Trịnh Hoài Đức – Các bài thơ Nôm: Đi sứ cảm tác – Bài XVII và XVIII

Trịnh Hoài Đức - Các bài thơ Nôm: Đi sứ cảm tácĐi sứ cảm tác – Bài XVII

Mê mang cho đến bụt là tiên, (1)

Năm đẩu năm (2) bài giả dạng điên.

Vui sẵn trước hoa vài đóa cúc,

Lo chi trong đãy (3) một đồng tiền.

Lưu Linh (4) vợ lại khôn từ (5) chén (6),

Lý Bạch (7) vua kêu chẳng xuống (8) thuyền.

Hầu muốn học đòi theo thế ấy,

Song lo thời thế hãy chưa yên.

Chú thích

(1): Có sách chép là Mê mang chưa đến bậc là tiên.

(2): Có sách chép là trăm.

(3): Có sách chép là túi.

(4): Lưu Linh: người đời Tấn, hay uống rượu.

(5): Có sách chép là thôi.

(6): Có sách chép là Lưu Linh vợ lạy, không rời chén.

(7): Do câu thơ cổ: Thiên tử hô lai bất thưởng thuyền (Vua cho gọi (Lý Bạch) chẳng xuống thyền ngự chầu hầu).

(8): Có sách chép là … chẳng nối …


Đi sứ cảm tác – Bài XVIII

Chưa yên ta phải tính làm sao,

Cơm áo ngồi không dễ đặng nào?

Phải (1) mượn binh sương trừ giặc cỏ,

Lại đem trận gió phất cờ lau.

Đất (2) Yên cõi Việt rừng nho rậm,

Trời giúp nhà Ngu (3) biển thánh cao.

Mới biết (4) tài non đền nợ nước,

Dám đâu nói chuyện ẩn nguồn Đào. (5)

Chú thích

(1): Có sách chép là Đã.

(2): Có sách chép là Nước.

(3): Đời vua Thuấn, họ Hữu Ngu.

(4): Có sách chép là Mới rõ …

(5): Do chữ Đào Nguyên, ý chỉ cảnh tiên.


Kết thúc tuyển tập thơ Nôm của tác giả Trịnh Hoài Đức.

Cảm ơn bạn đọc đã theo dõi.

 

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 158 – Thủy liễu

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 158 – Thủy liễu

Phiên âm (*)

Tiêm yêu nhĩ diệc luyến phong trì,

Bất trục Tùy đê (1) trục Việt my.

Hoa đĩnh tiểu điều hồng thốc thốc,

Quả thùy nhu diễu lục ly ly.

Tùng nhiên hỏa thụ tàng huỳnh dạ,

Căn bố châm phong xuất duẩn thì.

Bán mẫu lương âm ngư tác quật,

Nhật cao, do kiến điếu thuyền duy.


Dịch nghĩa: Vịnh cây liễu nước (Cây bần)

Thân cây như lưng cô gái nho nhỏ, thướt tha yếu đuối, vẫn nhờ làn gió nâng niu,

Nay không phất phơ ở bờ đê nhà Tùy, mà lại ở bờ sông đất nước Việt.

Trên cành hoa nở từng chùm, chập chồng đỏ ối,

Đầu cành quả leo hàng chuỗi, núc nĩu xanh rì.

Ban đêm đom đóm núp trong bụi lập lòe sáng như cây lửa,

Đến mùa mầm non mọc dưới gốc tua tủa nhỏ tựa mũi kim.

Dưới bóng mát, nửa mẫu ao, có hang cá ở,

Sáng ngày mặt trời mọc đã cao, vẫn còn thấy thuyền câu buộc ở dưới gốc.


Chú thích

(1): Tùy đê: Đê nhà Tùy, có trồng cây liễu cũng hay được gọi là Liễu đê.


Hoài Anh dịch thơ

Lưng ong nhờ gió nâng niu,

Bờ sông nước Việt yêu kiều đứng đây.

Từng chùm hoa đỏa cành sây,

Quả đeo hàng chuỗi, xanh dầy lao xao.

Ban đêm đom đóm sáng sao,

Đến mùa, mầm dưới gốc ào ạt đâm.

Dưới ao có hàng cá ngầm,

Thuyền câu buộc dưới bóng râm, thanh bình.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 157 – Thương đệ tam tam tử Thiên Hóa

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 157 – Thương đệ tam tam tử Thiên Hóa (1)

Phiên âm (*)

Trầm kha vô xứ mịch y thần,

Ai nhĩ liên miên tật bệnh thân.

Nhất tuế nhượng du Nhan Tử (2) thọ,

Cửu nguyên dĩ phản Tất viên (3) chân.

Thê nhi tiên trục hoàng hùng mộng (4),

Thư kiếm chung mai Bạch Đế (5) trần.

Thê sảng phù quan tòng tổ nhật,

Duy huynh suy điệt đệ triền cân.


Dịch nghĩa: Đau đớn vì con thứ ba Thiên Hóa

Bệnh trầm kha không biết tìm vị thần về nghề thuốc ở đâu,

Thương con thân tật bệnh liên miên.

Còn thua tuổi thọ của Nhan Tử một tuổi,

Chín suối đã trái lại với cái chân của Tất viên.

Vợ con trước theo đuổi cái mộng gấu vàng,

Gươm sách sốt cuộc chôn vùi trong đám bụi thành Bạch Đế.

Đau đớn ngày phù quan về với tổ tiên,

Anh mặc tang phục em đội khăn.


Chú thích

(1): Thiên Hóa: tên con trai thứ ba của Trịnh Hoài Đức.

(2): Nhan Tử: cón có tên Nhan Hồi hay Nhan Uyên, là học trò giỏi của Khổng Tử nhưng chết sớm. Nguyễn Đình Chiểu có câu thơ rằng:

Thương thày Nhan Tử dở dang,

Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

(3): Tất viên: chỉ Trang Chu từng làm Tất viên lại.

(4): Hoàng hùng mộng: mộng gấu vàng, do câu Duy hùng huy bi, nam tửu chi tường (Mộng thấy con gấu con bi thì sinh con trai). Câu này ý nói Thiên Hóa vẫn mong có được con trai, nhưng rốt cuộc không có nên câu cuối mới nói ngày phủ quan, anh mặc tang phục, em đội khăn.

(5): Bạch Đế: tích Lưu Bị chết ở thành Bạch Đế.


Hoài Anh dịch thơ

Biết tìm đâu vị thuốc tiên?

Thương con bệnh tật liên miên không rời.

Còn thua tuổi thọ Nhan Hồi,

Suối vàng đã trái với lời Tất viên.

Mộng gấu vàng đã hão huyền,

Đành đem gươm sách chôn miền cỏ hoang.

Đau đớn thay ngày đưa tang,

Anh mặc áo trở, em choàng khăn xô.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 156 – Điệu Nguyễn Quế Cơ

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 156 – Điệu Nguyễn Quế Cơ

Phiên âm (*)

I.

Minh châu bách bài biện hà nan,

Vị ái tiêm yêu giới bạc hoàn.

Hương hiếu triêu huân năng tổn phế,

Hoa đam hiểu trích dị thương hàn.

Giáng đào mệnh đoản nhân phong đố,

Lạc tú tình đa hợp tị toan.

Khái tức lục y nhân bất kiến,

Đông tinh tam ngũ dạ hoành tàn.

II

Giới lộ điêu thương thán bỉ chu,

Áo y kinh đệ khổ như trà.

Yêu lâu nguyệt lạc liêm câu tịch,

Hoa chướng phong hàn kịch hưởng vô.

Di xiếu yêu đào đoan kết tử,

Chung hôi linh bạng hữu di châu.

Triếp lân vị thoát tân thư thảo,

Hòa mặc y thùy bạn lão nho.


Dịch nghĩa: Khóc Nguyễn Quế Cơ

I.

Minh châu trăm dãy phân biệt khó sao,

Vì yêu lưng nhỏ kỵ dùng lụa mỏng.

Thích hương buổi sáng xông có thể hại phổi,

Đam mê hoa sớm hái dễ bị thương hàn.

Đào đỏ mệnh ngắn bởi gió ghen,

Vóc đẹp đa tình hợp với số phận chua cay.

Than thở người áo lục không thấy nữa,

Sao phía đông năm ba chấm đêm lặn.

II.

Cây kiệu móc làm cho héo tàn, than cho người conga1i đẹp nhu mì kia,

Buồn rầu thổn thức ở phủ đệ trong kính lòng đắng như trà.

Lầu yến trăng lặn rèm móc lên hiu quạnh,

Bình phong hoa gió lạnh không có tiếng guốc vang lên.

Dễ chín rụng, đào non chắc chắn kết trái,

Cuối cùng thành tro, trai thiêng có hạt châu để lại.

Còn thương bản thảo cuốn sách mới chưa viết xong,

Hòa mực si là người bầu bạn với nhà nho già này.


Chú thích

(1): Tân toan: chua cay, khổ sở.


Hoài Anh dịch thơ

I.

Chuỗi châu, phân biệt dễ chi?

Kỵ dùng lụa mỏng, yêu vì lưng thon.

Xông hương hại phổi, sức non,

Hái hoa sớm lạnh e cơn thương hàn.

Gió ghen đào thắm mau tàn,

Đa tình, chịu cảnh tân toan đủ mùi.

Người áo lục đã khuất rồi,

Sao vài ba chấm lặn trời phía đông.

II.

Móc làm cây kiệu héo rầu,

Trong lòng đắng chát, nỗi sầu riêng mang.

Trăng chìm rèm cuốn lầu trang,

Bình phong, tiếng guốc không vang nữa mà!

Đào non, mong trái sớm ra,

Trai thiêng để lại ắt là hạt châu.

Sách mới viết đã xong đâu,

Lấy ai mài mực, bạn bầu lão nho?


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 155 – Khốc Hộ bộ thượng thư Mẫn Chính hầu Lê Quang Định

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 155 – Khốc Hộ bộ thượng thư Mẫn Chính hầu Lê Quang Định

Phiên âm (*)

Gia Định thân bằng dĩ bán ủy (ùy),

Lê khanh kim cựu Vĩ tinh kỵ (kỳ).

Tích cừu dĩ phó lâm quan lễ,

Khấp vũ hoàn đa cử nhậm bi.

Công thự phong lưu hoài sĩ hạnh,

Ngụ bình đồ họa ức Vương Duy (1).

Hà kham tứ điếu phiền trung sứ,

Vô phục minh thời sớ thập tư (ti).


Dịch nghĩa: Khóc Hộ bộ Thượng thư Mẫn Chính hầu Lê Quang Định

Bạn thân ở Gia Định đã một nửa héo lụi,

Lê khanh nay lại cưỡi sao Vĩ mà đi.

Cởi áo cừu đã làm lễ nhập quan,

Vẫn còn khóc như mưa phải nâng vạt áo lau.

Nơi công thự phong lưu mang đức hạnh kẻ sĩ,

Tranh vẽ trên ngự bình nhớ Vương Duy.

Sao kham nổi chuyệ phiền trung sứ vâng lệnh vua đến điếu,

Không còn có buổi dâng sớ về mười điều suy nghĩ nữa.


Chú thích

(1): Chú thích của tác giả Trịnh Hoài Đức: Lê trước đây từng vâng mệnh vẽ bình phong dâng lên.


Hoài Anh dịch thơ

Bạn thân Gia Định được bao?

Lê khanh nay lại cưỡi sao về trời.

Lễ nhập quan đã cử rồi,

Còn nâng vạt áo lau chùi lệ mưa.

Phong lưu sĩ hạnh có thừa,

Nhìn ngự bình ngỡ họa đồ chàng Vương.

Nỡ phiền trung sứ điếu tang,

Còn đâu dâng sớ nhà vàng “thập tư”.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 154 – Điếu Phạm Chung Cơ

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 154 – Điếu Phạm Chung Cơ

Phiên âm (*)

Tiêu hốt triêu vân tán bích khung,

Đông Pha (1) tình tự loạn như bồng.

Chẩm hàn ngọc mã không tê nguyệt, (2)

Trướng lãnh kim tì bất cấm phong.

Lão hạc thê lương minh lộ bạch,

Sô anh trù trướng khốc hoa hồng.

Trang liêm di kiến linh tê hạp,

Nhất điểm thông tâm nhập mộng trung. (3)


Dịch nghĩa: Khóc Phạm Chung Cơ

Bão đột ngột mây sớm tan trên trời biếc,

Tình tự của Đông Pha rối như cỏ bồng.

Gối lạnh ngựa ngọc luống hí trăng,

Trướng lạnh tơ vàng không ngăn nổi gió.

Hạc già thê lương kêu móc trắng,

Chim non buồn rầu khóc hoa hồng.

Hòm nữ trang còn thấy hộp linh tê,

Lòng một điểm thông vào trong giấc mộng.


Chú thích

(1): Đông Pha: là tên hiệu của Tô Thức, người ở Mi Sơn, Mi Châu, nay thuộc Tứ Xuyên, Trung Quốc.

(2): Gối làm bằng ngọc theo hình con ngựa.

(3): Linh tê: sừng tê giác, theo thuyết xưa thì trong sừng tê giác có đường vân trắng như sợi chỉ, thông thẳng hai đầu, cảm ứng tinh nhạy. Nhân đó, người dùng để tỷ dụ về sự cảm thông giữa hai người với nhau.


Hoài Anh dịch thơ

Bão đột ngột, mây sớm tan,

Đông Pha tình tự miên man rối bời.

Gối thêu lạnh ánh tr8ang rơi,

Trướng không ngăn nổi gió ngoài trời sương.

Hạc già móc trắng thê lương,

Chim nom hoa đỏ khóc thương đau buồn.

Hộp linh tê thấy trong hòm,

Một điểm thông nhập vào cơn mơ mòng.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images: