Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên: 03 – Đệ nhứt hồi – Phần 02

Vài lời từ người đánh máy

Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên do Bùi Quang Nghĩa – Thủ thoa Nghĩa sáng tác và in tại Imprimerie de L’ouest, Cần Thơ, Nhà In An Hà, năm 1932.

Chữ Quốc ngữ vào những năm đầu thế kỷ 20 có khác so với chữ hiện đại. Tôi có “sửa vài lỗi về chính t” nhưng vẫn giữ nguyên cách dùng từ, hành văn.

Độc giả có thể tham khảo Bản in gốc năm 1933, link PDF.


Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ DuyênKim Thạch Kỳ Duyên: Đệ nhứt hồi – Phần 02

Hỏa Long chủ trại lâu la, cướp ghe quan phủ Đình Quí, bắt bà Giải thị về làm vợ. Giải thị muốn tự ải theo chồng, nhưng phải nhẫn nhục mà nuôi thai.


Tiêu Hỏa Long bạch viết:

Thần cung nhứt bả, quải phò tang,

Thiên hạ anh hùng mạc cảm đang;

Sử ngả cẩm phàm, kình ngạc tiềm tôn bắc hải,

Huy ngô bửu kiếm, tì hưu viễn tích nam san.

Hựu viết:

Đại Lư san hùng cứ nhứt phang,

Ngả trại chúa Hóa Long thị dã. Như ta,

Chiếm cứ nhứt châu thiên hạ, tự xưng Giang Hải đại vương;

Giấu vuốt nanh chờ vận Võ Thang,

Nuôi vai kiến cướp người thương khách.

Lâu la, bài khai kiếm kích, chỉnh túc thuyền sưu,

Truyền đoạn triệt giang đầu, ngõ truy tầm thương lữ.

Thiết Đình Quí viết:

Thăng Tây An tri phủ, Thiết Đình Quí thị danh,

Khăng thìn hai chữ trung thành, nắm giữ một câu cẩn thận.

Như ta, cùng Giải thị duyên vầy loan phụng,

Roi THiết gia chưa ứng bi xà,

Trước đà vưng lịnh hoàng gia, nay phải tới chăng trọng địa.

Giải thị viết:

Từ sánh duyên se chỉ, đà đẹp phận nưng khăn,

Mừng nay tam ngoạt hữu thần, xin đặng nhứt thuyền phó lị.

Đình Quí viết:

Thị thiết gia hoan hỉ, vậy ta, hứa hiền phụ đồng hành.

Đà công, phú đà công nhẹ tách đòng xanh,

Ra trọng địa vỗ an con đỏ,

Vãn viết:

Trọng địa vỗ an con đỏ,

Mây móc nhuần cây cỏ càng tươi,

Dương xuân bủa một phương trời,

Ngựa tre đón rước, vui cười gió nhơn.

Giải thị vãn viết:

Chữ tùng đẹp đẽ tơ dươn,

Sớm khuya tiếng hạc tiếng đờn gần nhau.

Đình Quí viết:

Muôn trùng vọi vọi non cao,

Trăm khúc minh minh biển thẳm, nọ.

Đất đã sanh thế hiểm, sóng lại vắng người đi,

Đà công, phú đà công tu khả thận trì,

Quá thử địa tối vi sầm tịch.

Hỏa Long viết:

Một thuyền nhẹ tách, mấy ngựa ruổi theo,

Kíp bẻ lái rút chèo, mau giết người lấy của.

Đình Quí viết:

Thất thố chơn thất thố, chí kinh thị thí kinh.

Ớ phu nhơn, hoại ngô vạn lý tiền trình,

Cố ngả nhứi ngôn cốt huyết.

Vật khả chấp kinh tuận tiết, tu đương nhẫn nhục tồn cô.

Tặc thủ bất nghi ô, giang trung đương tự tận.

Giải thị viết:

Chung thiên bảo hận, phũ địa trường hô,

Khởi khả sự nhị phu, quyết tự nhương nhứt tử.

Hỏa Long viết:

Cấp bảo trụ, cấp bảo trụ, vật khinh sanh, vật khinh sanh.

Xem qua phải sắc khuynh thành, đem lại thay ngôi chủ trại.

Giải thị viết:

Thề hẹn ấy nước non không cải, gian nan nầy trời đất có hay,

Lá sương chi quản tấm thân nầy,

Hột tuyết còn mang hòn máu đỏ. Như ta,

Ngộ biến đã mang lấy hổ, tùng quyền còn kể chi mình,

Lấp cơn sầu hồn dõi dòng xanh.

Lau giọt thảm máu rơi nước bích.

Ai vãn viết:

Giọt thảm máu rơi nước bích.

Thương phận mình giá sạch ra nhơ,

Dây oan khéo vấn sờ sờ, vì ai chẳng trọn một thờ với ai;

Gặp khi sóng gió giữa vời,

Thương vì máu mủ đổi dời non sông.


Mời coi tiếp

Related Images:

Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên: 02 – Đệ nhứt hồi – Phần 01

Vài lời từ người đánh máy

Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên do Bùi Quang Nghĩa – Thủ thoa Nghĩa sáng tác và in tại Imprimerie de L’ouest, Cần Thơ, Nhà In An Hà, năm 1932.

Chữ Quốc ngữ vào những năm đầu thế kỷ 20 có khác so với chữ hiện đại. Tôi có “sửa vài lỗi về chính t” nhưng vẫn giữ nguyên cách dùng từ, hành văn.

Độc giả có thể tham khảo Bản in gốc năm 1933, link PDF.


Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ DuyênKim Thạch Kỳ Duyên: Đệ nhứt hồi – Phần 01

Ngạn yêm lãnh chiếu chỉ đi trấn Bồ Châu. Vợ chồng Lâm Vượng kết nghĩa sui gia cùng quan huyện mà gả nàng Ái Châu cho Kim Ngọc.


Ngạn Yêm viết:

Hương vầy đinh giáp, móc gội vườn xuân.

Tiên té lừa dặm liễu vui mừng,

Sĩ biêu ngựa đường hoa hớn hở.

Sanh gặp đời Tống Tộ, tôi biểu tự Ngạn Yêm,

Lên thang mây đã tạn cung thiềm,

Vỗ cõi sấm ngửa vưng chiếu phụng.

Như ta, nhà nước đã thấy tài hữu dụng,

Giả chăng như tôi là nhứt cá thơ sanh, lạm đăng khoa giáp.

Nay lịnh thiên tử, ngài cho ta tể bách lý tiên đạo vinh qui.

Mần ri ni là, non sông thêm rõ mặt phi thường.

Quân, áp hầu.

Trước về bái tạ gia đường, sau sẽ xuất ưng dân xã.

Vãn viết: Sau sẽ xuất ưng dân xã,

Cuộc dinh hườn, vẻ lạ non sông.

Nửa ngàn gặp hội vân long,

Ướm tay chế cẩm, suy lòng phang tiêng.

Hà Nam đoái đã tạn miền,

Đầy sân liễu múa, chói hiên huê cười.

Lâm Vượng viết:

Phú hộ trẻ với đời, Lâm Vượng khoe danh mỗ,

Như ta, nói cho phải … nhờ hơi kẻm nghiệp nên đồ sộ,

Còn, kết dải đồng bạn cũng hẳn hòi.

Mình không trai, nghĩ đã thiệt thòi,

Sanh những gái, á, càng thêm mệt nhọc.

Tố Châu là gái út, Ái Châu thiệt thứ hai.

Như con gái út tôi là, thiệt thà đức hạnh không sai.

Sau nó có, gặp gỡ lứa đôi mặt thích. Con đó chẳng nói làm chi,

Chớ như con gái lớn tôi là, dung mạo tài tình rất lịch,

Lại thêm, cầm kỳ thi hõa đều thông.

Ai ngờ là may, trai văn vật khéo xui gặp lứa.

Số là, có con ông thủ khoa tên nó là thằng chi chi đây …

Ờ ờ phải, tên nó là thằng Kim Ngọc.

Cái thằng làm sao mà, diện mạo phải trang tài tử,

Còn, tư dung nên đứng nho phong;

Lại có tiếng thần đồng, ai cũng nhường văn học nó hết thảy mà!

Đã biết tôi giàu thời mặt lòng, nhưng mà dễ làm sui với ổng đặng hay mình răng!

Nhờ giáo thọ mở lời mai ước, nên,

Mới cùng giải nguyên kết nghĩa thông gia;

Sang giàu đã xứng sui gia, tài sắc lại nên dâu rể.

Nay chỉ sai ông sui tôi ngồi Bồ Châu tri huyện.

Cho nên tôi, bữa diếp qua đưa phó lị lời giao sau sẽ thành thân.

Gẫm con đã nên thân, khen lão đà tốt phước, đi mụ.

Trương thị viết:

Ông nong nả tìm cho đặng ngọc,

Mụ phập phòng, sợ những uổng châu;

Ông sui đà khoa hoạn cài đầu, chàng rể ắt trăm anh nối gối.

Lâm Vượng viết:

Lời hôn cấu nay đà ràng buộc, vẻ nhơn duyên sau ắt rỡ ràng.

Như thằng Kim Ngọc, đừng nói sau nó đặng làm quan,

Nay mừng trước chúng kêu bằng cậu.

Thấy tịch thượng tưởng đành dạ mụ,

Vậy thời, việc gia trung phải tỏ với con;

Nghĩa thất gia hầu đã vuông tròn,

Còn, bề khuê khổn khá tua vẹn vẻ.

Lâm Ái Châu xướng viết:

Vạn ban kiều diệm vạn ban xuân,

Băng ngọc hồn vô bán điểm trần;

Thanh điểu cận lai, truyền hảo tín,

Hồng lâu ngâm vịnh uổng thương thần.

Hựu viết

Thiếp Ái Châu tót bực hồng quần,

Cha Lâm Vượng nên trang cự ti.

Như tôi là, kiều diệm Tây Thi khá ví,

Còn, thông minh Đạo huấn chi hơn;

Cho nên, ví trân châu báu lạ khôn nhường,

Cùng Kim Ngọc duyên lành mới gá,

Như cha chồng tôi, đỗ tĩnh thí ra chăn dân xã,

Còn chồng tôi, tiếng thần đồng đã nức hương lân,

Có phải, rõ ràng một mặt phu nhân, cao tót phô loài phàm nữ.

A hườn! đòi Môi ẩu đây,

 Môi ẩu viết:

Mới lãnh lời tì nữ, vào đãi lịnh quới nương,

Đòi việc chi vốn mụ chưa tường, xin phân lại cho già đặng rõ.

Ái Châu viết:

Số là trẻ ở với tôi cũng năm bảy đứa,

Nhưng mà, xem nô tì mấy gã, chẳng vừa mắt một con;

Tôi muốn, tìm một đứa cho vẻn vang mày mặt,

Lại nhiều ít bút nghiên cho biết cách.

Đặng mà, khi xuất giá sửa đờn soạn sách,

Còn, lúc tại gia hắn vấn thuốc, pha trà;

Xin đó gắng công già, thời đây đền nghĩa trẻ.

Môi ẩu viết:

Cô đà dặn thế, tôi phải lần mò,

Xin cô chớ có lo, đến tôi thời phải đặng.


Mời coi tiếp

Related Images:

Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên: 01 – Tiểu tự

Vài lời từ người đánh máy

Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên do Bùi Quang Nghĩa – Thủ thoa Nghĩa sáng tác và in tại Imprimerie de L’ouest, Cần Thơ, Nhà In An Hà, năm 1932.

Chữ Quốc ngữ vào những năm đầu thế kỷ 20 có khác so với chữ hiện đại. Tôi có “sửa vài lỗi về chính t” nhưng vẫn giữ nguyên cách dùng từ, hành văn.

Độc giả có thể tham khảo Bản in gốc năm 1933, link PDF.


Bùi Quang Nghĩa – Tuồng Kim Thạch Kỳ DuyênKim Thạch Kỳ Duyên: Tiểu tự

Biển dâu qua lại, xưa nay trải mấy mươi năm,

Trời đất xây vần, thay đổi biết bao nhiêu cuộc.

Câu phước thiện họa dâm là lẽ chánh,

Chữ dinh hư tiêu trưởng ấy việc thường.

Ta từng xem cổ tích điển ca,

Lòng chạnh cám giải nguyên Bùi thị.

Kỳ Duyên ba thứ, lớp phô trương sử mã dõi truyền,

Cẩm tú ngàn câu, chữ bao biếm kinh lân roi để.

Giàu như Lâm Vượng giàu mà trược phú,

Học như Ngạn Yêm học cũng nho tông.

Thầy như Thạch Đạo Toàn mà bị nạn sảnh tai,

Quan như Thiết Đình Quí đã uổng danh tuần lại.

Khen bấy Kim ngọc cang thường vẹn vẻ,

Khôi khoa đảnh giáp sẵn dành phần;

Khổ cho Thuần Cương tao ngộ dở dang,

Nghiệt trái oan khiên nhiều nỗi thảm.

Thương Tuấn Kiệt lầm tay yêu đạo,

Giữa chiến tràng đành gởi xác trung thần;

Cám Giải nương yêu ấp cừu nhân,

Dòng bích thủy thả trôi thây liệt phụ.

Vô Hà gái gồm no tài đức,

Nên danh chồng đền đáp nghĩa cù lao;

Ai Châu nàng rập rận nguyệt hoa,

Cậy thế quí, phụ phàng ơn cúc dục.

Căm giận Hóa Long hải khấu,

Ghé ngôi thần mà đạo quả xưng cô.

Nực cười Lư Khải gian thần,

Ăn lộc chúa mà khi quân mại quốc.

Lợi phủ cha con tàn ngược,

Bị Tăng gia đà phục thọ quốc hình.

Hư Vô thầy tớ trụ trì, phước Bồ Tát trùng tu phạm điện.

Thiệu Cơ Kim Tố ai chẳng khen văn võ toàn tài,

Tố Châu Nguyên Cô trời đã định lương dươn túc đế.

Dũ Đức trọng nghì làm tớ, hoàng phong ngũ phẩm,

Ruồi bu đuôi ngựa cũng nhờ hơi,

Đà Đầu dốc trả thù anh, phấn động thiên binh.

Chấu chống xe rồng không lượng sức.

Báo ứng chung vô sảng,

Dẫu cao phi viễn tẩu cũng nan tàng.

Nhơn do cánh vấn thùy,

Suy cổ vãng kim lai đều khá nghiệm.

Dám đâu khoe khoang chữ nghĩa,

Chẳng qua là háo cổ mà thuật cựu kiến văn,

Yêu là yêu tuyệt diệu văn chương,

Nên phải mượn tay thợ mà ấn hành xăm khắc.

Ngàn dặm nhàn nhơn ghé mắt,

Mặc dầu khi khuyến khuyến trừng trừng,

Bốn phương quân tử vui lòng, mặc dầu lúc phi phi thị thị.

B.Q.N


Kim Ngọc tự Vân Trình, con Ngạn Yêm.

Ái Châu, Tố Châu con gái Lâm Vượng và Trương thị.

Vô Hà, Hữu Quang con thầy Thạch Đạo Toàn.

Lý Thiệu Cơ, thầy dạy con Thạch Đạo Toàn.

Hóa Long, chủ trại lâu la.

Thuần Cương con Thiết Đình Quí và Giải thị.


Mời coi tiếp

Related Images: