Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 73 – Gia Định Tam Thập Cảnh: 26 – Chiêu Thái tình yên

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: Gia Định Tam Thập Cảnh

Gia Định tam thập cảnh: Ba mươi cảnh vịnh Gia Định

Gia Định đây là Gia Định trấn, là toàn bộ vùng đất Nam bộ trước khi vua Minh Mệnh chia vùng đất này thành lục tỉnh vào năm 1835.

Tên gốc của chùm thơ này là: Gia Định Tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận”.

Dịch nghĩa là: Ba mươi cảnh Gia Định chia làm theo vần trong sách Bội văn Vận phủ.

Sách Bội văn Vận phủ là bộ sách do vua Khang Hy nhà Thanh sắc cho soạn ra, chia mỗi vận thơ gồm những chữ nào, theo vận mà ghi hết các điển cố.

Vì Trịnh Hoài Đức làm theo vận trong Bội văn Vận phủ nên trong chùm thơ này có nhiều chữ đọc theo âm Hán Việt thì không bắt vần với nhau, bằng trắc cũng khác nhau.


Bài 26: Chiêu Thái tình yên (1)

Phiên âm (*)

Phước Long duy thị thử sơn cao,

Nhật xuất tình yên hoạt tự cao.

Phạt mộc tiều mê tầm kính túc,

Đái vân hạc thấp biệt chi mao.

Lạc hoa vụ tán điền thu đậu,

Hương truật liêm huyền quán mãi giao.

Ly tự tùy đồng phi vị khải,

Giai tiền hiến quả quỵ thanh nao.


Dịch nghĩa: Khói lúc trời tạnh ở núi Châu Thới

Phủ Phước Long chỉ núi này là cao,

Mặt trời mọc khói mù lúc trời tạnh trơn như mỡ.

Ông tiều đẵn cây lạc đường tìm lối tắt,

Chở mây hạc ướt, một chiếc lông tung bay.

Hoa rụng mù tan ruộng thu hoạch đậu,

Lúa thơm, rèm treo quán bán rượu.

Theo tiểu đồng đến chùa chân núi, cửa chưa mở,

Trước thềm con vượn xanh quỳ dâng quả.


Chú thích

(1): Chiêu Thái: núi Châu Thới, ở gần thành phố Biên Hòa, cao 80 thước, trên đỉnh còn vài chòm cây cổ thụ. Từ lộ vào, về phía hữu, do một con đường rộng đến chân núi, thu hẹp lần và uốn mình lên chót núi, một kiểng chùa ẩn trong khung cảnh u nhàn tịch mịch.

Theo thư tịch xưa, Chiêu Thái sơn, nằm về phía nam huyện Phước Chánh sau thuộc phường Loang Tuy, huyện Long Thành, nay thuộc tỉnh Bình Dương. Trên núi có Hội Sơn am tự là nơi thiền sư Khánh Long tu hành; nay vẫn còn sau nhiều thời kỳ tu bổ.


Hoài Anh dịch thơ

Phước Long duy núi này cao,

Hừng đông, mù khói tựa dầu mỡ trơn.

Lạc đường tiều kiếm lối mòn,

Chở mây cánh ướt hạc sờn chiếc lông.

Móc tan, hái đậu trên đồng,

Lúa thơm, quán bán rượu nồng màn treo.

Theo đồng tới chùa chân đèo,

Trước thềm dâng quả cheo leo vượn quỳ.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 72 – Gia Định Tam Thập Cảnh: 25 – Mỹ Tho dạ vũ

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: Gia Định Tam Thập Cảnh

Gia Định tam thập cảnh: Ba mươi cảnh vịnh Gia Định

Gia Định đây là Gia Định trấn, là toàn bộ vùng đất Nam bộ trước khi vua Minh Mệnh chia vùng đất này thành lục tỉnh vào năm 1835.

Tên gốc của chùm thơ này là: Gia Định Tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận”.

Dịch nghĩa là: Ba mươi cảnh Gia Định chia làm theo vần trong sách Bội văn Vận phủ.

Sách Bội văn Vận phủ là bộ sách do vua Khang Hy nhà Thanh sắc cho soạn ra, chia mỗi vận thơ gồm những chữ nào, theo vận mà ghi hết các điển cố.

Vì Trịnh Hoài Đức làm theo vận trong Bội văn Vận phủ nên trong chùm thơ này có nhiều chữ đọc theo âm Hán Việt thì không bắt vần với nhau, bằng trắc cũng khác nhau.


Bài 25: Mỹ Tho dạ vũ

Phiên âm (*)

Trạc anh (1) xướng bãi nguyệt trầm tê (tây),

Tiêu tích Tho giang (2) vũ chính thê.

Hòe thị (3) trào đôi du giáp quán,

Tông kiều vân ủng thạch ngưu (4) nê.

Quang hàn liễu phố ngư thuyền hỏa,

Thanh thấp mai thành thú trại bề.

Vạn khoảnh minh triêu trình hợp dĩnh,

Tang Lâm (5) vô sự đảo kiền tê.


Dịch nghĩa: Mưa đêm ở Mỹ Tho

Hát xong khúc “giặt dải mù” thì trăng lặn trời Tây,

Sông Mỹ Tho đêm mưa lạnh lẽo.

Chợ Hòe nước triều lên, dồn chuỗi quả du thành đống,

Cầu Tông mây phủ kín, che con trâu đá lấm bùn.

Lửa thuyền đánh cá bến liễu, bóng sáng lạnh lùng,

Trống vọng gác thành mai, tiếng kêu bình bịch.

Sáng sớm trông thấy lúa nở đòng to khắp đồng ruộng,

Không cần phải như vua Thành Thang cầu đảo ở rừng Tang Lâm.


Chú thích

(1): Trạc anh: Giặt dải mũ. Trích trong Ngư phủ từ của Khuất Nguyên: Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh (Nước sông Thương Lang mà trong thì ta có thể giặt dải mũ).

(2): Tho Giang: Sông Mỹ Tho là một khúc của Tiền Giang khởi từ ranh tổng Thuận Bình tiếp cận rạch Gầm cho tới khoảng xã Hòa Định, thuộc huyện Chợ Gạo.

(3): Hòe thị: chợ hòe. Ở đây mượn cách nói về chợ ở Mỹ Tho.

(4): Thạch ngưu: Trâu đá. Đời xưa, các mấu cầu đá có đục hình con trâu để tượng hình nông thôn.

(5): Tang Lâm: Đời Thành Thang nhà Thương bị bảy năm hạn hán, vua quan phải đến rừng Tang Lâm cầu đảo.


Hoài Anh dịch thơ

Khúc “giặt dải mũ” hát xong,

Nhìn ra trăng đã lặn vùng trời tây.

Chợ Hòe triều mới dâng đầy,

Quả du dồn đống phơi bày đường trơ.

Cầu Tông mây phủ mịt mờ,

Che hình trâu đá sau mưa lấm bùn.

Lửa thuyền chài bến liễu vờn,

Thành mai vọng gác trống dồn tong tong.

Sáng nom lúa trổ đòng đòng,

Cần chi cầu đảo nhọc lòng rừng Tang.


Huỳnh Minh Đức dịch thơ

Hát khúc “trạc anh”, trăng gác tê,

Mưa đêm sông Mỹ, kéo lê thê.

Nước giăng Hòe thị, du thành đống,

Mây phủ Tông kiều, trâu bị che.

Bến liễu, lửa chày soi bóng lạnh,

Thành mai, tiếng trống vọng tư bề.

Sáng mai lúa trổ tràn đồng ruộng,

Đâu phải Tang Lâm đợi mưa về.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 71 – Gia Định Tam Thập Cảnh: 24 – Lại Úc quan lan

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: Gia Định Tam Thập Cảnh

Gia Định tam thập cảnh: Ba mươi cảnh vịnh Gia Định

Gia Định đây là Gia Định trấn, là toàn bộ vùng đất Nam bộ trước khi vua Minh Mệnh chia vùng đất này thành lục tỉnh vào năm 1835.

Tên gốc của chùm thơ này là: Gia Định Tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận”.

Dịch nghĩa là: Ba mươi cảnh Gia Định chia làm theo vần trong sách Bội văn Vận phủ.

Sách Bội văn Vận phủ là bộ sách do vua Khang Hy nhà Thanh sắc cho soạn ra, chia mỗi vận thơ gồm những chữ nào, theo vận mà ghi hết các điển cố.

Vì Trịnh Hoài Đức làm theo vận trong Bội văn Vận phủ nên trong chùm thơ này có nhiều chữ đọc theo âm Hán Việt thì không bắt vần với nhau, bằng trắc cũng khác nhau.


Bài 24: Lại Úc quan lan (1)

Phiên âm (*)

Cần Trừ hải kiệu phúc sàm nham,

Cực mục càn khôn ngọc nhất hàm.

Hà Hán tự đông tri hải lượng,

Phong ba chi ngoại biệt trần phàm.

Thẩn lâu ngọ nhật công do khởi,

Trù ốc đinh niên tỏa thượng nghiêm.

Thiệp hiểm thử trung hoàn hữu đạo,

Vãng lai chung ổn khách thương phàm.


Dịch nghĩa: Xem sóng ở Gành Rái

Bờ biển Cần Giờ núi non lởm chởm,

Nhìn hút tầm mắt đất trời như một bầu ngọc.

Ở phía đông sông Hà sông Hán biết lượng bể,

Một cõi trần riêng biệt ở ngoài sóng gió.

Vào giữa trưa thấy lầu thẩn nhô lên,

Doanh trại từ năm Đinh vẫn còn khóa nghiêm nhặt.

Vượt hiểm nguy mới biết ở trong đó vẫn có đạo lý,

Thuyền khách thương qua lại rốt cuộc vẫn yên ổn.


Chú thích

(1): Lại Úc: Gành Rái, vịnh nhỏ ngang mũi Vũng Tàu, gần đó có núi Lại Ky (Lại là con rái cá, Ky là đống đá). Núi Lại Ky chạy theo bờ biển của bán đảo Vũng Tàu ở khu đối diện với Cần Giờ.


Hoài Anh dịch thơ

Chớn chở núi non biển Cần Giờ,

Nhìn ra trời đất ngọc như phô.

Tự đông Hà Hán, đo lường biển,

Một cõi trần ngoài sóng gió cô.

Lẩn thẩn giữa trưa dâng lấp loáng,

Trại doanh năm nọ đứng trơ trơ.

Vượt nguy hiểm mới hay còn đạo,

Buồm khách thương qua vững bụng nhờ.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 70 – Gia Định Tam Thập Cảnh: 23 – Long Hồ ẩn nguyệt

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: Gia Định Tam Thập Cảnh

Gia Định tam thập cảnh: Ba mươi cảnh vịnh Gia Định

Gia Định đây là Gia Định trấn, là toàn bộ vùng đất Nam bộ trước khi vua Minh Mệnh chia vùng đất này thành lục tỉnh vào năm 1835.

Tên gốc của chùm thơ này là: Gia Định Tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận”.

Dịch nghĩa là: Ba mươi cảnh Gia Định chia làm theo vần trong sách Bội văn Vận phủ.

Sách Bội văn Vận phủ là bộ sách do vua Khang Hy nhà Thanh sắc cho soạn ra, chia mỗi vận thơ gồm những chữ nào, theo vận mà ghi hết các điển cố.

Vì Trịnh Hoài Đức làm theo vận trong Bội văn Vận phủ nên trong chùm thơ này có nhiều chữ đọc theo âm Hán Việt thì không bắt vần với nhau, bằng trắc cũng khác nhau.


Bài 23: Long Hồ ẩn nguyệt (1)

Phiên âm (*)

Liễu doanh sương túc quyển nha kỳ,

Thanh dạ vô trần thế hạo hi.

Ba để kính đài trầm ngọc nữ,

Hồ tâm châu hàm thất long ly.

Ngư chu tranh phiếm Ngân hà khúc,

Quế thụ phiên tài Việt thủy mi.

Hữu khách đắc ngư hoàn đái tửu,

Mính nhiên truy tụng Tử Chiêm (2) từ.


Dịch nghĩa: Long Hồ in bóng trăng

Doanh Liễu sương nghiêm túc, cuốn cờ đuôi nheo,

Đêm trong không chút bụi, hiếm có trên đời.

Đáy sóng như đài gương, Ngọc nữ chìm lặn,

Lòng hồ ngậm hạt châu, không thấy bóng long ly đâu cả.

Thuyền đánh cá tranh nhau lướt trong khúc Ngạn hà,

Cây quế chia ra trồng ở bờ sông nước Việt.

Có khách câu được cá còn mang rượu theo,

Say ngâm lại bài từ của Tử Chiêm.


Chú thích

(1): Long Hồ: tên một cái hồn ở Long Hồ dinh, một trong 12 dinh của Đàng Trong do Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đặt ra năm Giáp Tý (1744), trị sở ở nơi nay là làng Long Hồ, ở sát tỉnh lỵ Vĩnh Long.

(2): Tử Chiêm: tên tự của Tô Đông Pha, một thi sĩ đời Tống, Trung Quốc.


Hoài Anh dịch thơ

Sương nghiêm doanh liễu cuốn cờ,

Đêm trăng, cõi thế bao giờ đẹp hơn?

Đài gương: Ngọc nữ chập chờn,

Lòng hồ châu ngậm, đâu còn long ly?

Khúc Ngân hà thuyền chở đi,

Bờ sông nước Việt quế chia hàng trồng.

Khách được cá, sẵn rượu nồng,

Say ngâm từ khúc bi hùng Đông Pha.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 69 – Gia Định Tam Thập Cảnh: 22 – Quy Dữ vãn hà

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: Gia Định Tam Thập Cảnh

Gia Định tam thập cảnh: Ba mươi cảnh vịnh Gia Định

Gia Định đây là Gia Định trấn, là toàn bộ vùng đất Nam bộ trước khi vua Minh Mệnh chia vùng đất này thành lục tỉnh vào năm 1835.

Tên gốc của chùm thơ này là: Gia Định Tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận”.

Dịch nghĩa là: Ba mươi cảnh Gia Định chia làm theo vần trong sách Bội văn Vận phủ.

Sách Bội văn Vận phủ là bộ sách do vua Khang Hy nhà Thanh sắc cho soạn ra, chia mỗi vận thơ gồm những chữ nào, theo vận mà ghi hết các điển cố.

Vì Trịnh Hoài Đức làm theo vận trong Bội văn Vận phủ nên trong chùm thơ này có nhiều chữ đọc theo âm Hán Việt thì không bắt vần với nhau, bằng trắc cũng khác nhau.


Bài 22: Quy Dữ vãn hà (1)

Phiên âm (*)

Quy Dữ thanh u họa bất năng,

Hà quang vãn bố uất đằng đằng.

Bán sơn hoành khải thiên hoa động,

Cách ngạn tà phi ngũ sắc lăng.

Túy bả ngọc bôi đồng thác lạc,

Nhàn thiêu kim áp cộng huân chưng.

Bàng hoàng thiên tế tường cô vụ,

Lâu hạm xuy tiêu hữu khách bằng.


Dịch nghĩa: Ráng chiều ở Hòn Rùa

Cảnh thanh u của Hòn Rùa không sao vẽ nổi,

Ánh sáng chiều tỏa rừng rực.

Nửa núi ngang mở động ngàn hoa,

Cách bờ bay nghiêng lụa năm sắc.

Say nâng chén ngọc xen kẽ với ánh ráng chiều,

Nhàn quay vịt vàng cùng nấu nướng.

Bên trời cò lẻ bay ngập ngừng,

Chấn song lầu có khách tựa thổi sáo.


Chú thích

(1): Quy Dữ: Tên núi ở Biên Hòa, cũng gọi Thạch Nghê, tục gọi Hòn Rùa hay Hòn Con Nghê. Theo Nam kỳ lục tỉnh địa dư chí, hòn này ở giữa dòng sông Phước Long (Đồng Nai), cách tỉnh lỵ chín dặm, hình trạng giống con rùa đang tắm sông, nên đặt là Hòn Rùa (cù lao Rùa, còn gọi cù lao Thạnh Hội), phải nước ròng sát mới thấy.

Theo thư tịch xưa, đảo Quy Dữ, đông là Bồng Giang (sông Cái), tây là Hiệp Bản (sông Con), Đà Thị Kiên (rạch Bà Kiên). Nơi này sản xuất lúa, dừa, mít nay thuộc huyện Tân Uyên (Bình Dương). Nguyên là một gò đất nổi, trên có huyền vũ gồm một rừng cổ thụ, mà ngọn cây họp làm hai chòm như hai cái vung úp. Cái lớn cao, cái nhỏ thấp, gần nhau, ở xa trông rõ là hình con Linh Quy khổng lồ, có đủ mai và đầu quay về hướng tây bắc nằm trên sông Phước Long.

Hiện giờ hai chòm cây hình Rùa không còn vì đã bị đốn mất vào khoảng năm 1948, khi quân Pháp đến đóng đồn.


Hoài Anh dịch thơ

Quy Dữ thanh u vẽ mổi đâu,

Ráng chiều rừng rực tỏa trên đầu.

Nửa non ngang mở hang hoa thắm,

Cách nước nghiêng bay lụa mấy màu.

Chén ngọc say nâng xen kẽ ánh,

Vịt vàng quay chín nấu chung nhau.

Bên trời cò lẻ bay man mác,

Thổi sáo kia ai đứng tựa lầu.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 68 – Gia Định Tam Thập Cảnh: 21 – Ngao Châu mộ cảnh

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: Gia Định Tam Thập Cảnh

Gia Định tam thập cảnh: Ba mươi cảnh vịnh Gia Định

Gia Định đây là Gia Định trấn, là toàn bộ vùng đất Nam bộ trước khi vua Minh Mệnh chia vùng đất này thành lục tỉnh vào năm 1835.

Tên gốc của chùm thơ này là: Gia Định Tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận”.

Dịch nghĩa là: Ba mươi cảnh Gia Định chia làm theo vần trong sách Bội văn Vận phủ.

Sách Bội văn Vận phủ là bộ sách do vua Khang Hy nhà Thanh sắc cho soạn ra, chia mỗi vận thơ gồm những chữ nào, theo vận mà ghi hết các điển cố.

Vì Trịnh Hoài Đức làm theo vận trong Bội văn Vận phủ nên trong chùm thơ này có nhiều chữ đọc theo âm Hán Việt thì không bắt vần với nhau, bằng trắc cũng khác nhau.


Bài 21: Ngao Châu mộ cảnh (1)

Phiên âm (*)

Ngao Châu tế hải tiếp hầu kỳ,

Liễm diễm giang thôn nhập thúy vi.

Võng sái liễu đê ngư uyển văn,

Can thu vi ngạn điếu tà huy.

Giải điều nhục giáp tàng phong sấu,

Bạng thổ thai châu vọng nguyệt phì.

Cực phố hà nhân thanh khoản nãi,

Thương Lang nhất khúc thấu sài phi.


Dịch nghĩa: Cảnh buổi tối ở Bãi Ngao

Bãi Ngao giáp biển tiếp với đất liền,

Thôn bên sông đẹp rợp bóng cây xanh.

Lưới phơi trên đê liễu, chài chiều tối,

Cần thu lại bờ lau, câu ánh mặt trời tà.

Cua nép mai tránh gió nên trông gầy,

Trai nhả châu trong bụng dưới trăng trông thấy béo.

Cuối bến người nào tiếng khoan thai,

Một khúc Thương Lang lọt vào cửa sài.


Chú thích

(1): Ngao châu: Cửa Cồn Ngao, một cửa của Tiền Giang chảy ra Nam Hải, gồm một vùng có gành Bà Hiền và gành Mù U cũng gần cửa sông Hàm Luông mép bên kia. Alinot khi vẽ địa đồ, nghe người dân ở đây đọc Cồn Ngao, không hiểu rõ, nên phiên âm sai là cửa Cung Hầu.


Hoài Anh dịch thơ

Giáp biển khơi tiếp đất liền,

Cây xanh làng đẹp một triền Bãi Ngao.

Lưới phơi đê liễu thưa mau,

Bờ lau cần gác đang câu bóng chiều.

Mai nép gió cua gầy teo,

Trai nhả châu dưới trăng thâu loáng ngời.

Tiếng ai cuối bến khoan thai,

Khúc Thương Lang lọt cửa sài véo von.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images: