Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần Kết

Vài lời từ người đánh máy

Truyện được chia thành 6 cuốn. Tôi sẽ lần lượt đánh máy và đăng từng “phần” lên để các độc giả xem. Chữ “phần” trong ngoặc vì nguyên bản sách không chia chương hồi mà chỉ đặt tên theo kiểu “tóm tắt nội dung”.

Truyện được viết cách đây hơn trăm năm, cách dùng từ, viết câu, đặc biệt chính tả có nhiều khác biệt so với ngày nay. Người đánh máy xin phép sửa lỗi chính tả và đăng hình chụp Bản in 1916 của truyện để độc giả đối chiếu.


Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần KếtHà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Kết

Con Bảy Nhỏ với Thoàn than tức,

Anh Cô mầng nỗi ức đặng minh.


Quan Biện lý thâu đơn rồi hứa, phóng lịnh troàn bắt đứa mưu gian, sở tuần thành hượt tróc thằng Thoàn, cơ mật thám bắt nàng Bảy Nhỏ. Còng hai đứa giải vào để đó, cậu Ái Nhơn cũng có đòi vô, đủ thị Hoa lại với Anh Cô, ngọc xoàn để làm đồ tang vật.

Hỏi tên họ rồi dẫn vào ngục thất, giao cho quan Bồi thẩm vấn tra, Nhơn cùng Cô lại với thị Hoa quan dạy trở về nhà đợi trát.

Cơn tra hỏi Bảy sa nước mắt, một hai xoàn vốn thật của tin, Lý Mạnh Thường trước đã gá tình nên mới để của tin như vậy. Thoàn khai chẳng biết chi cả thảy, mang ơn Nhơn nên phải đền ơn. Cà rá nầy không hãn nguồn cơn, xin hỏi lại Ái Nhơn thì rõ.


Muốn rõ con Bảy Nhỏ với Thoàn than tức, Anh Cô mầng nỗi ức đặng minh, hãy xem qua cuốn thứ bảy thì rõ.


Lời kết:

Theo thông tin còn lưu lại thì Truyện Hà Hương Phong Nguyệt đã gây ra một cuộc “bút chiến” trên diễn đàn văn học thời đó. Sau đó, truyện bị tịch thu nên không rõ Cuốn 7 có được xuất bản hay đăng định kỳ trên tờ Nông cổ mín đàm hay không.

Tôi chưa tìm được thông tin hay nội dung của Cuốn 7 – Truyện Hà Hương Phong Nguyệt. Do đó, tôi xin được “Kết” lại truyện này dù nội dung còn bỏ ngõ. Mong quý vị thông cảm.


Mời Quý vị xem Bản in gốc của truyện còn lưu tại Thư viện Pháp

Ebook Truyện Hà Hương Phong Nguyệt – Cuốn 1

Ebook Truyện Hà Hương Phong Nguyệt – Cuốn 2

Ebook Truyện Hà Hương Phong Nguyệt – Cuốn 3

Ebook Truyện Hà Hương Phong Nguyệt – Cuốn 4

Ebook Truyện Hà Hương Phong Nguyệt – Cuốn 5

Ebook Truyện Hà Hương Phong Nguyệt – Cuốn 6

Lê Hoằng Mưu và NgLê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần Kếtuyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt – Kết

Related Images:

 

Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-3

Vài lời từ người đánh máy

Truyện được chia thành 6 cuốn. Tôi sẽ lần lượt đánh máy và đăng từng “phần” lên để các độc giả xem. Chữ “phần” trong ngoặc vì nguyên bản sách không chia chương hồi mà chỉ đặt tên theo kiểu “tóm tắt nội dung”.

Truyện được viết cách đây hơn trăm năm, cách dùng từ, viết câu, đặc biệt chính tả có nhiều khác biệt so với ngày nay. Người đánh máy xin phép sửa lỗi chính tả và đăng hình chụp Bản in 1916 của truyện để độc giả đối chiếu.

Hình chụp Bản in Cuốn 6 năm 1916


Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-3Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-3

Bạch tỉ Thoàn âm mưu trả oán,

Ái Nhơn lầm kế độc dứt tình.


Tội nghiệp cho Anh Cô xét cạn hết nỗi niềm rất cực, nghĩ phận mình gan tấc càng đau, bây giờ dây biết tính lẽ nào, mang bụng chửa vào đâu đùm đậu. Trở về mẹ khó che nổi xấu, bằng chẳng thì nương náu với ai, trời đất ôi! Khốn khổ nầy trời đất có hay, oan khúc ấy cao dày có thấu. Chàng ôi chàng bao nỡ mê đồ đĩ lậu, nghe lời về phân áo rẽ bâu, thiếp mà đi ra đấy, phận chẳng may hồn xuống vực sầu, thương cho trẻ lọt lòng mẹ sữa đâu mà bú.

Thôi thôi, duyên dầu mãn nợ kia trả đủ, tình dầu rồi nghĩa cũ cũng rồi, cúi lạy chồng ân ngãi đáp bồi; thân hèn dẫu nổi trôi bao quãn. Mặt giã từ lụy tuông linh láng, mắt nhìn chồng đòi đoạn sục sùi, thương thay, đưa chơn ra một bước hóa mười lui, trơ mắt nhìn ra sáu giọt.

Ra khỏi cửa tấm lòng chua xót, nghĩ cái thân bèo bọt mà phiền muốn đem mình gởi chốn cửa tuyền, cho rảnh nợ tiền khiên túc trái, nhưng mà xét phần khiến vậy liều mình cũng phải, ngặt một điều hại thân mình mạng lại thành hai, thương trẻ thơ chứa thấy mặt mày mà phải chịu oan nầy với mẹ.

Đang suy nghĩ tính chưa ra lẽ, đi thẩn thơ theo mé thủy triều gặp thị Hoa, Hoa mới cả kêu, “Hiền muội, hiền muội, đi đâu mặt buồn hiu như thế?”

Thấy mặt Hoa, Cô liền khóc kể, kể sự tình chồng để phải ra cũng vì chồng sa đắm nguyệt hoa, mê nhứt kiếp đạo nhà chẳng tưởng. “Anh hùng mà bị con sóng lượng, quán đình xiêu nghĩa trượng cũng xiêu, máu mủ đành nhắm mắt bỏ liều, vui với sắc thiên kiều bá mị. Lại nghe những mưu thần chuớc quỉ, vu cho rằng chẳng nghĩ tình sâu, dám đem người tới giữa vườn dâu, trao của báu mà cầu ân ái.

Nỗi oan ức khôn bề đối nại, phận rủi đành vâng dạy bước ra, một trách trời ghen ghét chi mà, làm đến đỗi kim xa chỉ thắm. Như phận em thân bèo bọt dẫu trôi ngàn dặm, sóng vập dồi em ngậm cười duyên, hay là số chẳng may dõi bước huỳnh tuyền em cam phận chẳng phiền tơ đỏ. Ngặt một nỗi khí huyết chàng em còn mang đó, nỡ lòng nào bức bỏ cho đang, nên cắn răng chịu chẳng phàn nàn, đợi mãn nguyệt cho an phận trẻ.

Lâm bồn rồi còn tường mặt mẹ, mẹ thấy con rồi sẽ chia tay. Tính vậy mà hãy còn à, e khi em xuống chốn diêm đài, thương trẻ dại không ai cho bú! Chị ôi, như phận em bấy chừ mang bụng chửa không nơi đình trú, khó trở về chốn cũ ở an, may mà gặp chị đây đang lúc giữa đàng, phân cho chị tỏ tàng chung thỉ, chị dầu có tưởng tình em chị, giúp giùm em nơi thê chỉ kẻo mà đặng nhờ khi nở nhụy khai hoa, cùng nuôi trẻ cho qua ngày tháng. Miễn em đặng tiện bề sang sản, dẫu nam tồn tánh mạng chẳng than, ơn đức nầy nặng tợ thái san, dầu thịt nát xương tàn còn tạc!”

Hoa nghe mấy lời Cô ký thác, đau tấc lòng liền phát xung tâm: “Cha chả! Chẳng tưởng niềm phu phụ chi ân, lại chẳng kể tình thâm chi đạo. Nuôi thằng Thoàn như ong tay áo, chị nhiều khi khuyên bảo chẳng nghe, theo nó mà lắm lúc nguyệt huê, không đoái nghĩa phu thê là trọng. Ngu đến đỗi bò mồi tham bóng, để thuyền cây bọ sóng lấp đi, dại gì lầm kế độc Quới Phi, làm đến đỗi suy vi cơ nghiệp.

Thôi thôi, về nhà chị nghỉ an giấc điệp, đễ chị mau xá kíp ruổi dong, tới hỏi chàng nguồn ngọn ngách sông, cho thấu nỗi đục trong tơ tóc. Em yểm lụy khốn gì khóc lóc, về chị mà xem sóc trước sau, tao nói thiệt, Ái Nhơn mà dám cải quá tao, tao nhứt nguyện liều một giọt mưa đào với nó.”

Thị Hoa mới bước vào cửa ngõ, Nhơn ở trong mầng rỡ bước ra, rước thị Hoa đi thẳng vào nhà, kêu trẻ ở pha trà giải khát. Hoa mới hỏi: “Vậy chớ con Ba đâu vắng mặt không thấy nàng ra mắt hỏi han?”

Nhơn rằng: “Hỏi chi đồ dạ thú lòng lang, chẳng niệm chữ tào khang nhơn ngãi. No cơm rồi sanh tâm biến cải, ấm áo đành phụ cái tình sâu, dám hẹn người tới giữa vườn dâu, trao của báu mà cầu dâm dục. Em hết sức niệm tình cốt nhục, bởi nàng không nghĩ chút tào khang nên em đành rời rã hai phang, cho khỏi tiếng thế gian đồn tiếu.”

Hoa hỏi: ‘Chuyện như vậy mà sao em hiểu, hay có người chỉ biểu cho chăng? Chị xét như Anh Cô lý đâu còn đem dạ liếu lăng, dám đưa tới ngọc xoàn làm tin. Chị biết nó có lòng trung chánh, cứ trao dồi tiết hạnh thờ chồng, không biết điều mua bưởi bán bồng, chẳng ưa cuộc bướm bông trăng gió. Em nói nó tư tình với thầy nào đó, cà rá về Bảy Nhỏ nào đâu, tích bởi sao mà rõ thấu đuôi đầu, em khá tỏ ngọn rau cuống nắm.”

“Thưa chị, từ buổi mới vầy duyên chỉ thắm, không mảy gì rối rắm tóc tơ, em tưởng là một dạ kính thờ, không có chi ước mơ hoa nguyệt. Thấy có thai em mừng chẳng xiết, tưởng là tình khí huyết hòa nên, dè đâu nàng chẳng giữ lấy nền, dám sanh chuyện trai trên gái dưới (sic).

Một bữa nọ lòng buồn dã dượi, biết cùng ai nói với cho vui, em mới ngồi nghĩ tới xét lui, rồi biểu thắng xe mui hóng mát. May đâu bỗng gặp người nhan sắc, lạ hoắc mà thấy mặt cũng thương, có dè đâu chỉ vấn tơ vương, nợ oan trái giữa đường gây mối. Về trướng nội nhớ nàng quá đỗi, muốn sao cho tương hội phỉ nguyền, bởi vậy nên tọa ngọa chẳng yên, trông mau sáng kiếm tìm giai nữ.

Nhờ Thoàn giúp mới là thành sự, em tới nhà hiền nữ giao dươn, thấy hột xoàn gạn hỏi nguồn cơn, nàng tỏ thiệt sự dươn từ ấy. Rằng nàng có trộm tình riêng ngãi với một thầy đã mấy năm dư, quyết một lòng vàng đá khư khư, chờ một thuở hiệp tóc tơ một mối.

Vì thiên số có hay đâu nỗi chưa tác thành thầy vội phân tay; buổi thầy chưa xuống chốn diêm đài thầy trộm bóng kề vai một gái. Nàng ấy cũng quyết lòng vầy ngãi, nguyện lập thành kim cải chi tình, mới cổi xoàn trao để làm tin, chẳng dè cuộc trớ trinh đâu lạ.

Chẳng phải việc trai son gái góa, người tình nhân cũng đã có chồng, bởi tại người quen nết bướm ong nên đem của mà dụ lòng trăng gió. Em hỏi có biết tên nàng đó, nàng đáp rằng biết rõ chẳng sai, tên Anh Cô mà chưa biết vợ ai, hột xoàn lại về tay Bảy Nhỏ.

Em về hỏi Anh Cô cho rõ, nàng chối rằng chẳng có tư tình, nếu mà nàng giữ trọng tiết trinh, sao lại có của tin như vậy.

Nàng lại nói bỏ quên ai lấy, chị nghĩ coi nó phải chỗ nào, dường ấy chưa nên dễ nó sao, tình phu phụ chi giao phải dứt. Còn chi nữa mà la oan than ức, bởi tại nàng muốn bứt ngỡi nhân, thà lứa đôi kẻ Tấn người tần, cho rồi cuộc ái ân ở bạc.”

Nhơn nói dứt Hoa cười sặc sặc: “Em thiệt còn dại đặc em ôi, em lóng nghe chị kể khúc nôi, kẻo đến nữa rồi ngồi mà khóc. Vì em đã nghe lầm kế độc mới đến điều tơ tóc đoạn phân. Thoàn là người ăn cướp sát nhân, em lấy oán làm ân nuôi nó. Việc ngày trước thù chưa dứt bỏ, diện phục mà lòng nó oán vưu, giả náu nương mà dưỡng lòng cừu, nằm đợi lúc âm mưu rửa hận.

Con Ba nó thật tình hờ hẫn, tin trong nhà nên chẳng nghi oan, cà rá xoàn cổi để trên bàn, chắc là bị thằng Thoàn ăn cắp. Bởi dại sợ em rầy khuất lấp, nên phải điều e ấp tệ tình. Thàn ngừa cơn em cậy đem tin, trao kế độc thình lình phá hại. Thầy thông nào vầy ngãi, em chớ tin con Bảy mà lầm, để chị làm cho nó phải lâm cho rõ chữ cơ thảm họa diệt.

Em dầu quyết bức tình Hồ Việt, chĩ cũng ráng chị nuôi, nuôi cho Anh Cô mãn nguyệt khai hoa, thằng Thoàn nầy phải đuổi khỏi nhà để mặc chị tới nha đầu cáo.”

Nhơn rằng: “Nghe chi tiếng Anh Cô nói xảo, đặng che lòng điên đảo tóc tơ, thằng Thoàn đâu có rõ tri cơ mà nòi nó oán vưu sanh chuyện. Chị cũng biết Nhơn chi tương tử kỳ ngôn giả thiện, điểu chi tương tử kỳ minh giả ai. Việc lỡ rồi than vắn thở dài, mượn giọt lụy mà rửa tay chàm nhúng. Em đâu muốn phân loan rẽ phụng, bởi tại nàng đem bụng tà tây, xin chị đừng biết tới chuyện nầy, để mặc nó ấp cây chờ thỏ.”

Hoa nổi giận hét la rầy ó: “Mặc tình em tham đó bỏ đăng, chị sợ cho em lỗi đạo bằng, sau dầu có ăn năn cũng muộn. Việc thưa kiện tự tình chị muốn, em cản chi cho uổng tấc công, chị thệ nguyền phân rõ đục trong, kẻo mà ức tấc lòng hiền muội.” Thị Hoa về.

Về tới thấy Anh Cô thầm tủi, tủi vì thương phận rủi biết bao; thấy thị Hoa mắt héo dàu dàu Anh Cô luống tâm bào ruột thắt. Hoa với Cô chị em gặp mặt, xét nỗi niềm nước mắt nhỏ sa, đau đớn thay cái phận đờn bà, nẻo tan hiệp như ngựa qua cửa sổ.

Đờn ông thường bỏ đăng tham đó, nào nghĩ khi cam khổ có nhau, không kể niềm phu phụ chi giao, nào biết cuộc vàng thau chọn lựa. Nào thương phận vợ mang bụng chửa, nào xét câu bến cũ đò xưa, say vuối tình trưa sớm đỏng đưa, khiến nên mối tơ thừa rời rã. Hoa rằng: “Phải trước biết để cho quân vất mả, thừa cơ mà hưởng cả gia tài. Nó nên nhà nhờ bởi sức ai mà dám phụ ý nầy như vậy.

Muội nương ôi, muội nương khá nghe lời chị dạy, còn chia mà tưởng ngãi vợ chồng, chị đem em ra giữa cửa công, nhờ phép nước xử xong oan trái.”

Cô rằng: “Thưa chị, chồng em dẫu vong niềm ân ái, em bao đành phụ ngãi cho đang, bia danh chồng tới giữa tụng đàng, nhục nhã ấu mấy ngàn để chuộc. Danh chông em mang điều nhơ nhuốc, phận em đây lại tốt chi chăng? Cho hay rằng chồng lỗi đạo bằng, nên phụ nghĩa đò xưa bên cũ.

Song em phải nghĩ tình máu mủ, em còn mang chưa đủ tháng ngày, ai lỗi nghì phụ bạc mặc ai, em phú có cao dày phân xử. Nẻo tan hiệp từ nhiên thiên sử, khiến cho chàng sanh sự đổi hai, em không hiềm cũng chẳng trách ai, một thầm tủi rủi may chút phận.

Em mong đợi cơn chồng bớt giận, thương vợ con lận đận lao đao, đem em về coi trước xem sau, đặng như vậy may cho phận biết bao mà kể. Em mô dám làm điều tác tệ tới giữa quan cậy thế ngoan ngôn, có phải là khó mà che miệng thế gian đồn, ngàn năm chửa lấp chôn tiếng xấu.”

Hoa rằng: “Em phân vậy sao toàn giai ngẫu, rủi may tua nươn nào theo bề lúc biến quyền miệng thế nào chê, nếu chẳng vậy phu thê rời rã. Bây giờ nó đương mê muội quá, khó mà tầm đàng cả cho ra, chi bằng em giằng trí nghe qua, đề huề tới quan nha khống cáo. Dường ấy mới biết ai vô đạo, bằng chẳng thì lộn lạo bạc chì, ngàn năm còn mang tiếng thị phi, nước biển rửa chẳng đi sĩ tiết.

Phân hắc bạch ra cho nó biết, rằng mưu gian cách biệt vợ chồng, như vậy thì tái hiệp còn trông, bằng chẳng ắt tây đông lưỡng lộ. Lửa cháy mày ai ngồi mà ngó, nước tới trôn an chỗ cho đang, trí giả thì mặc thiếp với chàng, ngu giả phải xin quan phân xử. Để mặc chị tầm người hay chữ, viết rõ ràng ý tứ trước sau, mai tới quan Biện lý đưa vào, phép công nghĩ lẽ nào thì biết.”

Lên xe kéo thị Hoa đi riết, may gặp thầy thông Niết giữa đàng, bảo ngừng xe nàng xuống chào mầng, tình tự mới rõ phân sau trước. Thầy mới nói: “Đang bán lộ biết làm sao được, xin thiếm tua dõi bước đi theo, về nhà tôi ở tại Thuận Kiều, định giá cả ít nhiều rồi sẽ.”

Hại thay, vì dốt việc mới tìm người chỉ vẽ, rủi gặp nhằm chú Lé hết trông; khoe rằng mười mấy năm tôi đứng thông ngôn, luật gì cũng nằm lòng hết thảy. Tôi hạ bút căn do phân giải, ắt hết phang chối cãi đặng rồi, sẵn luật đây tôi đọc đôi hồi, cho thiếm rõ khúc nôi đắc thất.

Thầy mới lấy truyện Tây Du, Tam Quốc để cả chồng làm luật đọc lia; con vợ ngồi xỉa thuốc ba-chia cũng lẽ sự nói kia nói nọ: “Tôi rầu quá ở không yên chỗ, dường như chim không ổ gởi thân, ít ngày nữa đây ở nhà tôi đổi nhưng mà chưa biết xa hay đổi đi gần, lòng tôi muốn mười phần ở lại. Cực vì nỗi lịnh quan khó cãi, dẫu bận lòng cũng phải biết sao.”

Thị Hoa nghe nói ngạt ngào, thấy cuốn luật của Tàu mà ngán. “Trời đất ôi, mình tối mắt cậy người sáng, dè đâu rủi gặp nhằm chú quáng manh rồi, biết sớm vầy chắt lưỡi hỡi ôi, phải chậm trễ đã lòi mắt cá!”.

Thằng nầy thiệt là tay xảo trá, mang “bắt chinh” vào giả thông ngôn, trước vẫn là bộc lệ chi môn, may gặp lúc cô hồn giúp mối; ăn huê hồng có tiền bỏ túi, sắm món giày làm lối khoe khoan, gạt dân quê ở tổng ở làng, tưởng nhà gã là hàng thông sự. Sức học biết đanh vần quốc ngữ, thiệt không ngơ một chữ Lang sa, dám xưng mình thông phán đứng tòa, tưởng dễ gạt đờn bà sao chớ?

Con vợ khoe bưng lừng bở lở, mở miệng không bợ ngợ cũng hay, việc chi mà đổi mốt đổi mai, bộ đổi xuống diêm đài thì phải!!! Vẫn biết đời hiếm kẻ dĩ tài vì nhơn ngãi, song nhỏ lớn gì cũng cái thân danh, việc mình làm mình chịu đã đành, dối chi vậy người thanh mang trược! Cắt cổ người không gìn chút nước, có cái nhà hưởng phước mẹ cha, làm chi điều thiết xỉ tha nha cho miệng thế dèm pha khi thị!!!

Thị Hoa tấn thối đà bất cị, việc lỡ rồi lấy trí liệu toan, nếu để cho chú quáng dắt đàng, ắt chẳng khỏi sẩy hang mà chớ. Thị Hoa mới kiếm lời nói đỡ: “Để tôi về rồi trở lộn ra, có em tôi phân tất gần xa, tôi chẳng rõ việc nhà cho hết.”

Ô hô! Nghĩ tội nghiệp cho con mẹ Niết, nghe như vầy mà chưa biết ý Hoa, nách con đưa quí khách khỏi nhà, dặn sao cũng trở ra lập tức, “Chuyện nầy, Thầy tôi giúp ắt là chẳng thất, nhiều việc còn trục tặc nữa kìa, thẩy làm còn không thể phân chia, việc như vậy mà lìa sao đặng.”

Hoa chiếp miệng cười hơi cay đắng, bước lên xe ngồi mắng lầm thầm: “Thấy như vầy mới biết loại vô tâm, truyện Tam Quốc mà đem làm Luật!”

Đi một đỗi gặp người tri thức, ngừng xe bày sự ức nỗi oan, người nghe qua hứa chịu dẫn đàng, cho Tề phu tới quan đầu cáo.

Về nhà rồi bút văn liền thảo, thảo rồi đưa đơn hảo cho Hoa, biểu cậy người biết chữ Lang sa, mua tính chỉ sao qua cho kỹ. Rồi đội trạng tới quan Biện lý, ngài cầm cân chả vị những ai, xem đơn nầy ngài rõ gian ngay, sao ngài cũng ra tay tế độ.

Hoa cảm tạ giã từ phản bộ, bước ra xe thượng lộ băng chừng; qua bữa sau vừa mới hửng tưng, chị em đã nối chưn tới cửa.


Muốn rõ con Bảy Nhỏ với Thoàn than tức, Anh Cô mầng nỗi ức đặng minh, hãy xem qua cuốn thứ bảy thì rõ.

Related Images:

 

Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-2

Vài lời từ người đánh máy

Truyện được chia thành 6 cuốn. Tôi sẽ lần lượt đánh máy và đăng từng “phần” lên để các độc giả xem. Chữ “phần” trong ngoặc vì nguyên bản sách không chia chương hồi mà chỉ đặt tên theo kiểu “tóm tắt nội dung”.

Truyện được viết cách đây hơn trăm năm, cách dùng từ, viết câu, đặc biệt chính tả có nhiều khác biệt so với ngày nay. Người đánh máy xin phép sửa lỗi chính tả và đăng hình chụp Bản in 1916 của truyện để độc giả đối chiếu.

Hình chụp Bản in Cuốn 6 năm 1916


Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-2Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-2

Bạch tỉ Thoàn âm mưu trả oán,

Ái Nhơn lầm kế độc dứt tình.


Chàng mới hỏi lại con Bảy Nhỏ, sắm hồi nào đồ đó làm gì? Nghe lời chàng nàng mới nghĩ suy, quả một mặt ít đi chơi điếm!

Con Bảy Nhỏ kiếm điều dấu diếm, rằng: “Đồ nầy của chú thiếm tôi, để dùng khi canh vắng bồi hồi, đọc nhựt báo cho vui thửa chí. Chàng muốn hút tôi mua ít chĩ, nằm táo chơi mà nghĩ cuộc tình, hay là chàng muốn coi truyện chí bình sinh, nhậu một cốc ấp-sanh rồi sẽ.”

Mặt son phấn xui chi cũng dễ, Nhơn nghe theo như thể nước xuôi. Biết nặng chì nhẹ bứt để coi, coi con Tạo xây rồi mới rõ. Móc bạc đưa cho con Bảy Nhỏ, biểu sai mua món nọ món kia, ba mang rồi hút lịa hút lia, hút cho tới canh khuya cón hút!

Lúc vắng vẻ mặc tình sắc dục, đã đời rồi lắm lúc quên về, nào tưởng chi đến phận hiền thê, nằm thao thức mỏi mê chờ đợi. Cuộc điếm đàng giả tuồng nhơn ngỡi, vui trăng hoa rồi tới chuyện trò, theo một bên rờ rẫm mằn mò, làm như cách ngao cò gặp mặt.

Đời hằng ví trai thì tham sắc, dẫu cho rằng sấm sét cũng cam, bởi vậy cho nên Nhơn không rời một phút túi dâm, làm như thể đôi Sam bị sóng. Nhơn rờ tới bàn tay mầm lụn, cầm lên coi mấy móng ra dài, thấy ngọc xoàn chàng cứ nhìn hoài, rồi lại hỏi của ai cho bậu?

Lúc ban sơ nàng còn hơi dấu, giả như không đành lậu cơ gian, Nhơn thấy vầy thêm nỗi nghi nan, nên theo ép hỏi nàng cho đặng. Bảy Nhỏ nói: “Bởi kết nghĩa cùng chàng đã nặng, không lẽ tôi dấu thẳng cho đành, xin chàng tua bưng kín miệng bình, chớ lậu sự tình rõ ý.

Hột xoàn nầy thật là ngọc quí, của một người tri kỷ đem cho; nói rằng ngọc nầy là ngọc của Anh Cô, vì tình nặng trao cho làm tín.”

Nhơn nghe nói Anh Cô bất tỉnh: “Khoan! Nàng phân sao không chỉnh khó nghe, Anh Cô nào, có phải là Anh Cô ở Bến Tre, hay là gái Cầu Kê mới lại? Vì tình nặng trao tin người ngãi, ngãi nào đây có phải chồng nàng, nói ra thì phải rõ ràng, cho ta đặng tỏ tàng khúc độc?”

“Khéo thì thôi, chuyện kín nói cho nghe một chút, hỏi làm chi trong đục ngọn nguồn, hết cơn vui rồi tới cơn buồn, ai tránh khỏi những tuồng trăng gió. Anh Cô nào thiếp không biết rõ, song lóng nghe nàng đã có chồng, nhưng bởi nàng nhẹ tánh lạc lòng, tư tình với thầy thông thầy kiện.

Thầy ấy chẳng phải là người danh tiếng, song là tay doanh kiện quanh vành, cội phù dung bẻ biết mấy nhành, nên nổi tiếng lầu xanh từ ấy. Cả hai đều Sài Gòn cư tại, còn như thầy thông thầy kiện với tôi, dẫu không tình cũng ngãi trước mai, bởi vậy cho nên của tín nầy mới lọt vào tay, thầy phần số chẳng may sớm mất. Tới ngày nay ngọc nầy thiếp cất, để đời làm một vật báu tin, việc đầu đuôi thiếp đã cạn tình, lời đặng kín miệng bình khá nhớ.”

Nhơn nghe dứt có hơi mắc cỡ, song để lòng chẳng hở ngoài môi; “Nghĩ lầm tay ác phụ đã rồi, còn chi chẳng rẽ đôi dương nợ. Bấy lâu tưởng thật tình chồng vợ, nay ăn năn thành lở khó bồi, hột ngọc nầy là ngọc của tôi, mua cho vợ một đôi năm ngoái. Sao lại dám đưa cho người ngãi, có d0ành cho máu chảy ruột bầm, chớ phiền ta kết oán thù thâm, tại bởi bậu gian dâm bạc ngỡi. Trông mau sáng ta về hỏi lợi, quả tang rồi ta mới rẽ phân, nghĩ nực cười cho cuộc ái ân, khéo gây cái nợ nần lãng khách.”

Nhơn làm thinh trong lòng thầm trách, trăng hoa nào lấp mạch sầu tình, Bảy Nhỏ xem thấy ý bất bình, thì rõ kế của mình rất nhẹm.

Anh Cô ở nhà: Ngày tháng ôm lòng mang mển, nằm trông chồng thức đến canh khuya, tưởng đâu chồng vì bạn quên về, nào ngỡ cuộc trăng huê buộc trói. Nằm một mình trong phòng biếng nói, cứ ra vào ngóng vọi phu lang, ngó gối luông như cắt cang tràng, nhìn trướng nội dạ càng cay đắng. Đèn leo lét chọc sầu canh vắng, gió hiu hiu thêm quặn lòng trăng, gà ó o nhặt thúc bóng hồng, lằng chắt lưỡi vừng đông hầu lố.

Năm giờ sáng nhà thờ kiểng đổ, nghe tiếng chồng đứng gõ cửa kêu, Anh Cô mừng kể biết bao nhiêu, mừng chẳng khác Lam Kiều rước bạn. Vừa muốn hỏi đi đâu tới sáng, ngặt vì thấy bộ chồng bảng lãng sanh nghi, mặt dàu dàu dường có việc chi nên tỏ sắc ai bi bất tận.

Nhơn về nhà trong lòng căm giận, giận Anh Cô sớm mận tối đào, mới kêu nàng gạn hỏi trước sau, cho rõ thấu âm hao tơ tóc. “Chiếc cà rá kiểu tây nhận ngọc sao không hay xem sóc trao giồi, hay là nàng đã bán đi rồi, cũng nói lại cho tôi hẵn da.”

Anh Cô gặp lúc cùng chẳng đã, mới kiếm lời nói khỏa cho qua: “Đi sáng đêm chưa thỏa sao mà còn kiếm chuyện rầy rà nữa đó?”

Nhơn rằng: “Thấy vắng hình không rõ muốn cho nàng phân tỏ cùng ta, cất ở đâu nàng lấy đem ra đừng tưởng việc bỏ qua mà chớ!”

Gặp lúc táng nàng không thế đỡ, dẫu ăn năn cũng trót lỡ rồi, cứ làm thinh không chịu hở môi, lòng tha thiết bồi hồi nan giải. Ái Nhơn cứ ép nàng hỏi mãi, nàng thì không nói lại một lời, Nhơn rằng: “Hay là nàng ham cuộc chơi bời, đã cầm bán cho người rồi đấy? hay là nàng sanh tâm biến cải, làm của tin tình ngãi đã rồi?”

Anh Cô nghe ruột rối bời bời, ngần ngừ mới kiếm lời phân giải: “Từ buổi mới kết duyên kim cải, nghĩa vợ chồng quấy phải đã tầng, yêu ấp nhau phần đã vẹn phần, còn chi nữa ái ân nghi kỵ. Lại thêm thiếp cận ngày nở nhụy, son góa gì gieo lý thả đào, chàng mê sa con đ .. chó nào, về kiếm chyện ngăn rào đón ngõ? Nghi cho thiếp bề kia nỗi nọ, nghi cho đến điều trăng gió với trai, nói vậy, thiếp tư tình nên mới có thai, máu mủ ấy của ai không biết? Dầu phụ nghĩa cũ càng Hồ Việt, cũng niệm tình khí huyết thiếp mang, nỡ mẹ theo chó điếm mèo đàng, về kiếm chuyện vu oan cho thiếp.”

“Nàng dầu có kêu oan la hiếp, cà rá đâu nàng kíp đem ra, bởi xưa ta tin bụng đờn bà, nên mắc phải bợm già như vậy. Chẳng trao làm của tin người ngãi, ngọc ấy đâu nàng phải đem ra, chẳng chơi mà nói chuyện bỏ qua, rồi trở trách sao ta phụ bạc.”

Cô rằng: “Hột ngọc ấy bấy lâu thất lạc, thiếp kiếm tìm táo tác không ra, bởi sợ chàng chẳng tưởng rầy la, nên cam chịu tha nha thiết xĩ. Thiếp đâu dám sanh tâm hồ mị, đem của chồng ra ký tình nhân, dẫu một ngày cũng gọi là ân, huống chi đã nhâm thần kiết tử.

Sự may rủi biết đâu mà giữ, xing nghĩ tình tha thứ kẻo oan, một ngày kia đang lúc điểm trang, để cà rá nơi bàn rửa mặt. Bỏ quẹn đó người ăn cắp mất, nhớ lại tìm hết sức không ra, biết bao nhiêu tôi tớ trong nhà, dám nghi quyết ai mà tra hỏi.”

“Như có vậy thì nàng cũng nói, nếu quả nàng không thói tà tinh; lý đâu nàng đánh chữ làm thinh, nay hỏi tới sự tình than thức, Hữu nhan sắc hữu ác đức, lời bàn nhơn quả thật chẳng sai, tang tích còn hiện tại nơi tay, mà còn kiếm lời hay đổ tháo.

Nầy Anh Cô, xưa kia tưởng cùng nhau trọn đạo, nay mới tường phân áo rẽ bâu, dám hẹn người tới giữa vườn dâu, đem của báu mà trao làm tín. Mi tưởng chuyện trong mùng rằng kín, không có người tìm vít thổi lông, ta đã tường tận hết ngọn nguồn, còn chi nữa mà mong từ chối. Cùng ai mi chuyện trò sớm tối, cùng ai mi chung gối ngoại tình, hột ngọc xoàn trao để làm tin, còn chi cái chữ trinh mà kể.

Vì mạng vắn thầy thông thệ thế, kim cang thầy còn để cho ai, tàng tích đà tạng mắt tạng tai, chữ đồng có bẻ hai cũng đáng. Bụng muốn vậy dạ nào còn thán oán, bởi vì mi tham ván bán thuyền, phải nào ta lỗi hẹn lỡ duyên, cho má phấn đảo điên mà trách. Nàng dầu muốn làm ra minh bạch, ta sẵn lòng tâm mách cho coi, chớ ngỡ rằng chậu úp không soi, mà nói phận thiệt thòi cho lắm.”

‘Nộ bất cập xin chàng xét thẩm, thiếp lẽ nào sa đắm nguyệt huê, kể từ chàng cưới thiếp đem về lòng dặn một trọn bề giai ngẫu. Chàng tưởng đến ơn đà rất hậu, nghi thất vầy quí báu biết bao, còn chi mà bẻ lựu hái đào, còn chi nữa vườn dâu to nhỏ. Ơn tri ngộ ngậm vành kết cỏ, lang chạ vì rày đ1o mai đây, biển trầm luân muốn lấp cho vừa, lẽ nào đặng phòng nầy khuây nọ. Như chàng quyết một hai rằng có, xin làm ra cho rõ kẻo oan! Giống miệng lằng muốn phá gia cang, nghe vội rẽ tào khang tội nghiệp.”

“Nàng dầu có kêu oan la hiếp, chứng cớ đem ra cho hiệp mới là, muốn vậy thì sai kẻ sang qua, mời người tới tại gia thời rõ.

Thoàn, ngươi mau khá mời con Bảy Nhỏ đem hột xoàn của nó qua đây, đặng cho ta phân rõ sự nầy, kẻo nghi nỗi mưu ai bày biểu.”

Kế của Thoàn ác tâm định liệu, nghe Nhơn sai chàng đã hiểu xa bước ra đi không chút dần dà, lại toan chước độc mà xui quấy. Gặp Bảy Nhỏ, Thoàn liền nói lại, nỗi niềm giây oan trái Ái Nhơn; rằng kế mình thành đặng bảy phần, phải giữ chặt mữa đầng tiết lậu.

Nàng dầu muốn thành câu giai ngẫu, phải nghe theo lời bảo của ta, gia đạo Nhơn đang lúc bất hòa, mời Cô tới tại nhà đối nại. Vậy thì cô hãy đi mựa đừng nghi ngại, cứ theo lời ta dạy mà khai, duyên trước dầu rắm rối sẻ hai, nợ sau ắt bền dai quai cuống.”

Con Bảy Nhỏ theo Thoàn tuốt xuống, song tròng lòng những luống sợ thầm, sợ là sợ Anh Cô kết oán thù thâm, rẽ chồng vợ ngàn năm còn hận. lại xét, làm như vậy đất trời cũng giận, huống là người há chẳng ghi xương, tội lỗi dường bắc hải khó lường, ác độc ấy Thái Sơn chất để. Nghĩ tới nỗi không đành xui tệ, ngặt bởi Thoàn sợ kế bất thành, nên kiếm điều ngon ngọt dỗ dành ép con Bảy Nhỏ thi hành mưu độc.

Vào tới thấy Anh Cô còn khóc, khóc và than tơ tóc cùng chồng, gan dạ nào mà chẳng đau lòng, dầu sắt đá cũng không đành vậy.

Thấy Bảy Nhỏ Anh Cô đứng dậy, bước ra chào cô Bảy sang qua, gượng chào mừng mà hột lụy chan hòa, tức ấm ách như là té nặng. Thấy cà rá càng thêm cay đắng. muốn mở hơi mà nói chẳng ra lời, cắn răng ngồi thầm một trách trời, ghen chi hỡi hại người đến đỗi!

Ái Nhơn mới kêu nàng mà nói: “Cà rá kia nàng hỏi lại coi, chớ tưởng rằng chậu úp không soi, mà toan dấu kín mùi hoa nguyệt. Hỏi cô Bảy cổ nói cho mà biết, kẻo rằng ta sanh việc bất hoàn.”

Anh Cô xin cô Bảy phân qua, cà rá ấy bởi đâu mà có đó?

Bây giờ mới tới con Bảy Nhỏ, giả không dè phân rõ ngọn nghành: “Chuyện nầy đây là chuyện thình lình, vì chẳng rõ sự tình nói lỡ. Cũng vì cô với tôi chưa hề gặp gỡ, chẳng biết tên nên ngỡ là ai, tôi nhẫn dầu lời thiệt khai ngay, có mựa trách thái lai đôi mách.

Buổi trước tôi trộm tình Kim Thạch với một thầy ở cách xa xa, bởi vì tôi nghi thất nghi gia, nên khó nỗi hiệp hòa cho tiện. Tuy vậy mà có lời thệ nguyện, nguyện ngày sau lập kiểng trồng huê, hễ chồng tôi bước cẳng ra về, thì tính việc phu thê cùng thẩy. Bởi  nguyền như vậy cho nên mới vậy, chẳng bao giờ ở quấy với nhau, dẫu mà thầy có lấy con nào cũng nói thật trước sau tôi rõ.

Dịp đâu bỗng gặp nhau bữa nọ, trộm cang thường to nhỏ với nhau, hột xoàn nầy thầy cổi ra trao, tôi mới hỏi âm hao tự sự. Thầy mới nói: “Của người phụ nữ vì tình riêng ký giữ làm tin, gặp mình đây trao lại cho mình, mình đeo lấy giữ gìn dấu tích. Tôi với mình bấy lâu khắng khít, dẫu rằng chưa đồng tịch đồng sàng bởi nàng nguyền hai chữ tào khang, l2ng thệ chẳng phụ phàng chăn gối.”

Anh Cô cười mà lụy tuông như xối, ngồi khoanh tay nghe nói buồn tanh, hỏi: ‘Vậy chớ chẳng hay thầy hà tánh hà danh, làm chi ở Bến Thành nói thử?”

“Thưa cô, thẩy cũng bực viên quan công tử, chẳng phải người lạc xứ ly hương, tên của thầy là Lý Mạnh Thường, nhà mười một ở đường Sở Giếng. Thầy giúp việc với quan Thầy Kiện, cũng là người danh tiếng bấy lâu.”

Anh Cô nghe nàng nói lắc đầu, nực cười cái họa đâu khéo gởi. Ái Nhơn kêu Anh Cô hỏi lợi: “Vậy chớ phải là người tình ngỗi mình chăng?”

Anh Cô ngồi chẳng nói chẳng rằng, nỗi oan ức cắn răng chịu vậy. “Cô có biết tên người tình ấy, lẽ nào không nói lại cô hay, vậy xin cô mau khá tỏ bày, cho tôi rõ tai bay họa gởi.”

“Thưa cô, thầy có nói Anh Cô thiệt là tên người ngỡi … Khoan! ….”

Nhơn rằng: “Anh Cô mi có nghe chăng? Như không nghe biểu cô nầy nói lợi giùm cho? Cha chả! Dám cả gan trộm lịnh đừa đò, lại cấp của đem cho tình ngãi. Lời thánh để nghĩ âu chẳng sái, độc nhơn tâm là gái khó lường, bởi vì mi lỗi đạo cang thường, đừng trách lẩn tào khang sớm bức.”

Anh Cô ngồi lụy tuông không dứt, cứ làm thinh than tức trong lòng; Bảy Nhỏ liền từ giã ruổi dong. Thoàn mầng kế tính xong khấp khởi.

Bây giờ Nhơn tính bề nhơn ngỡi, quyết một lòng bứt sợi chỉ mành, chứng cớ và tang tích đành rành, còn chi kể thiên thành giai ngẫu. “Xưa cũng tưởng cùng nhau trọn đạo, nàng rõ câu kiết thảo hàm oan, nay mới tường lòng thú dạ lang, còn chi nữa mà toan chung gánh.

Hay cho bậu giữ tròn tiết hạnh hay cho nàng đức sánh Mạnh Quang, bổn phận nàng phải tính cho an, đừng nói việc mển mang kiết tử. Hễ người trí phải toan tự xử, khó mà trông ta thứ lỗi cho, rảnh rang rồi mặc thích đưa đò, sớm tối bậu lần dò sâu cạn.”

Anh Cô khóc cùng chồng than vãn, trách vì ai kết oán mưu toan; nghĩ xưa kia Tể phụ hàm oan, ba năm trọn không chan một giọt “Chàng ôi, chàng khá nghĩ chút tình thương xót, bướm ong đâu để lọt qua rào, xin xét niềm phu phụ chi giao, mà cảm phận má đào lâm nạn. Một ngày cũng là tình nghĩa nặng, huống cùng nhau bậu bạn trót năm, mình ôi, tuế hàng tri tòng bá chi tâm, đừng vội giận các lầm ngọc trắng.

Dầu chẳng xét quyết tình bứt thẳng, máu mủ nầy chàng chẳng nghĩ sao? Phận thiếp dầu no đói quản bao, thương trẻ dại u ơ bố cốc. Con có cha dường như cô độc, mới lọt lòng oan khúc nào hay, có phải là cha giàu sang con trẻ lạc loài, phận rủi ấy vì ai có biết!

Chàng dầu muốn dứt tình Hồ Việt, xin đừng quên khí huyết của chàng, phận liễu bồ đang lúc mển mang, mựa vội khiến tào khang cho lỡ. Dầu chẳng gọi là duyên là nợ, thiếp xin làm tôi tớ trong nhà, đợi đến kỳ nở nhụy khai hoa, rồi đuổi thiếp đi ra cũng dễ.”

Nói dứt tiếng nhào lăn khóc kể, “Trời đất ôi! Chửa nghén vầy mà chồng để khốn thay, phải chi mà thiếp chẳng có thai, liều xuống chốn diêm đài cho rạng!”

Nhơn thấy vậy lòng không đành đoạn; xót vì câu nghĩa nặng tình dài, nhưng mà nghĩ đến điều cấp của cho trai, cơn giận nổi bằng hai quyết bỏ. Thêm nhớ tới mặt mày con Bảy Nhỏ, lửa lòng càng thêm đỏ khó ngăn, cớ ấy nên chàng mới đành phân rẽ gối chăn, chẳng kể tiếng la oan than tức.

Related Images:

 

Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-1

Vài lời từ người đánh máy

Truyện được chia thành 6 cuốn. Tôi sẽ lần lượt đánh máy và đăng từng “phần” lên để các độc giả xem. Chữ “phần” trong ngoặc vì nguyên bản sách không chia chương hồi mà chỉ đặt tên theo kiểu “tóm tắt nội dung”.

Truyện được viết cách đây hơn trăm năm, cách dùng từ, viết câu, đặc biệt chính tả có nhiều khác biệt so với ngày nay. Người đánh máy xin phép sửa lỗi chính tả và đăng hình chụp Bản in 1916 của truyện để độc giả đối chiếu.

Hình chụp Bản in Cuốn 6 năm 1916


Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-1Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 03-1

Bạch tỉ Thoàn âm mưu trả oán,

Ái Nhơn lầm kế độc dứt tình.


“Năm trường chịu hết hồi lận đận, con lớn khôn gầy dậng lứa đôi, hay tin chồng đã thác rồi, nghe lời trối bồi hồi tấc dạ. Tuy là đó lỗi niềm vàng đá, nhưng mà gần tị trần tri quá cũng hay, dặn người tìm giao nửa gia tài cho thê tử lạc loài đất khách.

Nghĩ hờn trước khôn cùng trộm trách, trách chàng không tầm mách hoa rơi, xét ơn sau ruột rối bời bời, nên tới mộ đôi lời than tiếc, nơi chín suối hồn linh có biết, chốn dương trần cách biệt thê nhi, chén trà thô gọi chút xướng tùy, chung rượu lạt thê nhi tam cúng.”

Mụ than dứt ngồi mà khóc rống, Anh Cô nghe cảm động lòng vàng, trước mồ cha cặm một lọn nhang, lầm thầm vái mắt chan hột lụy. “Cha ôi, tình máu thịt lẽ nào không nghĩ, nhưng bởi phận đào thơ chẳng rõ thỉ chung, buổi lọt lòng cho tới lớn khôn, một mình mẹ với con hẩm hút.

Con thầm nghĩ phận con côi cút, mới lọt lòng trong đục đâu tường, chừng nghiêng vai chung gánh cang thường, nghe nhắc tích thung đường mới biết. Dầu hai ngả âm dương cách biệt, xin chứng lòng thành thiệt rể con.” Cô vái rồi đứng khóc nỉ non, Ái Nhơn cũng héo don gan tấc.

Than chưa dứt bóng hồng hầu khuất, lụy không ngừng mặt nhựt đã chinh, đề huề ra phản bộ lộ trình, nơi dặm thẳng sầu tình nan giải. Đàng vắng vẻ không người qua lại, chim hôm đà ba bảy vầy đoàn, gió bặt tin cây lá ngủ lặng trang, sao lố mặt ngổn ngang thức bóng. Bên triền lộ mênh mông đồng rộng, dọng nhái than mà động tấc lòng, ngựa ngán đàng bước nọ biến dong, tiếng dế khóc não nồng cha chả!

Họa đâu tới nửa chừng đàng sá, biến đâu sanh rất lạ lùng thay. Bánh xe đang dong tuổi đàng dài, có kẻ chận ra tay sát hại. người tích đức trời còn tưởng đoái, phước nhiệm mầu dành lại cho chàng.

Lát lẹ chơn nhảy xuống cản ngang, giựt độc kiếm kẻ gian tại thử. Đá một đá gian nhơn ngã tử, nằm giữa đàng hơi thở hết trông, tưởng chàng đà hồn xuống chín sông. Nhơn xem thấy tâm trung kinh hãi.

Vợ chồng bước xuống xe coi lại: “Ủa nầy Bạch tỉ Thoàn theo hại ta đây, vì tham tài oán nọ đã gây, nguyền chẳng kíp thì chầy trả đặng. Ta giữ một lòng ngay dạ thẳng, sao chẳng suy kết oán theo hoài, ta nghĩ là nghĩ tình ai chung cha với ai nên không nỡ dĩ tài hại mạng.”

Cô nghe trách thỉ chung nào hãn, hỏi chồng sao than vãn lạ lùng, Ái nhơn liền bày tỏ khúc trung, sự tích mẹ kết cùng Nghĩa Hữu. Trôi giữa biển nhờ người vớt cứu, cũng bởi lòng Nghĩa Hữu bất nhân, kể nỗi niềm phu phụ phi ân, làm đến đỗi mẫu thân vong mạng. Chuyện thị Hoa lâm tòng mắc nạn, nhờ tiều phu gặp đặng cứu về.

Kể những hồi Thoàn đắm nguyệt huê, dụ hiền nữ đề huề lén bước. Rồi lại chẳng nghĩ tình sau trước, Long dứt đàng ô thước lại qua, ngẫu nhiên xui nàng lại gặp ta, mướn phòng ở ngang ga xe lửa. Thoàn không bỏ còn tìm theo nữa, ngừa canh gà vào cửa cướp duyên; đâm ta hồn tưởng xuống huỳnh tuyền, may còn hãy ngồi miền dương thế.

Cướp đặng rồi lại sanh lòng tệ, bỏ nàng đau thệ thế khốn thay, nàng nằm trơ không chút đoái hoài, gặp ta mới ra tay tế độ, chôn cất nàng đã an phần mộ, Bạch tỉ Thoàn nào có biết đâu, thời trời xui cho cuộc bể dâu, thiện ác tháy đáo đầu có trả.

Lễ Tân Thị Sài Gòn vui quá, người lục châu tựu đã nên đông, buổi chiều kia trời khuất bóng hồng, gặp Thoàn tại quán trung Tân Thị. Ngộ tiền cừu oán kia chưa phỉ, hường nhan đâu chăm chỉ bước vào, lầm lũi đi không nhắm trước sau, cùng Bạch Tỉ âm hao bày tỏ.

Đến chừng nàng xây lưng ra ngó, thấy mặt ta nhìn rõ hỏi liền: “Chủ thiếp đà hồn xuống cửu tuyền, ai ngồi đó như ảnh truyền bia tạc.”

Nàng mới hỏi, ta e lầm lại, chừng tỏ bày sau trác mới là biết hãn nàng tên thật thị hoa, ở nô tỉ nuôi ta thuở ấu. Nhờ nàng thuật chuyện nhà mới thấu, bằng chẳng ai tiết lậu mà hay, nàng mới phân tới chuyện gia tài, mẹ ta thác về tay Nghĩa Hữu.

Bịnh trầm trệ hết phang giải cứu, nàng ép lòng Nghĩa Hữu di ngôn, nàng hối ta sao cũng phải bôn, làng Long hải ruổi dong tới đó. Tờ di chúc chữ đề tỏ rõ, mau dời chơn mựa chớ nghi ngờ, đừng để cho những kẻ bá vơ, vô cớ đặng hưởng nhờ phụ ấm.

Ta nghe lời lên xe tách dặm, sự nghiệp nhà mới nắm lại đây; Thoàn tức mình thù nọ mới gây, tụng đình quyết mướn thầy kiện cáo. Thoàn lại tính âm mưu sát hại, ra khỏi tòa chận nhảy tới đâm, hễ thảm họa diệt cũng thảm họa, chàng mắc án giam cầm nhà phạt. Ở tù rồi ra không cải ác, quyết theo ta tận sát rửa hờn, bởi vì câu thiện giả thiện hườn, khiến cho gã gặp cơn tai hại.”

Nhơn dứt lời Thoàn đã tỉnh lại, thấy Ái Nhơn sợ hãi biết bao, nghĩ việc mình sực nhớ đề lao,muốn vụt chạy biết sao mà chạy. Chẳng dè Nhơn có lòng quảng đại, kêu Thoàn mà phân giải sự tình, lại biểu Thoàn về ở với mình, đừng quen bước linh đinh đất khách. Việc lầm lỗi Nhơn không thèm trách, cũng không làm minh bạch giữa quan, Thoàn ăn năn theo tới gia đàng, đành nương dựa cho an thửa phận.

Anh Cô sợ Thoàn còn oán hận, khuyên Ái Nhơn cẩn thận kẻo mà, nếu chàng mong nuôi cọp trong nhà, quen hơi ác sanh ra ba miệng.

Lòng Ái Nhơn rộng dường như biển, chẳng thèm nghe mấy tiếng khuyên lơn, nghĩ cho minh chánh đường đường, trời nào để họa ương mà sợ.

Kể từ buổi kết duyên chồng vợ, đôi lứa vui lẽ ở bề ăn, Anh Cô đà kiết lũ nhâm thần, lần tay tính bốn trăng dư lẻ.

Buổi chiều nọ ngừa cơn mát mẻ, cảnh trời dường như vẻ rất xinh. Nhơn ngồi xe dạo khắp lộ trình, xem những việc thế tình giải muộn. Bên dốc cầu có người di xuống, sắc dợn dường nước cuộn ba đào, tóc cánh tiên, mắt chói tợ sao, trán chẳng rộng mày cao vòng nguyệt.

Má miếng bầu mà da tợ tuyết, răng như cưa miệng thiệt có duyên, hình dung dường vóc ngọc cốt tiên, nề nếp gái chính chuyên có một. Tay mũi viết móng dài đậm đuột, chơn mang giày chải chuốt biết bao, áo sô-cô-la tươi tốt khoe màu, quần lãnh trắng gió xao lưng rút. Che dù hàng thêu nhành bông cúc, tay vấn neo chận khúc hột vàng, cổ đeo chiền nhận hột kim cang, thêm cà rá hột xoàn nước chói.

Nhơn liếc thấy lòng khen thầm nói: “Cha chả! Gương đâu mà bóng giọi tới đây? Bạc ngàn cân không chuộc giá ngọc nầy, vàng trăm lượng khó vầy nhơn nghĩa đó! Phải mà đặng như trăng đưa gió, cho phỉ tình nguyệt thố ngó nhau, ai ra tay giúp mở cửa vườn đào, miễn cho được tốn hao nào kể!”

Nàng thời gấp bước đường sợ trễ, Nhơn thời mê không thế bỏ qua, mới quày xe theo riết tới nhà, nàng vào cửa số ba mươi sáu.

Nhơn lại qua ngơ ngáo, cực nỗi về áo não tâm tình, trở bánh xe nương bóng trăng thinh, noi theo ngõ Bà Hình giục vó. Man mát mặt lóng nghe dì gió, thổi lai rai như tỏ tin nàng, ngơ ngẩn lòng trộm liếc chị hằng, vặt vặt dường than tế ngộ.

Làm sao đặng tay đăng vầy đó, kẻo còn mơ lá gió nhành chim, làm sao cho chỉ lọt trôn kim, phỉ tấc dạ kiếm tìm giai nữ. Mãn mơ tưởng nỗi niềm tâm sự, quên coi chừng đàng sứ ruổi dong, lúc quanh qua Mặc-má-hồng đụng xe kéo vạy cong gãy gọng!

Tên kéo xe rộng bọng, kêu óng óng mã tà, biết mình lỗi Nhơn muốn êm hòa, mau móc túi cho năm đồng bạc!

Về tới cửa kêu thằng năm Lát ra mở xe, chàng thoạt bước vào. Nhơn tưởng hình mặt héo dàu dàu, chàng nhớ bóng như bào trong dạ. Biết cùng ai tỏ niềm tậm sạ, nằm không yên giục giã cơn sầu, cứ thở ra chắt lưỡi lắc đầu. Cô ngừa lúc anh thâu hỏi thử: “Chàng nay có việc chi tâm sự, giấc chẳng yên tư lự đêm trăng, hay trong mình chàng chẳng đặng an, xin chàng khá phân tàng áo lý.”

Chẳng dám tỏ việc mình riêng nghĩ, mới dối rằng mình bị nhức đầu; Cô mau tay mở tủ lấy dầu, rồi cầm quạt, quạt vào cho mát. Đâu dè nỗi chàng mê nhan sắc, nên đêm nằm nhắm mắt không yên, phải mà nàng rõ thấu cơ duyên, lẽ khi giọt máu ghen tràn chảy.

Chưa kịp sáng chàng đà thức dậy, dạo vườn hoa cho giải cơn sầu, mới kêu Thoàn tỏ hết đuôi đầu, rồi lại cậy bắc cầu ô thước. Thoàn nói rằng thiếu gì mưu chước, khó bực nào cũng được chẳng không, dẫu cho nàng là gái có chồng, bắt đặng tất hơi đồng cũng ngã. “Để một chập rồi tôi sẽ thả lên Cầu Bông coi ả nào đây, chuyện làm sao cũng nội đêm nay, hoa bướm ắt vui vầy một cuộc.”

Buổi trước Thoàn là công tử bột, nên mới là quen thuộc nhiều tay, ngừa cơn nầy oán hận trả vay, chẳng nghĩ cái ơn dày minh thọ. Lên Cầu Bông hỏi thăm tình gió, nhờ người bày mới rõ sự duyên, nàng nầy đây là gái Đạm Tiên, nào có phải chính chuyên chi đó. Tên của nàng là con bảy nhỏ, vàng với thao nào có chọn lừa; nghe hơi đồng lớn nhỏ cũng ưa, cậm chích bá sớm đưa tối rước. Tuy chưa làm nghiêng thành đổ nước, hại anh hùng lỡ bước ghe phen.

Thoàn tìm vào giả chước làm quen, rồi mới dạy trống kèn ăn nhịp. Bảy Nhỏ chịu rồi Thoàn mới tiếp: chừng hai đàng có hiệp nói vầy … Sau rồi chàng hỏi đến của nầy ….. thì nàng sẽ tỏ bày như ý ……… Làm như vầy taan thành nát lũy, nhưng phận nàng chung thỉ vẹn xong; khá gắng ghi mựa chớ ngại lòng, lỡ cơ hội khó mong gặp lại. “Tối bữa nay đồng hồ sang bảy, nàng ngồi xe bảo chạy Ba Hình, gặp mặt nhau đôi lứa trần tình, đem chàng lại gia đình chung gối.”

Thoàn d8a5n dò trước sau mọi nỗi, mặt giã từ chơn vội bước ra; những mãn còn bàn bạc gần xa, bỗng lố thấy cửa nhà rồi đấy. Trông thấy vội Nhơn mau chơn chạy, đón hỏi Thoàn oan trái ấy sao?

Thoàn đáp rằng có gặp má đào, lời êm thuận bỏ vào lòng dạ. Nghĩa tóc tơ đã đàng lòng gá, hên đêm nay đợi ngã Ba Hình; Thoàn bảo Nhơn theo dõi với mình, bảy giờ tối gặp tình trăng gió. Nhơn mừng tợ hạng phùng cam võ, phỉ tấm tình linh thỏ ngóng trăng, kẻo còn mơ tấm giọng ả Hằng, đêm trăng luống xốn xang tấc dạ. Ngồi mà đợi ngày giờ lâu quá, nghĩ buồn cho kẻ hận gia trang, xét ra rồi một tấc thiều quang, dài biết mấy dặm ngàn mà độ.

Chuông nhà thờ bảy giờ chưa đổ, Nhơn kêu Thoàn giục vó ra đi, tới Bà Hình nào có thấy chi, ngừng xe ngóng tâm bi bất tận. Chập lâu đợi Thoàn đà nổi giận, Nhơn thì ngồi ngơ ngẩn như say, bỗng chợt nhìn xe chạy như bay, còn nghi nỗi xe ai giục vó. Chừng lại gần thấy con Bảy Nhỏ, mới hết lo bề nọ nỗi kia, Thoàn để cho súng nọ nhìn bia, cửa vườn đợi khóa chìa hiệp mở.

Đôi lứa gặp vui mầng một thuở, bướm còn hơi mắc cỡ với hoa, hoa mở đàng cho bướm lân la, cười cợt giọng phiền ba với khách. “Chàng có tưởng mựa đừng chấp trách, để thiếp phân hắc bạch đôi lời, chốn nầy đây không chỗ không nơi, nhà thiếp đó xin mời chàng tới. Duyên kỳ ngộ một ngày cũng ngỡi, chẳng phải tuồng bướm lợi ong qua, chồng thiếp nay không có ở nhà, mặc tình đó vào ra thong thỏa.”

Nhơn nghe nói trong lòng mừng quá mừng cho cơn vàng đá tương tri, mới hỏi: “Chồng của nàng danh tánh là chi, nhơn sao lại có đi vắng mặt?”

Con Bảy Nhỏ kiếm lời tráo chác, đặt chuyện mà nói gạt Ái Nhơn, rằng: ‘Từ Âu Châu binh cách gặp cơn (1), chồng thiếp đã mắc chơn quân lính; thiếp ở nhà một mình magn bịnh, nhớ chồng nên cơn tỉnh cơn mê, hồi trưa nầy xuống bút thơ đề, tỏ tác dạ phu thê tương cách.

Bỗng thấy Thoàn bước lên thềm gạch, hỏi thăm người khít vách đi đâu? Thoàn là tay mưu trí thiệt sâu, mượn tiếng ngọt mà cầu thân thiếp. Quan rồi chàng mở câu hồng điệp, hở môi bày sứ điệp tin ong, bởi gặp cơn thiếp chạnh cô phòng, nghe lời dỗ cầm lòng không đậu.

Thiếp mô dám đổi xiêm thay áo, mà sanh tâm điên đảo cho đành, bởi nghe ông là đứng tài danh, e thẹn vuối mắt xanh bỏ quá. Phải cam chịu ven nhành vạch đóa, vẫn biết là gởi bạ nhành dâu, nghĩ khi thương chẳng lựa là cầu, lòng quân tử lẽ nào phụ rẫy.

Phận hèn nhờ phước xưa roi lại, nên đại nhơn tưởng đoái chút thân, chốn trầm luân cổi sạch nợ trần, ngậm vành đáp công ân chưa phỉ.”

Lời cuộn cuộn như đờn lưu thủy, nhón giày chờ tri kỷ ven tai, Nhơn thầm khen tài sắc bực nầy, tiếc thay bỗng lạc loài thân phận. Khôn đến mực phân trần êm thuận, giả cũng đành cho xứng gna2n vàng; còn đang suy xe vội ngừng đàng, vào cửa phố ở ngang rạp hát.

Nhơn vào rồi mắt nhìn sau trác, phòng khách đồ sắp đặt nghiêm trang, vách mới sơn nét phấn ràng ràng, dựa cửa để ghế bàn tinh sạch. Nhơn mới liếc coi hai bên vách, san thủy treo nhiều cách khéo thay, thêm bức tranh vẽ Bá Lạc Đài, chỗ Thương Chúa đêm ngày lắm lúc. Nhơn sực nhớ tích xưa sùi sụt, sóng khuynh thành một phút phá tan, rất đỗi là đế vưng còn bại quốc tán bang, huống một nắm gia cang chi kể.

Tuy nghĩ vậy trở ra chưa dễ, bị ba đào xui tệ lắm thế; nết hồng nhan không thuốc mà mê, nhà xuân muốn trở về không đặng.

Con Bảy Nhỏ mới dắt chàng đi thẳng, vào trong phòng tươi trắng tuyết pha, gối tai bèo rưới giọt dầu hoa, thơm nặc mũi bằng ba mùi xạ. Nệm bông mềm lót “đờ -ra” (drap) êm quá, mùng táng ong màu giá cũng thua, mền trắng tươi có tuội có tua, giường bằng sắt mới mua trăm mốt.

Lại thêm có bàn đèn sẵn đốt, ống-nồi tiêm-móc tốt hẳn hòi, đủ đồ nghề của bợ, làng soi; Nhơn chưa thạo hết mòi trăng gió.

Related Images:

 

Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 02-3

Vài lời từ người đánh máy

Truyện được chia thành 6 cuốn. Tôi sẽ lần lượt đánh máy và đăng từng “phần” lên để các độc giả xem. Chữ “phần” trong ngoặc vì nguyên bản sách không chia chương hồi mà chỉ đặt tên theo kiểu “tóm tắt nội dung”.

Truyện được viết cách đây hơn trăm năm, cách dùng từ, viết câu, đặc biệt chính tả có nhiều khác biệt so với ngày nay. Người đánh máy xin phép sửa lỗi chính tả và đăng hình chụp Bản in 1916 của truyện để độc giả đối chiếu.

Hình chụp Bản in Cuốn 6 năm 1916


Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 02-3Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 02-3

Gái không cha gặp chồng giao của,

Trai mất mẹ muốn vợ liều công.


“Ừ, con nhắm tuổi tác người chừng mấy, ra làm sao nói lại thử coi.”

“Thưa, tướng mạo ngài phốp pháp hẳn hòi, ngài chịu ở lẻ loi từ ấu. Tuổi ngài đã đầy năm muo8i sáu, mà xem trong gia đạo vắng hoe, cho hay giàu của chất muôn xe, song chẳng có cháu con nối nghiệp, không thú thê cũng không mãi thiếp, cận địa rồi sự nghiệp cho ai, ngài nghe tôi đủ đức đủ tài, nên ngài muốn nói vài lời trối.

Rằng: Buổi nhỏ hàn vi lặn lội, trôi cồn nầy rồi nổi vịnh kia, đã không nhà nương ngụ sớm khuya, năm chí cuối làm thuê làm mướn. Một bữa nọ gặp nơi lộ thượng, gái hồng nhan vô lượng giá vàng, khởi tâm dâm hóc vắng làm ngang, đè nàng xuống vầy đoàn trăng gió. Rồi hai ngả phân tay từ đó, không rõ ràng tên họ là chi, chẳng biết tên quê quán là gì, mà lão cũng bất tri phụ mẫu.

Lão có hỏi mà tại nàng nói dấu, nên lão không hãn thấu sự nàng, biết có một điều tay nàng đeo cà rá bằng vàng, có khắc nổi rõ ràng hai chữ. Cậy ánh diêm rọi tay coi thử, song cũng không hiểu tứ người đề, thấy phân minh hai chữ G. C., nào có biết dấu chi mà định.

Bây giờ lão đã lâm trượng bịnh, khác nào như trái chín trên cây, sự nghiệp nầy bỏ lại cho ai, nên lão mời trí sĩ tới đây mà trối. Một mai lão hồn về chín suối, ráng tìm cho ra mối ra mang, của sớt hai giao lại cho nàng, còn phân nửa lập tràng giáo hóa. Rủi mà tìm không ra tin cá, bố thí cho hết cả gia tài, hoặc giúp người tàn tật ăn mày, hoặc nuôi trẻ chẳng may cô độc.

Đọc lời trối rồi nằm mà khóc, thêm bịnh già trằn trọc không yên, nghĩ đến thân tấc dạ càng phiền, phiền cho phận vô duyên xấu phước. lãnh gia tài mà tìm không được, tưởng duyên người thuở trước đã qua, nào hay trời khiến hiệp một nhà, nào có phải đâu xa cách dặm.”

Mụ nghe dứt ngồi mà thấm gẫm, gẫm lại rồi càng thấm càng đau, vậy cũng rằng duyên nợ buổi đầu, vậy cũng gọi là câu túc trái. Trách người chẳng có lòng tưởng đoái, gây nợ nần rồi lại bỏ đi, chẳng nghĩ câu phong võ bất kỳ, nào xót phận nữ nhi nan hóa. Tình máu mủ mụ mang trong dạ, nỡ theo tuồng bướm bạ vườn oan, mụ lâm bồn chi xiết gian nan, chịu nhiều nỗi cơ hàn thới quá. Chàng lắm lúc an phần sang cả, nay ăn năn thì đã lỡ bề, nghĩ chút tình cũng gọi phu thê, nghe chàng đã về quê mà cảm.

Còn của cải của chàng gởi gấm, mẹ con ta đâu dám chen vào, chữ rằng nhơn phi nghĩa bất giao, của phi nghĩa lẽ nào lại thủ. Thà cam phận thú quê lam lụ, hơn là lãnh của nầy vi phú vô danh, mặt tình con đem hết làm lành, mẹ tự quyết chẳng đành tọa hưởng.

Nhơn nghe nói mười phàn kính trượng, lòng phụ nhơn độ lượng hải hàm, thấy của tiền mà chẳng biết ham, đành vui chữ y tham lam lụ. Mụ mới hỏi qua mồ vô chủ, xin dẫn đàng lên thủ viếng thăm. Nhơn đề huề tới chốn kiếm tầm, dùng tửu thực hương đăng tế mộ.

Xe máy hơi trải sang đường bộ, chưa mấy giờ tới chỗ rồi đây, xem tư bề Nam Bắc Đông Tây, vườn rậm rạp bóng cây che phủ. Chẳng phải chốn non xanh vượn hú, nhưng mà cảnh buồn dường như thú lâm tàng, gió lai rai như khóc như than, nhành xao động xem càng đau dạ, chỗ thì cỏ mọc ngọn đà cao quá, chỗ thì rụng đầy những lá xanh vàng, cảnh đành cho là cảnh vườn oan, loài dây bạ bò ngang vấn dọc.

Một gò đất cỏ xanh đã mọc, dựa đường mòn bên góc hướng tây, dưới chơn thì có mấy gốc cây, trên đầu nước chảy ngay vô đó. Lá khua vang vi hiu hắt gió, chim lẻ đôi tiếng đổ muôn ngàn, nước cuộn giòng thấy đáy trong ngần, cá đua lội sáng trưng đôi mắt.

Mộ bi chữ son bia tạc, đề tên người mạng bạc từ đây, mụ lão ngồi chíp miệng than dài, người chín suối có hay chăng nhé, “Duyên xui gặp, gặp rồi lại rẽ, rẽ hai đàng để kẻ mển mang, trách vì ai gây cuộc trái oan, rồi bỏ đó lỡ làng chút phận.”

Mụ nghĩ lại mụ càng thêm giận, giận ai làm bạc phận bấy lâu, mưới mấy năm chát thảm ôm sầu, năm canh lụn lo âu tấc dạ. Dầu chẳng xét cho rằng vàng đá, cũng nghĩa tình bướm bạ nhành hoa, sao không suy máu mủ cũng là, mà nỡ để cho già luống chịu, nhà nghèo khó món chi cũng thiếu, chốn lạ lùng lúc yếu nhờ ai, ngồi ru con giọt vắn giọt dài, xét lại phận như loài gà mái. Trống đạp rồi bao giờ tưởng đoái, thỏa tâm tình vui gáy ó o, mãi rũ lông bươi kiếm cho no, cù tác đẻ liệu lo lấy phận.

Related Images:

 

Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 02-2

Vài lời từ người đánh máy

Truyện được chia thành 6 cuốn. Tôi sẽ lần lượt đánh máy và đăng từng “phần” lên để các độc giả xem. Chữ “phần” trong ngoặc vì nguyên bản sách không chia chương hồi mà chỉ đặt tên theo kiểu “tóm tắt nội dung”.

Truyện được viết cách đây hơn trăm năm, cách dùng từ, viết câu, đặc biệt chính tả có nhiều khác biệt so với ngày nay. Người đánh máy xin phép sửa lỗi chính tả và đăng hình chụp Bản in 1916 của truyện để độc giả đối chiếu.

Hình chụp Bản in Cuốn 6 năm 1916


Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Kim Đính – Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 02-2Hà Hương Phong Nguyệt (Cuốn 6) – Phần 02-2

Gái không cha gặp chồng giao của,

Trai mất mẹ muốn vợ liều công.


Bầy trẻ nhỏ đua chen rập rận, bọn kéo xe ngơ ngẩn đứng nhìn, bên xóm giềng thiên hạ dư nghìn, tựu trước ngõ hàm thinh trơ mắt. Xe rút chạy áo màu phơ thất, ngọn gió lò chất ngất mùi hương. Thoát ngang qua các nẻo các đường, người trong chốn phố phường xem chật.

Tới ruộng thấy mục đồng mừng cười ngất, trầm trồ khen xinh thật là xinh, “bọn ở trai” tất cả cũng đứng nhìn, xầm xì ước phải .. mình .. được .. một? Nói gì mấy tay Công tử bột, dâm tâm thường gặp tốt thì mê, cơ khổ thì thôi, vụt chạy theo sau đánh đeo xe, lấy làm khoái dựa kề đít phấn !!!

Đi tới ngõ máy xe vừa chận, có người ra tiếp dẫn họ dương, nhà Anh Cô nghèo khó mà thương, trên nóc giọi bóng hường sáng hoắc. Phận đơn chiết có ai sắp đặt, hai mẹ con dọn sơ sài che mắt thế gian; chánh giữa nhà cũng vọng một bàn, trên lại có cái trang thờ Phật.

Đệm buồm kéo phía sau làm vách, tượng liễn xem đã rách te tua rồi, dựa bên giường là chỗ vong, trên có trải một đôi chiếu lát. Kế một bàn phía trác có cặp chưn đèn trắc nứt đàn dâng, dưới không treo quần-bàn, lư hương trống khói nhang bỏ vắng. Hai bên ván trải đôi chiếu trắng, gối rơm bày đâu đặng hai ba, quả mức thì thấy những chà là, ngó vào  kỷ chén trà thiếu bộ.

Chừng hai họ vừa ngồi yên chỗ, mắt nhìn nhau mà tỏ ý khi, ông mai liền sắm sẵn lễ nghi, xin nạp sính kịp thì kẻo trễ. Dỡ quả ra rồi kể, năm chục đồng dùng để thế heo, đồ nữ trang hiện một đôi neo, với cà rá đeo tay nhận ngọc. Thêm một nhánh trâm rung giắt tóc, với đôi bông nhận hột kim cang, bạc đồng đi đủ hai ngàn, lại với chuỗi vàng bốn lượng.

Kể đủ món rồi bưng vào trướng, cho Anh Cô sửa soạn điểm trang, xong việc rồi sắp đặt cỗ bàn, đãi hai họ đưa nàng xuất giá.

Về tới thấy chật đàng lấp ngả, người tữu coi đông đã nên đông, xe vừa ngừng rước họ vào trong, ngoài pháo nổ đùng đùng như sấm. Trà rượu khuyên mời chẩm hẫm, chuyện trò gởi bẩm êm hòa, bây giờ ra làm lễ ông bà, cùng là lạy mẹ, cha, cô, bác.

Anh Cô thiệt là tay quốc sắc, gái hồng nhan thấy mặt thất kinh, tiếng xầm xì khen tốt khen xinh, quốc sĩ thảy động kinh mắt chói. Tới đây mới nghe lời người nói: “Cậu Ái Nhơn giỏi thiệt phải chơi, chốn phiền ba có thiếu chi nơi, vô sàn dã tìm người cung nguyệt.”

Lễ lạy đà xong việc, Nhơn với Cô đi riết vô phòng, à-há nhập phòng! Vợ chồng mới lên đèn làm lễ, lạy ông tơ bà nguyệt xe săng, đừng khuấy chơi bắt mối vơ quàng, làm đến đỗi xích thằng điên đảo.

Vừa xong lạy Anh Cô ra áo, xuống phấn trù xem ráo việc nhà, từ đờn ông chí những đờn bà, tới con nít cũng là mê mặt. Ai cũng tưởng gái quê dốt đặc, có dè đâu nhan sắc phi thường, việc bếp nồi thông thạo mọi đường, chữ tứ đức chẳng nhường ai cả.

Khuya lại tiệc đãi đằng xong xả, họ đương dâu đều đã ra về, dọn trong ngoài ngăn nắp chỉnh tề, mới vào trướng lo bề hiệp cẩn, chồng vợ bởi xích thằng buộc vấn, câu tề mi cử án hằng ghi, trầu rượu đạm làm lễ tương tri, xin quân tử nghĩ vì chút phận.

Rằng: “Thân bồ liễu yếm mang quần vận, trao má hồng cho đấng anh hùng, nghĩa vợ chồng xin khá rộng dung, chặt lỏng thiếp nhờ cùng lượng cả.”

Anh Cô trỗi mấy lời tao nhã, Ái Nhơn nghe mừng quá đỗi mừng; “Ta vẫn biết phận Các Đằng dựa bóng tùng quân, há chẳng xót chút thân bồ liễu. Nàng mựa chớ ba lo bảy liệu, ở sao cho trọn diệu xướng tùy, ta thệ lòng vàng đá tri tri, trăm năm nguyện gắn ghi vào dạ.”

Lòng quân tử Anh Cô liền tạ, đó rồi …. rồi … giọt … mưa … mây … mới … đánh … đổ … đóa … trà mi (sic) …. Hạch ôi!

Bấy lâu nay ong bướm lấp đàng đi, bây giờ … bây giờ … úi-châu-ôi! … hèn chi! …

Má thằng Lát nói: Lấy chồng thiệt hiểm nguy quá đỗi!!!

Nghĩ cũng tại nơi mình muốn vội, lỡ rồi, … lỡ rồi, … thôi! … nước tới trôn phải lội biết sao? Phải hay … động phòng mà gan ruột lộn nhào, thà mà, mang chuỗi hột lần vào cửa Phật!!!

Kim châm dạ lẽ nào không biết nhức, nhẫn mà cắn răng cho trọn bực Hồng quần, cuộc trăm năm biết bấy nhiêu lần, mà chác giận mua hờn cho phải!

Trách con bướm đã qua rồi còn lại, làm cho nhụy đào thơ giọt chảy cánh bầm; trót năm canh chống mắt ôm cầm, cho thỏa dạ tri âm từ ấy!

Sáng ngày ra cả hai không muốn dậy, mười giờ còn nằm ngáy pho pho, lạ chi điều ngao nọ gặp cò, mà phải nói vòng do cho nhọc. trẻ nhà hận dạ trường muốn khóc, Ái Nhơn phiền trách móc canh thâu, cũng vì tớ mỏi mê trông sáng cho mau, chủ lại khác ước giờ khắc qua lâu cho phỉ. Chừng thức giấc Ái Nhơn toại chí, còn Anh Cô yếm lụy chỉnh khôn, lạ thay; hai chơn nay sao lại mỏi run, đau đớn bấy không cùng dời bước!

Trai mừng đặng Kiều Ô gặp Thước, gái nghĩ rầu vô phước lấy chồng; phải hay vầy trực tiết cô phòng, hơn là chịu đau lòng xót dạ!

Lệ nhập phòng ba ngày đã quá, Anh Cô về thăm má với chồng, nghĩa mới mà coi bộ mặn nồng, mặt hớn hở trong lòng oan hỉ. Trách “Má thằng Lát thiệt là con quỉ, đem điều phi tiếng mị phỉnh ta, lấy chồng vui sướng quá đi mà, dại, mang chuỗi hột áo già cực xác!!!”

Ngày tháng qua như tên thấm thoát, tình vợ chồng mặn lạt biết bao, bữa kia nằm đàm đạo cùng nhau, Nhơn mới hỏi trước sau cho cạn. “Từ buổi đầu đến ngày vầy bạn, tới lui thường chưa hãn sự gia, biết mẹ mà không thấy mặt cha, xin nàng hãy phân qua minh bạch. Vẫn biết, mẹ góa bởi vì cha sớm tách, tình thâm đành phân cách âm dương, chẳng hay buổi thời sơn còn ở tại đường, có dư chức thôn hương cùng chẳng?”

Cô nghe hỏi hàm thinh lẳng lặng, sắc buồn dường như quặng lòng đau, muốn hở môi miệng lại nghẹn ngào, ngần ngừ biết lẽ nào phân giải. Nhơn thấy vợ có hơi ngần ngại mới đem lời trái phải bày ra, rằng: “Đôi ta nghi thất nghi gia, gần còn nệ chi xa mà dấu. Hễ hai họ kết thành giai ngẫu, thì chớ quên xấu bậu xấu qua, chẳng phải tuồng trăng gió gọi là, không biết nể mà phòng sợ.”

Cô nghe thấy lời chàng đã mở, hết ngại ngùng bợ ngợ tiếng phân, đôi ba phen mở miệng lại ngừng. Nhơn hỏi riết mấy lần mới tỏ, rằng “Buổi thiếp lọt lòng chẳng rõ, chừng lớn khôn nào có thấy cha, mẹ cùng con hôm sớm vào ra, dưa muối chịu trải qua ngày tháng. Thiếp cũng ngỡ mẹ góa bụa vì cha quá vãng, lại thêm mắc lo nghèo sớm mãn tối qua, cho nên không hay ngồi đàm luận gần xa, cũng chẳng hỏi mẹ già sự tích. Một bữa nọ bóng hồng vừa trịch, mẹ con ngồi xúm xít trồng rau, thấy hai chim cặp trẻ nhành cao, động tình hỏi trước sau cạn kể.

Rằng: Loại chim chóc còn đủ cha đủ mẹ, phận tôi sao như thế vậy mà? Từ lọt lòng chẳng biết mặt cha, hay là trẻ nước sa vớt đặng?

Mẹ thiếp ngồi gục đầu lẳng lặng, hình như nhắc càng thêm cay đắng nên buồn, thảm thay! Trơ mắt nhìn đôi giọt vội tuôn, ngó mặt thiếp rồi buông tiếng khóc.

“Con ôi! mẹ nghĩ lại con có cha dường như cô độc, vợ có chồng khác thể Vọng phu, ôm đoạn sầu hè mãn qua thu, tin cá có biết đâu mà nhắn. Nhắc đến lúc dạ càng cay đắng, nghĩ nỗi niềm ruột quặn lòng đau, thuở mẹ chưa tuổi chất trên đầu, dung nhan mẹ ai hầu sánh kịp. Nhà chẳng giàu, mẹ hằng thủ thiếp, chất phỉ phong trinh tiết một màu, ngày kia, lỡ bước đường vắng vẻ biết bao, một mình mẹ trước sau không kẻ.

Dè đâu, ngày rủi lấp năm may xui tệ, khiến gặp tay vô lễ ô dâm, hoa thơm kia ong bướm vọc dầm, đành cho phận các lầm ngọc trắng.

Tưởng qua rồi hết hồi cay đắng, nào hay đâu dây vắn tình dài, gây mối sầu cho mẹ thọ thai, ôm bụng chữa tháng ngày bận bịu, điều sĩ tiết mong mang đành chịu, chịu cho mình mất hiếu mất trinh, cực nỗi sợ mẹ cha mang nhục với thế tình, cùng là bị ra giữa tụng đình tra khảo.

Bởi vậy mẹ mới tìm vào Chợ gạo, cát lều tranh nương náu tháng ngày, bỗng tới ngày nhụy nở hoa khai, một mình mẹ không ai chiếu cố”, nói tới đó lụy hồng vội đổ, mẹ khóc rằng cam khổ biết bao, chuyển bụng ngồi nhăm mặt chịu đau, nào ai đến giùm sau đỡ trước, thảm đến đỗi, mụ gần đó mà không người cậy rước, giường cũng không, y dược cũng không, thiếu làm sao cho đến nồi xông, tiền trong túi một đồng chẳng có.

Chừng sổ lòng con la khóc ó, mẹ ngồi nhìn lụy nhỏ chứa chan, trời ghen chi cái phận hồng nhan, đày đọa chịu cơ hàn như thế! Tiêu hột thiếu, thiếu luôn tới nghệ, ra như tuồng gà đẻ khác nào, vậy cũng chưa đàng gọi là đau, như vầy thiệt gan nào chẳng động.

Lâm bồn rồi trong lòng đã trống, ngày không ăn đói bụng biết bao, nghĩ nỗi niềm càng kể càng đau, coi lại gạo trong bầu đã sạch. Run lập cập tay thì lần vách, xuống quơ nồi quơ trách nấu ăn, ăn làm sao cho đặng củ nần, nhưng mà gặp lúc đói khó phân ngon dở.

Lần tới xóm xin cơm ăn đỡ, xóm động tình không nỡ bỏ qua, mẹ rằng: “Phận mẹ dầu hồn xuống diêm la, thương cho trẻ không cha mất mẹ”. Ngày tháng qua như tên rất lẹ, hành khất mà nuôi trẻ biết đi, mẹ lần dò tỉa bắp trồng mì, tay bồng trẻ tay thì xách nước.

Tuy chẳng đủ cũng cho rằng được, mẹ cùng con sau trước cút cuôi, thôi đã đành thân mẹ lôi thôi, cam phận bạc như vôi mà chớ.”

Nhơn nghe thuật mấy hồi sực nhớ, nên muốn tìm ra cớ mới là, nghĩ cho vợ mình quả thiệt không cha, lẽ khi gái ông già gởi của.

Nhơn nghĩ vậy mới hỏi phăng tới nữa: “Vậy chớ mẹ có nói tên người mà mẹ chung vui chửa bậu chăng? Có lời hậu chi trong lúc gió trăng, có trao của gọi rằng tín vật? Người ấy có tỏ phân gốc gác, bây giờ đây có nghe người thất lạc hà phang? Bậu với qua kết nghĩa tào khang, còn chi nữa nghi nan mà dấu. Dầu khó nhọc qua cũng gắng công cùng bậu, tầm kiếm về phụ mẫu đoàn viên.”

Cô nghe qua chiếp miệng tiếp liền: “Mẹ chẳng rõ sự duyên chi cả. Bướm rời hoa rồi phân hai ngả, nút nhụy hồng ong rã đàng đi, không một lời giả nghĩa tương tri, cũng không để vật chi làm dấu. mẹ nào tưởng là câu giai ngẫu, nằm cắn răng dau thấu về đâu, trông cho hết hồi dồi vập chiếc thuyền câu, trông cho mãn lúc hoa sầu nắng hạ. Ấy là mẹ gặp lúc cùng chẳng đã, có cần chi hỏi sạ gia người, dè đâu, chịu mễn mang nên rất hổ ngươi, thân như gà đẻ rồi bươi nuôi trẻ.

Từ ấy nhẫn nay, trống xếp cánh nào lo cơn sanh đẻ, xét lại càng sự thế buồn tanh, cha thiếp là một đấng bộ hành, nào có rõ hà danh hà tánh. Cũng chẳng biết hà quê xa lánh, cũng không hay ấm lạnh dường nao, đặnh như vầy thiếp cảm biết bao, đâu dám chịu công lao phu tướng.

Dầu chàng có hết lòng đoái tưởng, cũng khó toan tìm lượng nhạc gia, đốt ngọn nguồn kiếm ngách sao ra, thôi, thà mà để cho thiếp cam phận rủi mất cha còn mẹ.”

Nghe vợ bày trước sau cạn kể, Nhơn thầm cho như thế khó toan, nhưng mà muốn tận tường hư thiệt bành tàng, chàng mới hỏi thăm nàng cho thấu: “Không tin để cũng không lời di hậu, vậy mà mẹ tháy mặt người có dấu chi chăng? Thấy người còn để tóc bịt khăn, hay là tập theo thói Lang sa đội nón? Gò má người thỏn thỏn, hay là gương mặt tròn tròn, phận đôi ta là điệu rể con, âm thầm để nước non âu hãng.”

“Thưa phu tướng, hoa ngộ bướm quá hồi chạng vạng, khó cho tường hình dạng mặt mày, lại thêm mẹ căm hờn gặp cuộc chẳng may, dường như thể trêu cay ngậm đắng.”

Nhơn nghĩ: “Như vậy thiệt khó mà tìm ra cho đặng, biết làm sao phân trắng với đen, bỏ qua không đành phận nhỏ nhen, bằng muốn hỏi biết đâu quen mà hỏi.”

“Ta chẳng nệ tất công tìm tỏi, nàng khá tua phân nói rõ ràng, hồi tuổi xuân mẹ có nữ trang, đeo trong lúc bên đàng lỡ bước? Khi nàng lớn, mẹ có cho món chi làm dấu trước, hay là mẹ còn đeo mà nàng thấy được rõ không?”

Cô đáp rằng: “Của đáng mấy đồng, mà chàng phải nhọc lòng muốn biết.”

“Không, câu phú quới tợ môn tiền tuyết, dễ đâu ta dốt việc nhà sao, nàng mựa nghi ta muốn bi61m bao, trong gia đạo nghèo giàu đã chán. Ta muốn hỏi tâm tình cho cạn, kẻo lỗi lầm nguyệt rạng khôn soi, bởi e nàng chịu phận thiệt thòi, nào có phải móc moi tầm vít.”

Cô rằng: ‘Của mẹ cho thiếp đeo khít rịt, để lưu truyền dấu tích ngoại tông, cho hay không giá đáng mấy đồng, song của báu thiếp không rời phút.”

Nhơn mừng lòng xin coi thử chút, cho biết trong hay đục một bề, chừng xem ra hai chữ G.C., vùng nói lớn “Hiền thê quả quyết.”

Chuyện thình lình Anh Cô nào biết, tưởng đâu chàng nghị việc ngoại tình, cho nên nàng sợ đã thất thanh, trơ đôi mắt hàm thinh mà ngó. Chàng vui tợ hạng phùng cam võ, nàng ngại ngùng như chim nọ nghi cung.

Ái Nhơn mầng ôm vợ mà hun, rồi bày tỏ khúc trung cho hãn. Nghe nói vậy lòng chưa quyết đoán, ngồi ngẩn ngơ bán tín bán nghi, tỉ như mộng Huỳnh lương thấp thoáng chốn phòng vi, nghĩ như giấc chiêm bao mộng mị. Của vô cớ có chi rằng quí, không phước thì cũng bị họa lây; ai ở đâu lại gởi của nầy, mà chàng nói lạ tai quá vậy?

“Nàng chớ khá đem lòng tin quấy, có đủ bằng mựa lấy làm chơi, như vầy đây thiệt của tìm người, hết trông đợi chim trời cá nước. Như nàng chẳng tin lời ta được, nàng phải mau về rước mẹ qua, giáp mặt rồi nguồn ngọn kể ra, nàng mới biết lời ta thiệt giả.”

Nhơn dứt lời Anh Cô vội vã, dạy thắng xe nhà má bôn ba, rước mẹ già đàm luận tin cha, kẻo từ ấy tha nha thiết xỉ. Mẹ thấy con tấm lòng hoan hỉ, Cô mới bày tự thỉ chí chung, mẹ già nghe mừng rỡ không cùng, vầy đoàn trẻ gia trung xá kíp.

Về tới cửa Nhơn ra nghinh tiếp, rước vào trong trà nước mời khuyên, nghỉ đôi hồi mụ tiếp hỏi liền. Nhơn mới dẫn căn nguyên cạn kể. “Ngày nọ có thơ mời ngu tế, tới gia trang định kế liệu toan, khai phong xem lạ hoắc hai đàng, thêm chưa rõ cơ quan mánh lý.

Người nguyện vậy lẽ nào phụ ý, con gượng lòng cật ký trải sang, đến chừng vào tới của gia trang, thấy một bị trên sàng đầu bạc. Gặp mặt trẻ ngài sa nước mắt, than rằng lâm bịnh ngặt đã lâu, mời trẻ ngồi rồi kể đuôi đầu, rằng nghe tiếng bấy lâu mới thấy.”

“Ừ, con nhắm tuổi tác người …

Related Images: