẳng thiếu chi. Ông Tâm Tiết đem cả trí thức mà tỏa hai vai tuồng nầy rất nên đúng đắn, rất hợp với đời, cốt để làm gương cho đờn bà thế.

Tôi chẳng cần nói chi cho nhiều, chỉ xin tóm tắt một lời là cuốn tuồng cải lương “Kết Nghĩa Phi Tình” nầy là một bổn tuồng hay nhất và rất nên quí quá cho bọn thanh niên ta. Ai ai cũng nên có một cuốn để trong nhà trước là để giải được sự sầu trong lúc đêm khuya thanh vắng sau nữa là để cho em cháu trông vào đó như một tấm gương trong.

Ấy vậy, ít lời thành thật, tôi xin trước là để tặng ông Tâm Tiết Bùi Tấn Phước là người chẳng nệ sự cực nhọc với đồng bào quyết đặt ra bổn tuồng nầy để khuyên đời, sau là để giới thiệu cuốn Kết Nghĩa Phi Tình nầy cho đồng bào.

Khánh Hội, le 20 Aout 1927

Cường Tinh

Tác giả bộ tiểu thuyết “Khí Hùng”

Related Images:

Bùi Tấn Phước – Kết Nghĩa Phi Tình: 09 – Màn thứ chín – Vãng

Vài lời từ người đánh máy

Vở tuồng Cải lương Kết nghĩa phi tình được viết và in vào năm 1927. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c trong cách viết để tránh những hiểu lầm về chính tả so với hiện đại.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1927, định dạng pdf theo link.


Bùi Tấn Phước - Kết Nghĩa Phi TìnhTuồng hát Cải lương: Kết Nghĩa Phi Tình

Chủ bổn: Bùi Tấn Phước

Phát hành: In tại nhà in Xưa Nay, NG. Háo Vĩnh, SAIGON – 1927


Kết Nghĩa Phi Tình: 09 – Màn thứ chín

Tay vịn nhành mai gót ngọc bước lăn theo cánh hạc,

Đường xuân ngoạn cảnh dưới đào lại gặp hội tình xưa.

(Tableaux đường vắng vẻ).

Huỳnh Kim Xuyến nói:

Trời ôi! Hận trời khéo buộc sầu ràng thảm, trách ai đành rẽ nợ lìa duyên, nghĩa tóc tơ thiếp chưa phụ lời nguyền, duyên kim cải người mong vong hẹn.

Than ôi! Thân nghĩ thân luống thẹn, phận xét phận thêm sầu, thiệt nghĩ lại; bởi trước mong những việc cơ cầu, nên nay mới ra thân thể ấy, cheo mắt vào lưới bẫy, chim mang lấy đạn tên, nầy mẹ ôi! Nghĩa thân sanh con lỡ đáp lỡ đến, lời minh thệ nửa cười nửa tủi, đã nát thân tro bụi, còn chi phận đào thơ, đến nay!

Mẹ có hay cho con sống bụi thác bờ, đành lưu lạc bơ vơ khách địa.

Ôi! Nào những lúc lầu son gác tía, nay đến cơn sóng dập gió dồi.

Ngâm:

Đành thân phận bạc cho rồi,

Đắng cay phải chịu những hồi mưa tro.

Ca Vọng cổ Hoài Lang

Nhìn nhành mai chim liếu,

Thêm xót tủi cho thân phận nầy,

Làm sao đặng cơn sum vầy,

Ôi nhạn én lạc bầy,

Niềm xưa nghĩ thôi gan bầm,

Giọt châu dầm tuôn rơi chứa chan,

Còn chi mong sang cả,

Mẹ con đành hai ngả phân ly.

Ngày nay đến cơn hối ngộ,

Biết ai mà gởi phận hồng nhan.

Hồng nhan rày phấn phai hương tàn,

Trời để ai lỡ làng.

Đây từ đây khó toan,

Cam nỗi niềm rẽ phụng lìa loan,

Đứt nhánh lụy mình vàng,

Mối tình sầu biết ai thở than.

Đoái cụm liễu vàng,

Nhớ uyên đường tất dạ nào an,

Đôi gánh khó vẹn toàn,

Nhắm mắt liều cho qua khốn nguy.

Nói:

Trời ôi! Xem mịt mờ dấu thỏ, biết nơi nao lánh bước nương mình,

Ôi! Nào khi nắng nghĩa mưa tình, đến nay lại trưa phiền chiều não, thà vậy cho đành lòng con tạo rày dám đâu hận đất oán trời.

Ngâm:

Lần chơn theo dọi chói ngời,

Non buồn biển cạn chạnh một đời hồng nhan.

(Kim Xuyến bỏ vô, kế Thái Bửu mặt đồ y phục và hai tên quân đi tới).

Thái Bửu nói:

Từ chơn leo tháp nhạn, bảng hổ đã đề danh, mừng thay công toại danh thành, phỉ bấy rỡ ràng nam tử. Quân nghe ta dặn.

Ngâm:

Trải qua xuân mãn sang hè,

Kẻ sau người trước dặm hòe thẳng xông.

(Bỏ màn giả, đổi Tableaux nhà Kỳ Trung).

(Kéo màn ra Kỳ Trung và Thái Bửu ngồi có quân hầu).

 Thái Bửu nói:

Dạ thưa anh, trải bước ngọc non cao biển thẳm, đã mãn đông đầm ấm hơi xuân. Đến nay, cùng nhau toại chí vui mừng, có vậy, tạm tiệc mọn đệ huynh giải muộn. Quân dọn yến tiệc lên đây.

(Quân đem tiệc ra cùng nhau vầy tiệc).

Kỳ Trung nói:

Nầy em, nhơn đạp hạ sơ khí thoại, rộn ràng kẻ đẹp người xinh, có vậy, anh em ta cùng nhau, dời chơn ra trước lê đình, ngỏ hứng cảnh giải tình cơn ngọc.

(Đồng bước ra).

Thái Bửu nói:

Cha chả, xiết bao đẹp trời sương mưa móc, cảnh sum sê thu cúc khoe màu, sắc thiều quang nhấp nháng bóng xao, nhành mai liễu đua tươi hớn hở.

Kỳ Trung nói:

Kìa kìa em xem coi.

Ca Kim Tiền

Đoái trăm hoa xúc tình ngày xuân,

Mai mởn mai ngâm giọng mấy từng,

Nhành mai liễu khoe màu đua tươi,

Vui đẹp mấy mươi, uyên bên nhành,

Đương đoanh luyện, giục lòng người,

Biết mấy trang bế nguyệt sai hoa cá đắm nhạn sa.

Bửu:

Kỳ hoa mấy phen điểm nhụy,

Giục người ngoạn xuân thêm thẹn với hoa.

(Kinh hãi)

Ủa cớ sao bỗng chạnh thiết tha,

Hoặc việc chi vương vấn cho ta,

Kiết hung tâm sự chưa tường lợi hại,

Trong dạ phát nghi,

Cớ chi nên bận bỗng lòng lo sợ.

Nói:

Ủa lạ, đương cơn rảo bước, sao phút động lòng nghi, đầu đuôi chưa rõ việc chi, gốc ngọn khó toan cớ sự, cha chả nầy.

Kỳ Trung nói:

Nầy em, ngoạn xuân mua thú, hứng cảnh giải sầu, mảng mắc rồi âu trở gió câu, kẻo dặm thỏ kề hầu bóng ác.

Bửu nói:

Sắc thiều nhen cổi bạc, dấu thỏ lố giọt xanh, mảng mê chim liếu trên nhành, phút đã ác vàng vừa ngả, thôi thì!

Đồng ngâm:

Trong chừng dặm liễu chơn lui,

Bưng khuâng mưa bắc ngậm ngùi gió tây.

(Hai người vô kế Kim Xuyến bước ra).

Huỳnh Kim Xuyến nói:

Trời ôi! Bốn phía xem những lạ, tư bề chẳng có người quen, biết nơi nao nương tấm thân hèn, nhạn chích cánh kêu sương đêm ngọc.

Than ôi! Thân sao luống nửa cười nửa khóc, phận khéo xui tấn tới rồi lui.

Ôi thôi! Đống lửa tro đem ngọc chen vùi, biển trần khổ đà đành gieo xuống, sự nghĩ lại ăn năn đã muộn, nay suy ra tỉnh ngộ quá cơn.

Trời ôi! Nỡ để chi cho gió hận mưa hờn, sanh đến lúc kim rơi cải rụng.

Ngâm:

Đóa hoa tiếc bấy ướm màu,

Trời bao đày đọa má đào thế ni.

(Kỳ Trung và Bửu bước ra).

Kỳ Trung nói:

Ác vàng đà sắp cật, thỏ bạc lại lố đầu, máy hiên thấy đã kề hầu, gót ngọc quân tua bước tới, đa nghé.

(vô)

Kim Xuyến nói:

Trời đất ôi! Thấy quân nhơn rần rộ, xem người ngọc hãn tàng, ôi thôi! Thà liều theo một giấc suối vàng, sống càng hổ cho thân phận bạc, cho dứt kiếp má hồng trụy lạc, đành nương theo ngọn gió huỳnh tuyền,

(cầm dây)

Nầy dây ôi, cậy cùng mi chiết thảm lẽ phiền, cho an phận hương thừa phấn thảy.

Ngâm thi

Cụm liễu gió đưa thổi hiu hiu,

Tủi thân lưu lạc dạ chín chiều,

Hẹn biển thề non sanh hối hận,

Ôi thôi một giấc quyết thân liều.

(Kim Xuyến vừa thắt họng có tên quân chạy ra).

Quân nói:

Cha chả! Việc chi cây rấm rắt lại có giọng è è, mau bước đến vườn tre, kẻo tai nghe lòng ngại,

(ngó thấy)

Úy trời đất ôi! Mau mau vào bẩm lại, kíp kíp đến trình qua, ai đến đây làm việc yêu ma, muốn hại mổ mang tai quái quỉ, sao mà.

(Quân vào báo Thái Bửu và Kỳ Trung ra).

Thái Bửu nói:

Đương cơn bình tịnh, nghe quân báo cấp kỳ, rằng mạng nhơn tử tại vườn ni, âu xem lại giả chơn cho hãn.

(Bửu bước lại xem).

Úy châu ôi! Mắt nhìn vừa chường chán, quả thiệt bạn Huỳnh nương. Dạ thưa anh, tích tang châu thể chưa tường, khá khán lại ngọc thân mới rõ.

Kỳ Trung nói:

Nghe lời em phân tỏ, đây luống căm gan. Quân, mau dứt dây ngỏ lấy thây nàng, tam kỳ lộ bêu nơi hàng đại thọ, đa nghé.

(Huỳnh Kim Xuyến đứt dây).

Thái Bửu nói:

Ủa ủa! Giọt máu hồng đương nhỏ, sao đây bạch lại sa. Huỳnh nương ôi! Vong hồn em sanh thuận tử hòa, chớ hiển hiện mà dằn thân dật thể.

Dạ thưa anh,

Ca Kim Tiền

Tua truyền quân, cốt hài táng an,

Ngỏ trước sau cho vẹn mọi đàng,

Dẫu sanh tử cũng niềm tào khang,

Chớ phụ tơ lang.

Kỳ Trung:

Phân mấy điều nghe quá lạ,

Sự phi thường,

Bởi trước ai mong lòng bạc đen.

Chiết phụng rẽ loan.

Bày chi những câu ân bậu,

Lắm còn thẹn cho đứng phận nam nhi.

Quân mau cứ lịnh làm y,

Đem bêu cho phân rã thây thi,

Ấy ta mới đặng ưng lòng đẹp dạ.

Bởi tại nơi ai, trước mong gây họa,

Nay đành thửa phận,

(Huỳnh Kim Xuyến chết đứng).

Quân nói:

Dạ bẩm ngài, chúng tôi lấy thây ấy lên không đặng.

(Kỳ Trung cười).

Kỳ Trung nói:

Nầy em, quả một điềm báo ứng, cuộc vay trả nào sai, thưởng ban nay đã đến ngày, vì tích ác nên nay chịu ác, máy tạo đà thưởng phạt, cao xanh lẽ công minh, xin em đừng bận nghĩa thảm tình, mà sanh kẻ hảo thinh mến sắc, khen cơ trời khéo đặt, cuộc lành dữ chẳng xa.

Ngâm:

Mừng nay hưng nước thạnh nhà,

Người lành hưởng phước kẻ tà thọ tai.

Ca Bình Bán Vắn

Cơ trời khen khéo xây,

Cuộc nhãn tiền ví tợ vừng mây,

Bởi vì chơn trước không tưởng tình,

Ngày nay đây đến ngày công minh.

Khuyên ai tua giữ lấy tiết trinh,

Đứng nam nhi năm hằng cho trọn,

Đừng thói phụ tình bạc nghĩa,

Gái vẹn niềm tam tùng phận nhi,

Ngày chung vui mới an duyên nghì.

Tuồng bội phu là tuồng nhuốc nhơ,

Cuộc đời hay lắm việc tóc tơ.

Ngày nay nát tan mình đào thơ,

Đường đời xem trước xa mịt mờ.

Biển trầm luân mấy ai khỏi bờ,

Xin trẻ già gắng dạ ngăn ngờ,

Tài tình nay lắm cuộc tương tranh.

Đồng ca:

Nào nệ chút công tài mọn,

Cuộc dữ lành chín mà phân trọn,

Xin kính dưng liệt vị giúp vui.

Chúc quí quan lộc tấn vinh hoa,

Đông cháu con sum hiệp một nhà,

Điều hiển vinh phước thọ khương ninh.

————- Vãng —————-

Related Images:

Bùi Tấn Phước – Kết Nghĩa Phi Tình: 08 – Màn thứ tám

Vài lời từ người đánh máy

Vở tuồng Cải lương Kết nghĩa phi tình được viết và in vào năm 1927. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c trong cách viết để tránh những hiểu lầm về chính tả so với hiện đại.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1927, định dạng pdf theo link.


Bùi Tấn Phước - Kết Nghĩa Phi TìnhTuồng hát Cải lương: Kết Nghĩa Phi Tình

Chủ bổn: Bùi Tấn Phước

Phát hành: In tại nhà in Xưa Nay, NG. Háo Vĩnh, SAIGON – 1927


Kết Nghĩa Phi Tình: 08 – Màn thứ tám

Chàng Kế mảng mê sa trường đổ bát,

Nàng Kim khuyên bạn dứt bạc cờ.

(Tableaux nhà giàu, phong cảnh vườn)

Trần Thậm Kế nói:

Như ta, Mỹ Yên quê ngụ, Trần Thậm Kế biểu danh, đất ruộng kia cha mẹ cìn dành, nhà cửa nọ ông bà để lại, ta vốn thiệt chánh tay bợm bảy, bấy lâu ròng cờ bạc rượu trà, xứ Mỹ Yên dậy khắp danh ta, ai chẳng biết tiếng Trần Thậm Kế, trong thôn hương người người đều nể, nội chốn ni kẻ kẻ thảy kiêng, không lộc cao mà sẵn của sẵn tiền, còn hơn nhà nghèo khó có tước quyền cũng vô ích, thôi ở nhà lóng xóng cũng chẳng có công chuyện chi, có vậy, để thả lên xóm trên nầy, bữa nay nghe nhà anh phó xả có một sòng nầy trọng cải, lên kiếm bậy chút đỉnh về mua rượu nhậu chơi.

(Nói rồi quày quả ra đi).

(Huỳnh Kim  Xuyến ra ngồi một mình).

Huỳnh Kim Xuyến nói:

Từ gá duyên tần tấn, đã mấy thu tình nặng nghĩa nồng, song nghĩ ra thiếp rất buồn lòng, vì chàng Kế sanh điều bại tục, đã không rành nghiên bút, mà thêm tánh bạc cờ, nghĩ thương cho phận mẹ già. Tiếng gả con đã chẳng đặng nhờ, làm cho mẹ nhọc lòng lo liệu, nghĩ thương phận cha già mẹ yếu, luống buồn thân tơ liễu chỉ mành, muốn toan sao mọi việc đặng rành, kẻo để vậy ngày xanh lỡ vỡ.

Ca Vọng cổ Hoài Lang

Niềm tào khang khó liệu,

Biết sao đặng hai gánh vẹn toàn,

Lời giao thiếp chưa phụ phàng,

Nhưng điều ấy bởi nơi chàng,

Nhiều phen thiếp khuyên dứt bạn,

Trách chàng đành làm ngơ, đó thôi,

Ngày nay thua đến thế,

Cũng bởi người chẳng kể lòng ta,

Ra đến cơn lâm lụy,

Còn mong điều đem cố tài gia.

Tài gia nầy ắt tan có ngày,

Thiệt thiếp khó liệu bày,

Giây sầu đâu khéo vương,

Dẫu một ngày cũng đạo tào khương.

Sao nỡ vội phụ cang thường,

Sanh đến điều khốn nguy thế ni,

Xót phận mẹ già,

Không có người khuya sớm vào ra,

Nghĩ giọt lệ chan hòa,

Xin vái trời độ nương cho mẫu thân.

(Thậm Kế về ngồi tréo ngoải coi hơi rầu).

Dạ thưa chàng, việc chi coi ủ dột mày xanh, hà sự mà chàng bi thản, đây thiếp chưa tường hãn, xin chàng phân gốc ngọn thiếp hay, cùng nhau chồng vợ liệu bày, điều lợi hại trong ngoài có thiếp, không sao đó chàng.

Thậm Kế nói:

Nầy em, chẳng dấu chi em, vì dĩ lỡ cơn thua quá độ, xin em giùm giúp đỡ buổi nghèo, cổi cho anh mượn chiếc neo, đem cầm đỡ xây trong buổi ngặt.

Ca Hành Vân

Xin bậu an lòng, giúp vận qua cùng,

Trong lúc lâm nguy, bởi cơn ro rủi,

Khiến phải vận suy,

Đến nay thêm càng hối hận

Xin em tưởng,

Nghĩa tào khang sống thác có nhau,

Buổi nghiêng nghèo đó bao nỡ đành,

Em mà giúp đặng, qua há quên ơn,

Tất dạ đâu sờn,

Trọn niềm cang lệ,

Ấy là vinh cho nhà ta, đó em ôi!

Kim Xuyến:

Bởi chàng không xét,

Mới ra việc như vầy,

Thiếp đã mấy phen rầy,

Của tiền đâu còn chi, chàng ôi,

Kể từ ngày loan phụng hòa đôi,

Xiết bao khốn khó,

Trước sau cũng một mình tôi.

Nói:

Nầy chàng,

Ca Kim Tiền

Đã mấy phen, hết lời gián can,

Khuyên hãy bỏ cái tánh bạc cờ,

Không kể ai làm điều nhuốc nhơ,

Của tiền tuốc lơ,

Đến bây giờ, cơn hối ngộ, sự đã rồi,

Dẫu có tính thế nào cho xong,

Chàng đừng trông mong,

Làm chi cho thêm bận dạ,

Vợ chồng của ta lại bận mẹ cha.

Thậm Kế:

Ối thôi chớ nói gần xa,

Trước sau chết sống cũng ta,

Nói chi cho rộn tấm lòng thêm bận,

Bì cực thới lai, mấy ai muốn đặng

Những điều vinh nhục.

Nói:

Nầy con kia, đừng nói chi cho thêm việc rộn ràng, dẫu sống thác cũng ta liệu biện, đã chẳng lo huyền biến, còn kiếm chuyện thêm rầy, ta nói thiệt, mau ra cho khỏi nhà nầy, chớ ở đó mà gây đại sự, đa.

Kim Xuyến nói:

Cha chả! Đó đã toan làm dữ, đây há tính việc lành, thà một phen phân cách cho rành, để nhiều bận càng thêm báo hại.

Ca Long Hổ Hội

Thà thôi đành, xa nợ duyên,

Khỏi lao công, khỏe nhọc sức,

Tình phụ phu nay đà ly biệt,

Cho an phận hồng nhan.

Thậm Kế:

 Mau dời chơn, chớ ở nhà ta,

Thêm kiếm chuyện rầy rà,

Thà mình ta khỏi điều sai ngoa,

Vẹn gìn thất gia, cũng qua tháng ngày.

(Thậm Kế bỏ đi vô).

Kim Xuyến nói:

Ôi thôi! Đành dứt chữ ước vàng hẹn đá, cam nỗi thân nợ tuổi duyên sầu, ai sui chi gặp gỡ buổi đầu, nay lại khiến phân lìa lúc nọ.

Ca Vọng cổ Hoài Lang

Sầu tình ai có rõ,

Cuộc vay trả đến nay nhãn tiền,

Vì xưa lỗi vòng với bạn hiền,

Làm ra cuộc thảm nỗi phiền,

Từ đây đã cam lỡ làng,

Phận hoa tàn biết ai đỡ thân,

Nầy cao xanh ôi! Ông có thấu,

Thân má hồng trụy lạc đòi phen,

Suy luống suy thêm thẹn,

Kìa trăng thề ai có tường chăng.

Người nỡ đành dứt dây xích thằng,

Để thiếp chịu đeo sầu.

Ôi kìa ôi mẫu thân,

Con cam lỗi niềm thần tỉnh mộ khang,

Nghĩ luống tủi tấm thân hương tàn,

Chốn suối vàng còn mang ân thâm,

Cụm mây đầm, gió dập về tây,

Nghĩ giọt lụy rơi đầy,

Tủi má đào éo le lắm thay.

Nói:

Ôi, uổng công bấy lửa nồng hương đượm, may hóa ra keo rã hồ tan, cũng khó mong trở lại gia đàng, thà quyết nguyện theo ngôi tà rạng, nầy mẫu than ôi! Cớ sự nầy mẫu thân có hãn, đến điều ni con cam phận lạc loài.

Ngâm:

Tủi duyên ai khéo đặt bày,

Mưa sầu gió thảm trong ngày tro rơi.

Tử sanh sanh tử một đời,

Đánh liều nhắm mắt số trời phải âu.

(Bỏ màn giả, đổi tableaux nhà Kỳ Trung).

Thái Bửu nói:

Mối buồn chưa an dạ, mạch thảm khó khuây lòng, nghĩ thương thân phận cô bàn, luống tủi nỗi niềm cang lệ, nhớ xuân uyên tấm lòng đáo để, tưởng người xưa tất dạ bưng khuâng, giọt hồng não không ngưng, lệ tình sầu nào dứt, nghĩ lắm nghĩ càng thêm ái truất, suy cho cùng luống những xót xa.

Ngâm:

Xơ rơ giọt nước Giang Hà,

Tủi sầu ai có rõ mà cùng chăng,

Ca Hành Vân

Bận thay lòng, hiu quạnh thơ phòng,

Đêm đợi ngày trông,

Duyên túc đế, bao thuở đền xong

Cho thỏa cơn tâm tình ước vọng,

Ôi duyên liễu, gánh tình chung dạ hằng mỏi mong.

Ai có tường mấy thu não nồng,

Người tư vọng, kẻ đợi trông,

Nghe tiếng ngô đồng,

Chạnh lòng mấy đoạn, nhớ tình xưa nào nguôi.

Đêm thơ thẩn,

Luống những ngậm ngùi,

Biết bao đặng chung cùng,

Mối niềm loan đồng tâm.

Ôi mấy lời với bạn tri âm.

(Kỳ Trung ra)

Cảnh sầu đau đớn,

Xiết bao thỏ lặn dế ngâm.

Kỳ Trung nói:

Nầy em, khuyên em bớt mua sầu chát thảm, gắng công danh đèn sách bấy lâu, muốn cho bước đặng trước thềm sâu, mựa chớ nệ bụi rừng dặm thẳm, nào những lúc lầu son tú cẩm, nay đến cơn gió dập, mây đàng, vì vậy nên.

Ngâm:

Ước ao danh phận rỡ ràng,

Bỏ cơn nguy nẻo, lên đường hiển vinh.

Ca Ngũ Điểm

Triều đình nay mở hội thi,

Em lo liệu ngỏ đi tựu trường.

Hầu cho trọn nghĩa với quân vương,

Mai danh rạng rỡ danh tông đường.

Thái Bửu nói:

Dạ thưa anh, bấy lâu luống trông cho mở hội, nay gặp cơn mây thoảng gió hòa, quyết ra đền ơn nước nợ nhà, hầu khỏi thẹn cho phần nam tử, đó anh.

Kỳ Trung nói:

Nầy em, nơi kinh địa đường xa diệu viễn, lướt trải qua thủy tú sơn bồng, nẻo trước sau em hãy đề phòng, đường xa cách ráng hòn gìn giữ, đặng lo bề thi cử, chớ đắm việc du phương, ngỏ gắng công lên chốn quan trường, cho rõ mặt phi thường dưới thế.

Ngâm:

Thôi thôi em hãy sửa sang,

Đợi ngày trổi gót tựu trường ứng thi.

(Kỳ Trung bước vô buồng, Hoằng Mai ra).

Bửu nói:

Ủa nầy em! Cha chả! Mảng ngồi trong dạng ngọc, đến hao mỏn mình vàng, mỏi mong đêm lụn canh tàn luống đợi màn lang trướng phụng.

Hoằng Mai nói:

Dạ thưa chàng, bởi gió tần mưa sở, nên én bắc nhàn đông, đêm năm canh hiu quạnh loan phòng, ngày sau khắc ngồi trong cội bóng.

Thái Bửu nói:

Mảng trăng ước vọng, đôi thuở tao phùng, đến nay, thề non hẹn biển mạch tình chung, tưởng gió mơ trăng giềng song lệ.

Hoằng Mai nói:

Dạ thưa chàng,

Ngâm thi

Lửa hương kẻ đợi với người trông,

Cầm sắc vườn xuân điểm giọt hồng,

Phỏng bấy trang, trai tài gái lịch,

Xiết bao tuyết đượm ngọn sương nồng.

Nói:

Thưa chàng, phụng loan đương phố hiệp, sau mảng diện lại sầu nhan, tâm sự ấy chưa tàn, ngửa xin chàng phân lại.

Bửu nói:

Nầy em ôi! Mai là ngày dời gót, phân kẻ ở người lui, chốn trường an để dạ ngâm ngùi, nơi phòng ngọc ôm lòng sầu não, vì vậy nên:

Ngâm:

Tủi duyên liễu yếu tơ mành,

Chữ tình bận bịu khôn đánh lấp khuây.

Ca Hành Vân

Chạnh thương nàng, đêm lụn canh tàn,

Vắng vẻ phòng loan, nằm thao thức.

Tất dạ khôn an, nghĩ thương thân phần bạn,

Đào thơ yến,

Chốn sau trước gối chích nệm nghiêng,

Tủi nỗi niềm xiết bao lửa phiền,

Hoằng Mai:

Lời chàng phân cạn, xúc động lòng tơ,

Quyết trọn một thờ

Ấy niềm cang lệ vẹn cùng nhau ngàn năm.

Từ đây luống, đêm đợi ngày trông,

Vắng vẻ trướng phòng,

Tỏ cùng ai lòng thương,

Thái Bửu:

Chốn kinh kỳ trải gió dầm sương,

Tuyết sa ngọn cỏ,

Xiết bao, những mạch sầu thương.

Nói:

Giọt sương điểm trắng, trống mặt vừa tan, âu là: giã nhau đương lúc canh tàn, dặm kinh địa băng ngàn gót ngọc.

Ngâm thi

Gượng khuây trổi gót bước lên đàng,

Tất dạ thương em quạnh phòng loan,

Hoằng Mai:

Nước thảm trách ai sao khéo gởi,

Lửa phiền hơn kẻ nỡ vương mang.

Nói:

Nầy chàng ôi! Dứt tình nặng đưa chàng thượng lộ, gạt giọt sầu trở lại phòng sương, chúc lang quân đôi chữ an khương, đầu tiện thiếp cúi xin hai lạy.

Ngâm:

Một chung tiễn ngọc đưa chàng,

Bửu:

Dập sầu giã bạn đôi hàng lệ tuôn.

————- Hạ màn —————-

Còn tiếp.

Related Images:

Bùi Tấn Phước – Kết Nghĩa Phi Tình: 06 – Màn thứ sáu

Vài lời từ người đánh máy

Vở tuồng Cải lương Kết nghĩa phi tình được viết và in vào năm 1927. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c trong cách viết để tránh những hiểu lầm về chính tả so với hiện đại.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1927, định dạng pdf theo link.


Bùi Tấn Phước - Kết Nghĩa Phi TìnhTuồng hát Cải lương: Kết Nghĩa Phi Tình

Chủ bổn: Bùi Tấn Phước

Phát hành: In tại nhà in Xưa Nay, NG. Háo Vĩnh, SAIGON – 1927


Kết Nghĩa Phi Tình: 06 – Màn thứ sáu

Xót phần Thái Bửu gian nan chưa dứt khiến lạc vào đèo,

Động chí thần linh đưa chàng ra khỏi núi.

(Tableaux Quán, 1 mình thằng Quán ngồi)

Quán nói:

Mỹ Yên nơi nương ngụ, lập quán tại tam kỳ, đã mấy phen lỡ hội khoa thi, tôi vốn thiệt chánh danh Năm Kiệu, rượu trà cũng hiểu, hút xách lại rành, nhưng mà, nhờ tổ tông phước hậu còn dành, nên nhà mổ, mới có tiền lập quán, nghĩ lại nghề buôn bán, gẫm nhiều anh thật khó trăm bề, nhậu no say chẳng chịu bãy-dê (Payer), muốn cho sướng không lạt-rắng (l’argent) nếu chẳng nghĩ buôn lời nhiếc mắng, thì sợ e bị chúng tấp-pê (taper), việc bán buôn nghĩ lại mà ghê, điều trái phải suy ra càng sợ, thiệt gẫm lại nghề nào chẳng qua nghề ở đợ, phải ở chơi chẳng phải thì thôi, chớ nếu có quán như tôi, mà cứ bon-bua (bon pour) thì mau hết vốn, thôi, sớm mai giờ nói rộn, mà cơm nước chưa toan, mau lo sắp đặt sẵn sàng, lấy sách đọc bắt hoàn giải muộn

(cầm sách đọc)

nội gia tùng phụ xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử, làm người phải xử, cho trọn ba tùng, trước con vợ tùng chung, sau tùng giường tùng chiếu, chẳng chờ ai biểu, phải hiểu ba tùng, tối tùng phải giăng mùng, mai tùng lo quét tước, mấy tùng đều được, thì ắt tùng nên, học đã hết tùng trên, mới sang lên tùng dưới

(kế Thái Bửu bước ra).

Thái Bửu nói:

Dặm mai xa diệu viễn, cụm liễu cách quan sang, xông pha gió bụi chẳng màng, lướt bước chông gai đâu quản, phút thiều quang chói rạng, ác thỏ đã trầm xa, bỗng thấy mái hiên gia, âu là, gượng kêu cửa hỏi qua cho biết, hỡi ai xin làm phước, mở cửa chỉ giùm đàng, vì người ngay lâm phải tai nàn, bởi lỡ bước nên sang lạc nẻo.

Quán nói:

Ai đến đây kêu réo rằng lỡ bước lỡ đàng, thôi thôi, mau đi khỏi cho an, đừng ở đó hại toan quán mổ.

Thái Bửu nói:

Xin mở lòng tế độ vớt giùm kẻ trầm luân, bởi xa xuôi đường sá chưa từng, xin mở lượng cho nương khỏe bước.

Quán nói:

Đói bụng hay là khát nước, thì cứ vô mổ dọn cho ăn, để đứng nói lăng xăng, thêm liếu lăng nhiều chuyện.

(Quán mở cửa ra Bửu vô)

Chào cậu, cậu muốn ăn món chi, mời cậu ngồi.

Thái Bửu nói:

Quán chú bán món chi rẻ xin dọn cho tôi một bữa.

Quán nói:

Như quán tôi đây:

Ca Kim Tiền

Quán tôi đây, mỹ miều thiếu chi

Như quí khách muốn dụng vật gì,

Cơm nếp hấp thịt gà roti bánh mì carie,

Cua xào mì, thịt phay luộc, giò heo hầm,

Rượu absinthe robin martell amer picon,

Bordeaux champagne để dụng

Giá tiền một chai deau piastre cinquante

Bánh bao bánh xếp café

Bông lang để khách dessert

Chuối cau chuối hột ê hề vật dụng

Như bụng muốn ăn món chi nói lại

Quán ra công dọn.

Thái Bửu nói:

Cha chả, trong lưng tôi ít bạc, vật chủ bán nhiều tiền, thôi, ngửa xin chủ cảm phiền, dọn một mâm hai quan rưỡi đặng chăng?

Quán nói:

Sớm mai chưa mở hàng mà chơi hơi gì đâm họng quá

(Đi dọn cơm ra, Nửu ngồi ăn rổi).

Thái Bửu nói:

Ác nhen lặng trời xem đã tối; dặm xa xuôi khó nổi dời chơn, nầy chú quán, xin sửa xong một chốn phòng đơn, minh nhựt sẽ dời chơn lướt dặm.

Quán nói:

Không hề gì, quí khách cứ việc nghỉ ngơi cho khỏe, đặng mai có lên đường, còn tôi mắc ngủ trong nầy đặng giữ rổ hột gà để ba con chó vô tình nó chia trước, ắt là khó chơi lắm chớ phải dễ đâu.

(Quán vô).

Thái Bửu ngồi than:

Cha chả! Nghĩ ngao ngán cho nhơn tình thái thế, thật lắm điều phú trọng bần khinh, nợ ba sanh ta chưa vội dứt tình, duyên kim cải người nỡ đành vong nghĩa, đến nay, thân nổi trôi nơi khách địa, biết nơi nao nương phận chỉ mành, cung kiếm kia chưa trổ tài lành, non sông nọ sao đành vội cạn.

Ca Vọng cổ Hoài Lang

Nguồn đời thêm ngao ngán,

Kể xiết bấy nỗi gian truân,

Ngồi suy chứa chan không ngừng,

Thương cho phận mỏng cánh chuồn,

Làm chi kỉa mai thêm bận,

Nhánh ngô đồng gãy ngang, rẽ bầy phụng loan,

Tài tình ghen ghét bấy,

Cao xanh đành nỡ khuấy mày xanh,

Ân oán chi con tạo,

Nguồn cơn nầy có thấu cùng chăng,

Kìa non mòn bóng trăng hãy còn,

Niềm sanh dưỡng chưa tròn,

Lòng trời bao chẳng thương,

Số hệ nầy có rõ cho phận hiền lương,

Khen cuộc khéo thay xây vần,

Đã cam phần nổi trôi, đó thôi,

Kìa bởi cha già, số cha bạc, chịu làm ma,

Xin hiển hiện cõi ta bà,

Ứng hộ mà cho con dặm xa.

(Trời rạng sáng quán bước ra).

Nói:

Nầy chú quán, ơn người tạm nghỉ, tiền bạc đáp xong xui, có vậy, chia tay dặm liễu ta lui, giã mặt quán trung người ở.

Quán nói:

Thôi thôi:

Ngâm:

Chúc cho khỏe bước lên đường,

Thái Bửu:

Trông chừng theo cụm mây luồng xa xa.

(Bỏ màn, giả đổi tableaux non núi).

Bửu (ra) nói:

Đoái xem bóng thiều quang đã cận, dặm thăm thẳm còn xa, trước sau chẳng có cửa nhà, tứ phía những là non núi, lước xông vào rừng bụi, gượng lần bước đường mai, bởi số xui sau phận lạc loài, vì hệ khiến phải sao chịu vậy.

Ca Giang Nam

Số sao khiến cho thân,

Nguồn cơn sầu vấn vương,

Ra nỗi thân phận bạc,

Ai có rõ cho thân nầy,

Trời xui lận đận như vầy,

Người cam chịu long đong,

Ôi hồn cha có linh.

Nương gió hòng độ con,

Trời ôi biết nơi nao ra đặng,

Bốn phương trời tối đen,

Gượng lần dò leo, nấc đá treo trên đèo,

Nhành chim chiu chít vang vầy,

Gió thoảng ngâm sầu,

Ôi hỡi nầy xuân uyên,

Phận trẻ lạc loài, nơi chín suối có hay,

Phần số sao, trần duyên chịu mãi thôi,

Ai có hay non nước nỗi nầy,

Phen lắm phen gốc biển ven trởi,

Chua xót dạ thôi bạc số đã đành,

Cho mát dạ đất trời,

Cứ đoanh đeo mày xanh

Nói:

Thấy nhen nhen bóng đỏ, nhấp nháng ngọn đèn hồng, ủa lạ, đây là chốn rừng tòng, mà sao lại vẫn có người lai vãng, kìa.

(Huỳnh viên ngoại hiện hồn).

Huỳnh viên ngoại nói:

Cho con đặng hãn, cha tánh Huỳnh viên, trước hủy thân xuống chốn huỳnh tiền, nay hiển thánh đưa con qua núi.

Ngâm Bát Cú

Thấy con kiếp số chịu đoạn trường,

Tất dạ ngậm ngùi động lòng thương,

Đưa trẻ thơ ngây qua khỏi núi,

Mách con đặng hãn dứt tai ương,

Lưu giang trổi bước tìm nghĩa cũ

Dương hoằng mai nữ gởi cang thường,

Thôi thôi con ở lần gót ngọc,

Chơn rạng hồn cha lại miễu hương.

Thái Bửu nói:

Cha ôi! Chậm chậm mà đợi con với, cha ôi!

(Huỳnh viên ngoại biến)

Gặp nhau chưa đặng cạn lời, viên lộ cha đà hồn biến, giọt lệ hồng lưu luyến, hột ngọc thảm nào nguôi.

Ngâm:

Số sao luống chịu ngậm ngùi,

Thương cha tất dạ, sụt sùi đòi cơn.

Ca tiếp Xuân Nữ

Lòng thêm xót bấy cái phần linh đinh,

Rày đây lỡ bề trung hiếu,

Trời bao đành chẳng thương,

Nỡ khuấy khách rối nguồn tơ,

Lòng cha thương trẻ xót phần phiêu lưu,

Ôi thôi gượng bước khỏi đèo,

Trời đã khiến số người phải âu.

————- Hạ màn —————-

Còn tiếp.

Related Images: