Huỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901 – Thơ gởi làng Phước Tụy

Huỳnh Tịnh Của - Câu hát góp 1901 - Thơ gởi làng Phước TụyHuỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901

Vài lời từ người đánh máy

Sách Câu hát góp – hay Câu hát Annam – được phát hành năm 1901. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt sơ với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1901, định dạng pdf theo link.


Thơ gởi cho làng Phước Tụy (Bà Rịa)

Thiên quan minh mi, điểu ngữ hoa hương; hóa nhựt thơ trường, dàn khang vật phụ.

Ngựa hồ nghe gió bắc nghiêng tai; chim Việt hướng nhành nam làm ổ.

Làm người ai chẳng có lòng thương cội mến nhành; xử thế ai không dạ tư hương hoài thổ.

Nhớ lớp cũ xưa lặn lội trong đất Đồng Nai; khai hoang vu, ghe đoạn gian nan.

Thương đời tiền bối tiềm tàng vào miền Bà Rịa; phá rừng bụi, trăm bề lao khổ.

Qui dân lập ấp, lần hồi sáng tạo qui mô; vỡ ruộng đắp bờ, thỉnh thoảng gầy nên thổ võ.

Kẻ sau người trước kể có mấy đời; măng mọc tre tàn, phòng dư muôn hộ.

Hễ là: ăn trái nhớ kẻ trồng cây; qua cầu nỡ quên ơn tế độ.

Nền nếp trước đã lập thành; phận sự sau đâu dám phụ.

Ông cha ta di quyết tôn mưu; con cháu tớ khắc thằng tổ võ.

Nay ta đặng về xứ sở; trước viếng bà con sau thăm phần mộ.

Thấy anh em sáu bảy tuần dư, đồng hưởng thiên niên; hồi lớp trước tám chín mươi ngoài, đã về cõi thọ.

Nơi quán khách, kẻ qua người lại; sánh đường bóng xế nhành dâu.

Nẻo âm dương kẻ mất người còn; chi khác ngựa qua cửa sổ.

Mảng bồn hương tiếp rước bỉ bàng; cảm chức việc vầy vui hớn hở.

Nghĩa xưa sau càng đượm càng nồng; tình sâu cạn nửa thương nửa nhớ.

Nghĩ lúc quan binh thất thủ, những mảng nghi nhau một câu quí tổng binh lương; thiết nhà-hỏa mà nỡ hại dân đen.

Tưởng cơn hiệu lệnh bất minh, cũng vì câu nệ mấy chữ ám thông tiêu tức; nghiêm phủ việt mà giết đành con đỏ.

Khốn khổ thay! Giặc trước mặt, không chước đuổi xua; thương hại ê! Con trong nhà, lại đem lòng ghét bỏ.

Vẫn dân bà Rịa ở chốn quê mùa, chưa hề thấy mặt người Tây;

Nào phải ở đầu mối giặc, theo đầu quân giặc mà chết cho đáng số.

Hồn vô cô kêu thấu tới trời; máu vô tội tràn ra khắp chỗ.

Vua quan ghét đạo, bày cực hình mà trảm thảo trừ căn; Trời đất háo sanh, làm phép nhiệm, đạo càng thêm tỏ.

Kể chi xiết những sự hàm oan; nói cho hết việc càng thêm tủi hổ.

Cơn bát loạn cũng có kẻ mủi lòng, thiết thiết cừu con có đạo, liều thân gia nào sợ phép quan;

Lúc tao loàn cũng có người trở mặt, hằm hằm cướp của Da-tô, đoạt sự nghiệp chẳng chừa tấc cổ.

Đạo trời phước thiện họa dâm, làm lành miễn được thỉ chung, tích ác sao cho bền đỗ.

Trâu chốc cật, thấy ác bay qua liền né; chim phải đàn, nhìn khúc mộc cũng còn kinh sợ.

Nhưng vậy, đâu đâu cũng là đất Thuấn, Nghiêu; đâu đâu cũng là dân Thang, Võ.

Nhơn ngày hỉ – hạ, cả làng sum hiệp, chẳng nhắc chi những sự đã qua.

Mượn lúc thừa bình, bốn biển vầy vui, lại màng chi việc cũ.

Dụng nhơn chẳng luận giáo lương; làm việc chớ làm bỉ thử.

Vậy mới rằng mộc bổn thủy nguyên; vậy mới gọi nhơn sanh hồ tổ.

Việc xóm làng cho trên thuận dưới hòa; bề cháu con phải ân cần dạy dỗ.

Lập trường học cho biết lễ nghi; độc thi thơ ngõ thông kim cổ.

Thứ cơ phong thuần tục mĩ, nhi vi lễ nghĩa chi bang; thà bất phụ ngả sơ tâm đinh ninh chiêu cố.


Phụ quấc âm thi nhứt thủ

Cánh bèo lưu lạc thuở còn xuân;

Về đến quê hương rất đỗi mầng,

Hiệp mặt ba con lòng phới phở.

Viếng nơi phần mộ dạ bâng khuâng,

Nhà mình xấu tốt mình yêu chuộng;

Quán cũ xa gần dám dể dâng.

Thâm tạ hương thôn trong lớn nhỏ;

Chung cùng tiếp đãi lễ ân cần.

P.C.D.P.S.

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901 – Câu 951 – 1011: Chung

Vài lời từ người đánh máy

Sách Câu hát góp – hay Câu hát Annam – được phát hành năm 1901. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt sơ với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1901, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Câu hát góp 1901 - Câu 951 - 1011: ChungCâu hát Annam: Câu 951 – 1011

Trải xem ca vịnh xưa sau, tự nhiên cảm phát biết bao nhiêu tình. Lạ chi nữ tú nam thanh, nhiêu lời ong bướm dỗ dành trăng hoa. Trọng vì đạo chúa nghĩa cha, những điều than vãn cũng là tự nhiên. Chữ rằng phong nguyệt vô biên, vợ chồng tơ tóc nhơn duyên thâm trầm. Quấc phong xưa có mười lăm, lục diêu mới góp trăm câu ngoài. Kinh thanh Ví trược rẽ hai, nối điều vẻ vắn, mựa nài khen chê.


951 – Nhứt thương, nhị nhớ, tam sầu,

Giả như ông Lưu Bị qua cầu Khổng Miêng.

952 – Hột châu rớt xuống dĩa nghiêng,

Vui cười chúng bạn, sầu riêng một mình.

953 – Em sầu còn chỗ thở than,

Anh sầu khác thể nhang tàn đêm khuya.

954 – Trách ai ăn giấy bỏ bìa,

Làm cho bạn ngọc cách lìa đôi phang.

955 – Thấy nàng anh cũng muốn thương,

Sợ e nhứt mã lưỡng cương khó cầm.

956 – Bước vô vén sáo hỏi thầm,

Cớ sao em rơi lụy ướt dầm gối loan.

957 – Nương theo chéo áo bạn vàng,

Dầu sanh dầu tử mình nàng mà thôi.

958 – Qua than với bậu hết lời,

Đừng tham núi ngọc đổi dời non tiên.

959 – Đêm khuya trăng đã nằm nghiêng,

Vẳng nghe chó sủa, trống liền điểm tư.

960 – Công Dã Trường thường ngày xe cát,

Sóng ba đào ai xét công cho.

961 – Tiếng anh nho sĩ h5c trò,

Thấy sông thì lội không dò cạn sâu.

962 – Nực ười con bướm có râu,

Thấy hoa hăm hở chầu đầu bắt hoa.

963 – Đói lòng ăn trái khổ qua,

Nuốt vô thì đắng nhả ra bạn cười.

964 – Ví dầu tình bậu muốn thôi,

Bậu phân cho phải đôi lời bậu ra.

965 – Một tiếng em than hai hàng lụy nhỏ,

Em có mẹ già biết bỏ cho ai.

966 – Kể từ bạn với trước mai,

Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông.

967 – Em nói với anh anh như rựa chặt xuống đất, như Phật chất vào lòng,

 Hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly,

Bây giờ em đặng chữ vu qui,

Em đặng nơi quyền quí, em nghĩ gì tới anh.

968 – Vài ông tơ đôi ba chầu hát,

Khẩn bà nguyệt năm bảy đêm kinh,

Xui cho đôi đứa tôi thuận một tấm tình,

Dầu ăn hột muối, nằm đình cũng ưng.

969 – Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc,

Địa sanh thảo hà thảo vô căn,

Không hơn cũng kiếm cho bằng,

Có đâu thua sút bạn hòng cười chê.

970 – Nước trong xanh chảy quanh hang dế,

Tiếng anh học trò, mưu kế anh đâu.

971 – Đố ai nhảy xuống ao sâu,

Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa.

972 – Thay thương thay! Sức mạnh chở lừa,

Ngựa xe trâu ruộng đà thừa công phu.

973 – Phụ mẫu tồn bất khả viễn du,

Tọa mật thất như thông cù,

Cách mặt em một tháng bằng ba thu,

Lòng anh mong vịnh chữ: hà chu hảo cừu.

974 – Đã đành cắt tóc đi tu,

Một ngày cửa Phật mười thu cõi trần.

975 – Thân em buôn bán tảo tần,

Lòng anh sao nỡ từ trần xuất gia.

976 – Tại mẹ cha dứt tình tơ nguyệt,

Khuyên em đừng chực tiết uổng công.

977 – Nơi thương cha mẹ biểu vong,

Nơi chẳng bằng lòng cha mẹ biểu ưng.

978 – Bần cư náo thị vô nhân đáo,

Phú tại lâm sơn hữu viễn thân,

Bấy lâu nay em không biểu, anh cũng lại gần,

Bây giờ em sa cơ thất vận, em biểu mấy lần anh cũng không vô.

979 – Muốn chồng đây để chồng cho,

Đây là thục nữ chẳng lo chi chồng.

980 – Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng,

Dầu ai có thêu phụng vẽ rồng mặc ai.

981 – Giả tình say dò lòng thục nữ,

Giả khách qua đàng thử dạ quí nương.

982 – Không chồng đi dọc đi ngang,

Có chồng thì cứ một đàng mà đi.

983 – Mình xanh tay đỏ nút chì,

Cơm lương với muối sống thì là may.

984 – Cùng nhau vã tiếng một ngày,

Ngãi nhân thẳm thẳm cũng tày ba thu.

985 – Tích xưa dầu để sờ sờ,

Giữ trâu đọc sách, cầm cờ chăn dê.

986 – Bấy lâu cách lựu xa lê,

Biết làm sao đặng trọn bề ái ân.

987 – Tới đây khác xã lạ làng,

Thói quê anh cũng lạ, xin nàng khá thương.

988 – Cơm Phiếu Mẫu gối Trần Đoàn,

Ngửa nghiêng song phụng, nhẹ nhàng nương luông.

989 – Chỉ kim tương cha mẹ không thương,

Dứt đạo cang thường,

Anh cam bụng chịu,

Thôi nuông áo anh ra về, em bận bịu làm chi.

990 – Dạo chơi bàn thạch thanh nhàn,

Họa may có gặp con bạn vàng thuở xưa.

991 – Bến đò xưa con bóng đương trưa,

Buông lời hỏi bạn kén lừa nữa thôi.

992 – Thang co nhiều nức khó trèo,

Đem nhau tới chốn hiểm nghèo bỏ nhau.

993 – Đèn ai leo lét trên lầu,

Hay là đèn bà Quấc Mụ tụng kinh cầu cho Mã Đăng Luông.

994 – Yếm em bốn dải lòng thòng,

Dải xanh dải đỏ, dải trắng dải vàng,

Cái sỏ của chàng một trăm ba mươi sáu đoạn,

Một đoạn bên nầy một đoạn bên kia,

Ví dầu trời đất phân chia,

Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi.

995 – Áo vải quao lựa sào mà vắt,

Tuy xấu mặt lòng lựa mặt gởi thân.

996 – Tấm giấy vàng đề hàng chữ thọ,

Rước em về hai họ chứng minh.

997 – Mục bất kiến nhĩ anh cũng tàng văn,

Thấy em có nghĩa mấy trăng anh cũng chờ.

998 – Dốc một lòng lấy chồng hay chữ,

Để ra vào kinh sử mà nghe.

999 – Muốn cho ông cống ông nghè,

Thiếu chi nhiêu học kết bè mà chơi.

1000 – Từ khi rẽ một phan trời,

Dạ hằng khắn khắn nhớ lời minh sơn.

1001 – Trăm năm nhơn nghĩa vẹn toàn,

Tử sinh tạc dạ đá vàng nào phai.

1002 – Bao giờ sum hiệp trước mai,

Lòng nguyền kết tóc lâu dài trăm năm.

1003 – Đạo hằng tình ngỡi chí tâm,

Làm sao cho đặng ngọc cầm liền tay.

1004 – Bao giờ thuyền trở lái day,

Cờ về tay phất đẹp mày nở gan.

1005 – Một mình đã luận lại bàn,

Chạnh lòng thương nhớ bạn vàng cố tri.

1006 – Bao đành tử biệt sanh ly,

Ven trời góc biển thị phi không tường.

1007 – Ai làm cách trở sâm sương,

Ai làm rời rã oan ương dường nầy.

1008 – Buồn trông ngọn gió vòi mây,

Tương tư ai giải cho khuây buổi nào.

1009 – Đua chen thu cúc xuân đào,

Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông.

1010 – Chữ rằng: Vắn tổ tầm tông,

Cháu con nỡ bỏ cha ông chẳng màng.

1011 – Đánh cờ nước bí khôn toan,

Dầu anh khéo lượng trăm bàn cũng thua.

——————– Chung ———————-

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901 – Câu 901 – 950

Vài lời từ người đánh máy

Sách Câu hát góp – hay Câu hát Annam – được phát hành năm 1901. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt sơ với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1901, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Câu hát góp 1901 - Câu 901 - 950Câu hát Annam: Câu 901 – 950

Trải xem ca vịnh xưa sau, tự nhiên cảm phát biết bao nhiêu tình. Lạ chi nữ tú nam thanh, nhiêu lời ong bướm dỗ dành trăng hoa. Trọng vì đạo chúa nghĩa cha, những điều than vãn cũng là tự nhiên. Chữ rằng phong nguyệt vô biên, vợ chồng tơ tóc nhơn duyên thâm trầm. Quấc phong xưa có mười lăm, lục diêu mới góp trăm câu ngoài. Kinh thanh Ví trược rẽ hai, nối điều vẻ vắn, mựa nài khen chê.


901 – Nhơn tham tài tắc tử,

Điểu tham thực tắc vong,

Ai hay bậu ở hai lòng,

Dụ anh tới chốn loan phòng hại anh.

902 – Thà tôi chịu chết trên nhành,

Chẳng thà bỏ bạn sao đành bạn ôi!

903 – Công bất thành, danh bất toại, nàng ôi!

Dứt dây bà nguyệt, ỷ thôi rồi tình thương.

904 – Chim loan chim én chim phụng chim nhàn,

Ba bốn con bay thẳng một đàng,

Bỏ con tước rũ, đậu cây liễu ủ, cây tùng tàn,

Mai sau anh có thác xuống xuối vàng,

Hồn khôn anh dật dựa, bên nàng anh chơi.

905 – Đêm khuya hoài vọng đợi chờ,

Bạn loan dứt nghĩa bao giờ không hay.

906 – Trời cao đất thấp,

Anh dện tam cấp,

Anh lập cửu trùng đài,

Vận hư trời khiến,

Anh lập hoài cũng hư.

907 – Nhứt nhựt bất kiến như tam ngoạt hề,

Bấy lâu những tưởng bạn về với anh.

908 – Nhứt nhựt bất kiến như tam ngoạt hề,

Thăm em một chút anh phải trở về,

Sợ e trăng lặn tư bề người dưng.

909 – Gan teo ruột thắt chín từng, em ôi!

Em náu nương phụ mẫu cầm chừng đợi anh.

910 – Tới đây cụm liễu giao nhành,

Hỏi em kết ngỡi có thành hay không.

911 – Ký mã phùng Bá Lạc,

Đại Bàng điểu ngộ lang phong,

Anh muốn chơi cho biết chốn đục trong,

Dầu mà anh có lâm nơi tử địa, tấm lòng anh cũng ưng.

912 – Cha mẹ biểu ưng em đừng mới phải, em ôi!

Em nỡ lòng nào, bạc ngãi với anh.

913 – Trống điểm canh thâu trên lầu nhặt thúc,

Rượu một bầu hồng cúc giải khuây.

914 – Chim lạc bầy tìm cây nó ẩn,

Tớ lạc thầy, thơ thẩn vào ra.

915 – Linh đinh vịt lội giang hà,

Nói cho tốt lớp bạc đà trong tay.

916 – Một mai bóng xế trăng lài,

Không ai gìn giữ trong ngoài cho em.

917 – Đèn đâu cao bằng đèn Châu Đốc,

Đất nào dốc bằng đất Nam Vang,

Một tiếng anh than đôi hàng lụy nhỏ,

Em có chút mẹ già, biết bỏ cho ai.

918 – Nghinh hôn giá thú bất khả luận tài,

Trăm năm chẳng hiệp dươn hài,

Anh nằm lăn xuống bệ, anh lạy dài ông tơ.

919 – Ba bốn năm tấm tượng rách, tôi cũng còn thờ,

Lòng em thương ai biết, dạ em chờ ai hay.

920 – Cực khổ anh anh cũng là trai,

Ngặt em là gái, hành hài tấm thân.

921 – Ngộ kỳ thời dục báo quân ân,

Thấy nàng muốn kết châu trần nàng ôi!

922 – Bấy lâu bậu cần mẫn cái vườn đào,

Tình xưa ngỡi cựu, bậu có nhớ chút nào hay không.

923 – Bậu với qua tình mặn ngãi nồng,

Siêu nước sôi chớ quạt, kẻo gió lồng anh phải che.

924 – Sóng dợn bè tre con hứ sè đuôi phụng,

Em có xa anh rồi, cũng để bụng thương anh.

925 – Đồng hồ vội trở sang canh,

Sá chi một chút duyên lành,

Anh than hết tiếng, con bạn đành chẳng trao.

926 – Nguyện cùng dưới thấp trên cao,

Đón con bạn cũ mà trao trâm vàng.

927 – Tay cầm nhành bứa lụy ứa hai hàng,

Xuân xanh anh chẳng gặp, huê tàn gặp em.

928 – Trăm năm cốt rụi xương tàn,

Anh có đầu thai khiếp khác, dạ anh cũng còn nhớ em.

929 – Em chăng lo cốt rụi xương tàn,

Tiền nhựt em xảnh xẹ, hậu đoàn rã thây.

930 – Vai mang kiều khấu tay giấu sợi dây dài,

Nặng nề anh không em tiếc, anh tiếc tài con ngựa hay.

931 – Một nhành tre năm ba nhành trảy, sáu bảy nhành gai,

Thương em anh chẳng dám đoái hoài,

Chờ cho bát nước lên đài sẽ hay.

932 – Còn chi nay thiếp mai chàng,

Ghe anh lui khỏi bến, bậu lăng loàn biết đâu.

933 – Gối luôn chẳng đặng giao đầu,

Trai thương bát ngát gái sầu bơ ngơ.

934 – Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ,

Câu thì câu vậy cá chờ có nơi.

935 – Vợ lớn đánh vợ nhỏ, chạy ra cửa ngõ, ngóng cổ kêu trời,

Ớ anh ôi! Nhứt phu lưỡng phụ, ở đời đặng đâu.

936 – Anh hùng trường trải chín châu,

Tới đây lâm lụy phải đầu nhà ngươi.

937 – Huê tàn nhụy rữa còn tươi,

Để trong quả bắc, chờ người phương xa.

938 – Sớm đào tối mận lân la,

Trước là trăng gió sau ra đá vàng.

939 – Tay ôm cái mền gấm, tay nắm cái gối vàng,

Bước vô phòng loan, riêng than với bậu,

Đành chẳng đành đừng lậu tiếng ra.

940 – Đừng tin cái bụng đờn bà,

Chỉ treo gươm tuệ, nó sáng lòa tợ châu.

941 – Tay bưng dĩa muối tay bợ tràng rau,

Thỉ chung như nhứt, sang giàu mặc ai.

942 – Áo vắt vai đi đâu hăm hở,

Em đã có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu.

943 – Áo vắt vai anh đi dạo ruộng,

Anh có vợ rồi chẳng chuộng bậu đâu.

944 – Ai làm con cá bống đi tu,

Con cá thu nó khóc,

Con cá lóc nó rầu,

Phải chi ngoài biển có cầu,

Em ra em vớt cái đoạn sầu cho anh.

945 – Chỉ xanh chỉ trắng có lộn một sợi chỉ vàng,

Dầu em có thêu phụng vẽ hoàng,

Thân anh như chiếc đò dọc, đưa nàng sớm khuya.

946 – Con chim quyên nó lót ổ dưới đìa,

Dầu ai có vặn khóa bẻ chìa,

Đôi đứa ta mới ngộ, đừng lìa mới hay.

947 – Bao giờ loan phụng hiệp vầy,

Thì anh mới đặng giải khuây cơn sầu.

948 – Người rầu thì kiểng cũng rầu,

Người rầu kiểng có vui đâu bao giờ.

949 – Muốn chồng thiếp để chồng cho,

Thiếp là quân tử thiếp lo chi chồng.

950 – Một cây tùng, năm bảy con thỏ bạch nó leo chung,

Biết làm sao đặng chung cùng với nhau.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901 – Câu 851 – 900

Vài lời từ người đánh máy

Sách Câu hát góp – hay Câu hát Annam – được phát hành năm 1901. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt sơ với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1901, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Câu hát góp 1901 - Câu 851 - 900Câu hát Annam: Câu 851 – 900

Trải xem ca vịnh xưa sau, tự nhiên cảm phát biết bao nhiêu tình. Lạ chi nữ tú nam thanh, nhiêu lời ong bướm dỗ dành trăng hoa. Trọng vì đạo chúa nghĩa cha, những điều than vãn cũng là tự nhiên. Chữ rằng phong nguyệt vô biên, vợ chồng tơ tóc nhơn duyên thâm trầm. Quấc phong xưa có mười lăm, lục diêu mới góp trăm câu ngoài. Kinh thanh Ví trược rẽ hai, nối điều vẻ vắn, mựa nài khen chê.


851 – Đàng xa kêu tích tịch tình tang,

Ai đem công chúc lên hang mà về.

852 – Mưa sa lác đác chảy xuống cát đằm đằm,

Thấy em lao khổ anh mủi lòng nhớ thương.

853 – Đàng đi cách mấy dặm trường,

Hỏi em đã kết cang thường đâu chưa.

854 – Cây da cũ bến đò xưa,

Bây giờ con bóng đương trưa,

Buông lời hỏi bạn kén lừa nữa thôi.

855 – Đêm khuya ra đứng giữa trời,

Giơ tay anh ngoắt nguyệt, nguyệt dời phương nao.

856 – Biển đông sóng dợn ba đào,

Ngãi nhơn khác thể sóng nhào biển đông.

857 – Bậu coi con sư tử ngồi giữ cái lư đồng,

Dầu bậu chính chuyên cho lắm, không chồng cũng hư.

858 – Đêm khuya ngồi dựa thảo lư,

Gởi thân phận thiếp nên hư tại chàng.

859 – Bấy lâu cách mặt con bạn vàng,

Bây giờ gặp mặt ngỡ ngàng khó phân.

860 – Ngọc sa xuống biển ngọc trầm,

Anh thất ngôn một tiếng không cầm đặng em.

861 – Dập dìu lá gió ngành chim,

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh.

862 – Con chim quyên lựa nhánh lựa nhành,

Gái khôn lựa chốn trai lành em gởi thân.

863 – Nói ra tủi hổ muôn phần,

Bốn mùa đông lạnh chẳng gần hơi em.

864 – Bậu đừng ỷ sắc khoe mình,

Thương hồ nhiều kẻ hữu tình anh chẳng mê.

865 – Gió đưa bụi chuối sau hè,

Anh ham vợ bé bỏ bè con thơ.

866 – Cái miễu linh thiêng có bốn cây cột kiềng kiềng, rui tre mè trắc,

Đôi đứa ta trúc trắc, cắt tóc thề nguyền,

Lời thề nước biếc non xanh, nhện giăng sóng dợn, sao đành nỏ nhau.

867 – Thấy em hân hẩn má đào, thanh tân mày liễu,

Dạo nào anh chẳng thương.

868 – Chim khôn chẳng phụ cây tàn,

Gái khôn chớ thấy cơ hàn mà vong.

869 – Một vũng nước trong, một dòng nước đục,

Một trăm người tục, một chục người thanh,

Biết đâu tâm phúc gởi mình, mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên quân.

870 – Nước không chưn sao gọi rằng nước đứng,

Chén của người sao gọi chén chung.

871 – Cây khô tưới nước cũng khô,

Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo.

872 – Cỏ mọc thềm giếng cheo leo,

Lâm chung có bậu hiểm nghèo có qua.

873 – Dầu thì cõng chúa, vai mang cốt mẹ, tay dắt cha già,

Gặp mặt em nước mắt nhỏ sa,

Anh lấy vạt áo dà anh chặm,

Điệu cang thường ngàn dặm chẳng quên.

874 – Tàu lui khỏi vịnh em thọ bịnh đau liền,

Chẳng tin anh hỏi hết xóm giềng mà coi.

875 – Giơ tay anh hứng sương trời,

Rửa làm sao sạch những lời thị phi.

876 – Mạc đạo xà vô giác, thành long giả vi tri,

Bậu chê anh quân tử lỡ thì,

Anh tỉ như con cá ở cạn, chờ khi hóa rồng.

877 – Từ rày em bậu chớ trông,

Thuyền anh ra cửa như rồng lên mây.

878 – Hỏi thăm chuyện vãn ai bày,

Ngãi nhơn thẳm thẳm một ngày một xa.

879 – Sơn cách thủy cách, tấm lòng em không cách,

Đường xa dặm xa, nhân ngãi em không xa.

Đi đâu anh cũng ghé nhà,

Trước thăm phụ mẫu sau là viếng em.

880 – Chim địa bàng bay ngang Chợ Đệm,

Thức ông Lưu Bị, bàn luận chiêm bao,

881 – Thâm em như thể trái đào,

Anh ôi anh muốn chưng quả tử bàn nào anh chưng.

882 – Xấu dao cắt chẳng mỏng gừng,

Xấu người mai ước cầm chừng đôi ta.

883 – Chim bay về núi Điện Bà,

Phân chồng rẽ vợ ai mà chẳng thương.

884 – Chừng nào thủy nọ xa gương,

Đừng chào anh nữa, tình thương cạn rồi.

885 – Ngó lên Nước Xoáy ngùi ngùi,

Nhớ ông Cao Tổ vua tôi một lòng.

886 – Đâu đâu cũng có anh hùng,

Xin em giữ vẹn chữ tùng thì thôi.

887 – Lão mầng cây héo nảy chồi,

Vợ mang chín tháng đủ thôi mười ngày.

888 – Chim quyên láo liếng đường cày,

Tình thâm ngãi trượng mấy ngày lại xa.

889 – Nước mắt nhỏ sa, anh lấy áo dà anh chặm,

Điệu cang thường ngàn dặm anh phải theo.

890 – Đường trường nước chảy như reo,

Thương em chẳng nệ mái chèo ngược xuôi.

891 – Ngọn cờ phất ngọn lau cũng phất,

Nồi đồng sôi nồi đất cũng sôi,

Bậu với qua duyên nợ rã rời,

Tới lui chi nữa đứng ngồi uổng công.

892 – Bậu ở bên đông, bậu lấy chồng bên bắc,

Ớ em ôi! Em không nhớ thuở anh cầm ngọn dao sắc,

Anh cắt năm bảy cái lát gừng,

Anh bỏ vào thang thuốc bắc,

Anh sắc chén rưỡi còn bảy phân,

Tay anh đỡ lưng, miệng anh vái tổ,

Nguyện cho em uống vào, bịnh đủ mười phân.

893 – Bước lên lưng ngựa đằm đằm,

Anh thấy em khác ý hôm rằm đến nay.

894 – Đường dài mới biết ngựa hay,

Bây giờ mới rõ con bạn dày trí khôn.

895 – Nhứt ngôn trúng vạn ngôn dụng,

Nhứt ngôn bất trúng, vạn sự bất thành.

Bậu với qua như bát cơm nguội chan canh,

Có xa thì chớ soạn sành chuyện anh.

896 – Nhứt ngôn trúng, vạn ngôn dụng,

Nhứt ngôn bất trúng, vạn sự bất thành.

Gió đua tàu chuối tanh bành,

Bậu ôm duyên bậu bán, tứ diện thành đều hay.

897 – Mặt giao mặt đó đây hai mặt,

Tay bắt tay đây đó hai tay,

Phải chi anh biết chắc em rày,

Đường đi thiên sơn vạn thủy,

Mấy mươi ngày anh cũng phải đi.

898 – Con thỏ giỡn lân, lân quì trực thị,

Ai ở bạc tình thì bị mũi tên.

899 – Bắc nam rày chẳng thuận tình,

Bảo em kết ngãi cho thành tấm thân.

900 – Bất tham sanh hề vô húy tử,

Anh có hoang đàng em giữ hiếu trung.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901 – Câu 801 – 850

Vài lời từ người đánh máy

Sách Câu hát góp – hay Câu hát Annam – được phát hành năm 1901. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt sơ với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1901, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Câu hát góp 1901 - Câu 801 - 850Câu hát Annam: Câu 801 – 850

Trải xem ca vịnh xưa sau, tự nhiên cảm phát biết bao nhiêu tình. Lạ chi nữ tú nam thanh, nhiêu lời ong bướm dỗ dành trăng hoa. Trọng vì đạo chúa nghĩa cha, những điều than vãn cũng là tự nhiên. Chữ rằng phong nguyệt vô biên, vợ chồng tơ tóc nhơn duyên thâm trầm. Quấc phong xưa có mười lăm, lục diêu mới góp trăm câu ngoài. Kinh thanh Ví trược rẽ hai, nối điều vẻ vắn, mựa nài khen chê.


801 – Còn chi vô trướng ra màn,

Ngãi nhơn rày đã hai đàng phân ly.

802 – Đi ngang nhà má tay tôi xá chơn tôi quì,

Lòng thương con má sá gì thân tôi.

803 – Nghĩ nào mà lại tuôn rơi,

Thắp nhang mà vái ông Trời định phân.

804 – Phải gần năm ngoái đã gần,

Năm nay có tưởng mười phần cũng không.

805 – Nên thì một vợ một chồng,

Một niu cơm tấm một đùm mắm nêm.

806 – Đò đưa một chuyến năm tiền,

Ớ cô bán lụa xuống thuyền tôi đưa.

807 – Ngãi nhân chi nữa bây chừ,

Có đôi khác thể bùa trừ ngãi nhân.

808 – Cửa quyền con bướm liệng lăng xăng,

Biểu đừng dộn dực mà trăng xa đèn.

809 – Tiếc thay nước đã đánh phèn,

Mà cho bùn lại nhuốm lên mấy lần.

810 – Phải duyên Ngô Việt cũng gần,

Trái duyên Tần Tấn dầu gần cũng xa.

811 – Đó với đây như cây tạo hóa,

Đó ra về đây khá lòng thương.

812 – Nắng lên cho héo lá lang,

Cho đáng kiếp chàng phụ rẫy ân xưa.

813 – Bảo đừng sầu muộn tương tư,

Để về thưa lại mẫu từ sẽ hay.

814 – Em về thưa lại mẹ hay,

Cho đành rồi sẽ sính bày lễ nghi.

815 – Việc chi mà bắt em thề,

Cầm dao lá liễu dựa kề tóc mai.

816 – Con cá không ăn câu thiệt là con cá dại,

Câu anh cầm câu ngãi câu nhân.

817 – Chim kêu ải bắc non Tần,

Nửa thương cha mẹ nửa phần thương em.

818 – Khi cày thì chẳng thấy chim,

Đến khi lúa chín chim tìm tới ăn.

819 – Muối mặn ba năm còn mặn,

Gừng cay chín tháng còn cay,

Bậu với qua ai nấy đều hay,

Đèn treo giữa gió biết day đàng nào.

820 – Chữ rằng: họa phước vô môn,

Tìm giàu thì dễ tìm khôn khó tìm.

821 – Lưới thưa mà bủa cá kìm,

Lòng qua thương bậu bậu tìm nơi nao.

822 – Tưởng khi đông liễu tây đào,

Khi ra vườn hạnh khi vào phòng loan.

823 – Bây giờ đôi ngả sâm thương,

Chiếu chăn chích mác thiếp chàng xa nhau.

824 – Quản bao Tô Võ chăn trừu,

Ba năm oán để tiền cừu chi nguôi.

825 – Cực lòng thiếp lắm chàng ôi!

Biết rằng lên ngược xuống xuôi đàng nào.

826 – Thương em tam tứ núi anh cũng theo,

Thất bát giang anh cũng lội, thập nhị đèo anh cũng sang.

827 – Vì ai cho thiếp vỏ vàng,

Vì ai tư lự hoa tàn nhụy phai.

828 – Thân em khác thể hoa lài,

Hỡi người quân tử thương ai mà gầy.

829 – Thôi tưởng gió lại nhớ mây,

Phụng hoàng mấy thuở ấp cây ngô đồng.

830 – Cầm vàng mà lội qua sông,

Vàng trôi không tiếc tiếc chồng thuở xưa.

831 – Tới đây thủ phiện đưa đò,

Trước đưa quan khách sau dò ý em.

832 – Bước ra cho khỏi sân lầu,

Không ham phú quí không cầu giàu sang.

833 – Thuở đêm thanh chạnh lòng nhớ bạn,

Cám thương người hoạn nạn xiết bao.

834 – Ra về lụy ứa thâm bâu,

Nỗi thương chưa xiết nỗi sầu lại vương.

835 – Ví dầu xa cách đôi phương,

Trăm năm cũng nhớ lời vàng tỏ phân.

836 – Thấy em nhỏ thó lại có duyên ngầm,

Anh phải lòng thầm ba bốn tháng nay.

837 – Chừng nào cho được bắt tay,

Gối luôn một gối dạ nầy mới ưng.

838 – Trời ôi ai đánh trời gầm,

Mây mưa đứt đoạn tư bề âm can.

839 – Cơ trời dâu bể đá đoan,

Tơ duyên vằn vỏi thiếp chàng xa nhau.

840 – Hộ hôn điền thổ vạn cổ chi thù,

Ớ bậu ôi,

Vui sướng chi bậu hòng hớn hở,

Cơ hội nầy ngàn thuở không nguôi.

841 – Đêm khuya chong ngọn đèn ngồi,

Bâng khuâng nhớ bạn bồi hồi lá gan.

842 – Sóng xao mặc sóng dưới thoàn,

Một ngày vắng bạn ăn vàng không ngon.

843 – Đường đi cát nhỏ cỏ mòn,

Mấy lời hưu cựu, bậu còn nhớ quên.

844 – Thà anh thọ tử ông Lưu Huyền,

Chẳng thà anh thọ nhục con Điều Thuyền thất danh.

845 – Nghiêng tai xéo đổ bổ nhổ xéo xanh,

Bậu nghe ai dỗ ai giành bậu xiêu.

846 – Đêm khuya ôm lấy cọc chèo,

Sương sa gió lạnh vận nghèo anh phải đi.

847 – Để em bay nhảy cho kịp thì,

Đây anh khác thể bông quì hứng sương.

848 – Anh buồn cỡi ngựa buông cương,

Thấy con bạn cũ tình thương cạn rồi.

849 – Giậm chơn ba tiếng kêu trời,

Cớ sao con bạn ngọc đổi dời hai phang.

850 – Đờn kêu tích tịch tình tang,

Ai đem công chúa lên hang mà về.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Câu hát góp 1901 – Câu 751 – 800

Vài lời từ người đánh máy

Sách Câu hát góp – hay Câu hát Annam – được phát hành năm 1901. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt sơ với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1901, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Câu hát góp 1901 - Câu 751 - 800Câu hát Annam: Câu 751 – 800

Trải xem ca vịnh xưa sau, tự nhiên cảm phát biết bao nhiêu tình. Lạ chi nữ tú nam thanh, nhiêu lời ong bướm dỗ dành trăng hoa. Trọng vì đạo chúa nghĩa cha, những điều than vãn cũng là tự nhiên. Chữ rằng phong nguyệt vô biên, vợ chồng tơ tóc nhơn duyên thâm trầm. Quấc phong xưa có mười lăm, lục diêu mới góp trăm câu ngoài. Kinh thanh Ví trược rẽ hai, nối điều vẻ vắn, mựa nài khen chê.


751 – Tay cầm chiếc chiếu trải ngang,

Miệng chào ông đội Nam Vang mới về.

752 – Bấy lâu cách trở sơn khê,

Tưởng anh đã được vinh huê với đời.

753 – Em đương vút nếp xôi xôi,

Nghe anh có vợ bồi hồi ruột gan.

754 – Thiếp như con én lạc đàn,

Thấy cung mà sợ phải phàn mấy cung.

755 – Rạng đông súng nổ kiểng đổ trống thùng,

Lòng qua thương bậu khôn cùng bậu ôi.

756 – Tai nghe em bậu chồng hồi,

Cũng bằng anh uống một nồi nhơn sâm.

757 – Nhơn sâm mắc lắm anh ôi,

Tiền đâu mà uống một nồi nhơn sâm.

758 – Mấy ai ở đặng hảo tâm,

Nắng hanh giúp nón mưa dầm giúp tơi.

759 – Từ rày giã bạn bạn ôi,

Chiếu bạn bạn ngồi trầu bạn bạn ăn.

760 – Chiều chiều mây phủ Ải Vân,

Chim kêu Bàn Thạch muôn phần héo don.

761 – Quả đào tiên ruột mất vỏ còn,

Buông lời hỏi bạn đường mòn ai đi.

762 – Rèn lòng vàng đá tri tri,

Một ngày cũng gọi tương tri với chàng.

763 – Gió đưa liễu yếu mài hoằng,

Liễu yếu mặc liễu mai hoằng mặc mai.

764 – Cửa song loan im ỉm còn gài,

Mưa sa gió tạt, tạt ngoài mái hiên.

765 – Chữ rằng: Phú quí tại thiên,

Vì ai nên nỗi bạn hiền gian nan.

766 – Người đời ai khỏi gian nan,

Gian nan có thuở thanh nhàn có khi.

767 – Rượu lưu ly chơn  quì tay rót,

Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.

768 – Tới đây lạt miệng thèm chanh,

Ở nhà cũng có cam sành chín cây.

769 – Giăng tay đón bạn truông mây,

Thương ai mà bỏ ngãi đây cho đành.

770 – Thà tôi bận rách bận rưới,

Để cho cha mẹ tôi bận lành,

Cám thương cha mạ sanh thành tôi ra.

771 – Cửa song loan anh khoan mở đã,

Phụ mẫu em rày cẩn khóa niêm phuông.

772 – Ngó lên hai ngã ngọn nguồn,

Thấy lời bạn thốt lụy tuôn  hai hàng.

773 – Rủi tay xán bể ve vàng,

Tội đà đáng tội xin chàng thứ dung.

774 – Huê sao thơm lạ thơm lùng,

Thơm cây thơm rể người trồng cũng thơm.

775 – Gối rơm theo phận gối rơm,

Ai cho dưới thấp mà chờm lên cao.

776 – Vắn tay vói chẳng tới cao,

Tiếc ôi là tiếc bông đào nở tươi.

777 – Séo kêu công múa nghê cười,

Vượn đờn thánh thót rùa bơi thỏ quì.

778 – Mưa sa ngọn cỏ ly bì,

Đồng hồ nhặt thúc tử qui kêu sầu.

779 – Sụt sùi gió nữ mưa sầu,

Nỗi thương chi xiết nỗi sầu lại vương.

780 – Tới đây phân rẽ đôi đường,

Đó lui làng hạnh, cô hương đây về.

781 – Phụng với loan hai đường phân rẽ,

Anh với nàng chẳng lẽ phân nhau.

782 – Bậu với qua như tuyết liễu đông đào,

Sớm chơi vườn hạnh tối vào phòng loan.

783 – Làm chi lăng líu hỡi chàng,

Trước chị sau vợ ngỡ ngàng khó kêu.

784 – Chữ rằng: bằng hữu chi giao,

Tâm tình bậu ở lảng xao anh buồn.

785 – Khi mưa khi nắng luông tuồng,

Người buồn lại gặp cảnh buồn khá thương.

786 – Trồng hường bẻ lá che hường,

Nắng mưa che đậy cho hường đơm bông.

787 – Đêm khuya anh ngồi dựa khoang bòng,

Sương sa gió lạnh chạnh lòng nhớ em.

788 – Giận em anh đánh năm bảy tấm ván bòng,

Nộ bất cập lượng đánh rồi lại thương.

789 – Cây da trước miễu cây da tàn,

Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu.

790 – Lan huệ sầu ai cho nên lan huệ héo,

Lan huệ sầu chồng trong héo ngoài tươi.

791 – Mỗi năm mỗi thắp đèn trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

792 – Người còn thì của cũng còn,

Miễn là nhân ngãi vuông tròn thì thôi.

793 – Ví dầu kết chẳng đặng đôi,

Làm thơ trái bưởi thả trôi sông nầy.

794 – Bao giờ cho đặng sum vầy,

Ngãi nhân thẳm thẳm một ngày một xa.

795 – Biểu đừng nghi bảy ngờ ba,

Không tin bậu hỏi kẻ xa người gần.

796 – Bậu đừng trách ái hờn ân,

Đạo chồng ngãi vợ chẳng gần thì thôi.

797 – Ví dầu chẳng đặng làm đôi,

Đến sau ta sẽ làm sui một nhà.

798 – Có xa tại bậu nên xa,

Anh em cha mẹ ở nhà còn thương.

799 – Biển cạn lòng anh không cạn,

Non núi kia mòn nghĩa bạn chớ vong.

800 – Một mai bóng xế cội tùng,

Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.


Còn tiếp

Related Images: