Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 18 – Chung

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 18 - ChungVài lời từ người đánh máy

Tác phẩm này được viết hơn một trăm năm. Lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai nên có nhiều từ cổ, câu chữ khác nghĩa so với hiện nay. Điều này thật hữu ích cho bạn đọc muốn tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ cũng như đời sống thời bấy giờ.

Tôi mạn phép sửa lại phần chính tả (dấu hỏi – ngã) và phân đoạn ngắn hơn; không sửa các từ ngữ thời đó.


119. Án giành ruộng hương hỏa

Tân Bình phủ tri phủ, kiêm lý Bình Dương huyện, ti chức Nguyễn Hữu Thường.

Bẩm,

Vì việc hương hỏa, vâng đưa lời thẩm nghĩ hỏi tra, ngỏ nhờ quan trên thẩm lượng:

Nguyên trong hạt Bình Dương, tổng Bình Trị Thượng, làng Bình Hòa, có tên Lê Văn Cao đầu đơn kiện chú ruột nó là Lê Văn hậu giành một phần ruộng hương hỏa 20 mẫu, ti chức đòi cả tiên bị, chúng chứng mà hỏi.

Chiếu theo đơn Lê Văn Cao trinh rằng: ông nội nó là Lê Văn Hưởng, sanh ra có hai người con trai, trưởng nam Lê Văn Tình, là cha nó, thứ nam Lê Văn hậu, là chú nó. Nguyên ông nội nó có khai khẩn đặng 50 mẫu thảo điền, ở tại làng Phú Mỹ Tây, về tổng Dương Hòa hạ. Cha nó chết sớm. Tới năm tân tị, ộng nội nó già yếu, mới làm tương phân sở ruộng, có thân tộc cùng làng tổng sở tại làm chứng, lấy 30 mẫu chia hai cho hai con, phần cha nó thì về nó nó lãnh, còn 20 mẫu thì ông nội nó để lại mà dưỡng già, sống thì ăn dùng, chết thì để lo việc cấp táng, cùng làm hương hỏa.

Tới năm quí vì, tháng 4, mẹ nó là Trần Thị Phước, quán ở làng Thanh Ba, thuộc về huyện Phước Lộc, đau nặng, nó phải đi chạy thuốc, chẳng dè ông nội nó cũng đau nặng, nó nghe tin liền trở về thì ông nội nó chết rồi, nó chịu tang, chôn cất ông nội nó rồi lại phải đi nuôi mẹ, qua tháng 7 mẹ nó chết, nó phải ở lại lâu ngày.

Từ ấy chú ruột nó là Lê Văn Hậu giành lấy ruộng hương hỏa cho tới bây giờ là ba năm, mỗi năm cho mướn lúa 400 giạ. Nó có hỏi chú nó mà lãnh ruộng ấy lại, chú nó nói ông nội nó có trối để ruộng ấy cho chú nó ăn mà phụng tự; lại nói khi ông nó đau, nó không hầu hạ thuốc thang, bò mà đi xứ khác, bắt tội nó thất hiếu, không được ăn hương hỏa, ức lắm nó phải nhờ quan đoán dạy, các lời.

Hỏi ra Lê Văn Cao, là tiên cáo, khai rằng niên canh 24 tuổi, quê cha ở làng Bình Hòa, về huyện Bình Dương; quê mẹ ở làng Thanh Ba, về huyện Phước Lộc, chính là con một Lê Văn Tình, cũng là cháu đích tôn Lê Văn Hưởng. Năm quí vì tháng 4, mẹ nó đau nặng, nó phải đi nuôi, qua tháng 7 mẹ nó chết, là ngày tháng 6 nó có trở về mà chịu tang. Còn khi ông nội nó đau, nó mắc nuôi mẹ nó, phần thì ở xa không hay ông nó đau, nhưng vậy việc nuôi dưỡng ông nội nó, nó cậy có chú nó là Lê Văn Hậu, không phải là bỏ, các lời.

Hỏi ra danh hậu, là Lê Văn Hậu, là bị cáo khai rằng niên canh 47 tuổi, quán ở làng Bình Hòa, thuộc huyện Bình Dương. Từ ngày tháng 5, năm quí vì, cha nó là danh Hưởng đau nặng, qua 20 tháng sáu năm ấy thì chết. Cháu nó là danh Cao bỏ đi ở hạt khác, cách xa tổ quán, cho đến khi cha nó chết rồi danh Cao mới trở về. Khi cha nó đau không thấy danh Cao nuôi dưỡng, cực khổ có một mình nó chịu, bởi vậy khi cha nó gần chết, có trối để phần hương hỏa cho nó, vốn chẳng phải là tự nó giành ăn với cháu, các lời.

Hỏi ra chứng nhơn, Võ Văn Hội, niên canh 45 tuổi, là thôn trưởng làng Phú Mỹ Tây; Nguyễn V8an Hữu, niên canh 46 tuổi, là hương thân, Nguyễn Văn Y, niên canh 44 tuổi, là hương hào, đều là dịch mục làng Phú Mỹ Tây, khai rằng năm tân tị, ngày tháng 2, danh Hưởng là chủ ruộng trong làng, làm tờ tương phân, có mời làng chúng tôi làm chứng, chia một sở thảo điền 50 mẫu làm hai phần, một phần 30 mẫu chia cho hai con, là danh Tình, danh Hậu, mỗi người 15 mẫu; phần danh Tình đã chết rồi, thì giao cho con trai là danh Cao lãnh làm của riêng.

Còn 20 mẫu thì để làm phần dưỡng lão, danh Hưởng sống thì ăn, chết thì để lo cấp táng cùng làm hương hỏa cho danh Hưởng, đến khi danh Hưởng chết, sự thể làm sao, làng chúng tôi ở xa, không rõ, các lời.

Hỏi ra Lê Văn Chất, là cai tổng Dương Hòa Hạ, niên canh 50 tuổi, quán ở làng Phước Thạnh; Phạm Đăng Đạo, là phó tổng, niên canh 48 tuổi, quán ở làng Đức Hưng, đến trình rằng: hồi danh Hưởng còn sống làm tương phân sở ruộng Phú Mỹ Tây có mời chúng nó làm chứng. Lời khai cũng y như lời làng Phú Mỹ tây, các lời.

Hỏi ra thân tộc, là Lê Hữu Dung, niên canh 62 tuổi, quán ở tổng An Thủy, làng Bình Thung, khai rằng: năm tân tị tháng hai, không nhớ ngày, danh Hưởng làm tờ tương phân ruộng cho hai con, là danh Tình, danh Hậu, có nó dự việc. Phần danh Tình, là trưởng nam, chết sớm, thì về con là danh Cao lãnh.

Đến khi danh Hưởng chết, cũng có nó tới, thấy danh Hậu, danh Cao, cả chú cháu đều lo việc cấp táng. Mội khi kị lạp cho danh Hưởng, danh Hậu cũng có mời thân tộc. Còn sự danh Cao đi ở làng Thanh Ba, bên huyện Phước Lộc mà nuôi mẹ nó có thất hiếu lẽ gì, trong thân tộc không rõ, các lời.

Các lả trước nầy đã có xét tra.

Tra giấy tương phân làm ra minh bạch, có làng tổng thị chứng.

Tra ra danh Cao, quả là con trưởng nam, cũng là cháu đích tôn Lê Văn Hưởng. Ông nội đau không lo nuôi dưỡng, bỏ mà đi xa, đến đỗi danh Hậu là chú nó giành lấy phần hương hỏa, là tại nó lỗi đạo thần hôn; nhưng luận thiên tính, mẫu tử chí thân, mẹ nó đau nặng phải chết, nó đi nuôi mẹ, cũng là hiếu, còn khi ông nội nó chết, nó liền trở về nhà chịu tang, thì chẳng phải là thất hiếu.

Tra ra danh Hậu, mình làm chú ruột danh Cao, trong lúc ông nó chết, mẹ nó ở xa cũng đau gần chết, nó về mà chôn ông rồi, thì đi nuôi mẹ, cũng là việc hiếu, lại sanh tâm giành phần hương hỏa cho tới ba năm, trong thân tộc không ai biết làm sao danh Cao phải mất hương hỏa; còn sự nói rằng có lời trối, thì là việc vô bằng, lẽ phải truy lúa mướn thượng niên mà trả lại.

Vâng chiếu hộ luật cùng điều lệ Minh Mạng, năm thứ 17, nội nhứt khoản có nói rằng: phép lập tư phải cứ trưởng nam trước.

Vâng nghĩ Lê Văn Hậu, là thứ nam, Lê Văn Cao, là con Lê Văn Tình, thì là con người trưởng nam cũng là đích tôn thừa trọng, phần ruộng 20 mẫu phải về Lê Văn Cao ăn mà phụng tự cho ông nội nó. Còn sự Lê Văn Hậu giành ăn hương hỏa ba năm, tra ra trong ba năm đều có làm việc giỗ quải, chẳng phải là ăn không, lúa mướn ba năm nghi hưu cho Lê Văn Hậu, phải trả ruộng hương hỏa mà thôi.

Ti chức siển nghĩ các điều, chưa biết nhằm lẽ cùng chăng, kính bày các việc nguyên do, ngỏ nhờ quan trên thẩm định.


Chung

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 17

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 17Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm này được viết hơn một trăm năm. Lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai nên có nhiều từ cổ, câu chữ khác nghĩa so với hiện nay. Điều này thật hữu ích cho bạn đọc muốn tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ cũng như đời sống thời bấy giờ.

Tôi mạn phép sửa lại phần chính tả (dấu hỏi – ngã) và phân đoạn ngắn hơn; không sửa các từ ngữ thời đó.


118. Án giành gia tài

Tân Bình phủ quyền tri phủ, kiêm lý Bình Dương huyện, ti chức Nguyễn Hữu Đạo,

Bẩm

Vì việc kiện ruộng đất, đem lời tiêu khai kiết nghĩ bẩm tường: nguyên ngày 28 tháng 11 năm nay, có tên Lý Văn Tài là dân làng Hòa Hưng đầu đơn kiện Trần Văn Trực, là dân làng Phú Thọ, giành một sở ruộng của cô nó là Lý Thị Thành, ti chức có đòi làng tổng cùng nội vụ tới nha.

Cứ đơn Lý Văn tài, là dân làng Hòa Hưng, thuộc tổng Dương Hòa Thượng, trình rằng: khi cô ruột nó làm bạn với Trần Văn Điền, là cha Trần Văn Trực, thì bà nội nó có trích ra một phần ruộng 10 mẫu 5 sào ở tại làng Hòa Hưng mà cho cô nó, để lấy lúa mà ăn.

Cô nó ở với Văn Điền hơn 10 năm, mà không con, qua năm thứ 11, Văn Điền chết, cô nó lo việc cấp táng một mình; còn tên Trực thì bỏ nhà mà đi vong phế, cha chết cũng không về.

Cách hai năm sau, cô nó chết, tuy có danh Trực ở nhà, mà việc tống táng đều nhờ nó cùng một tay bà nội nó. Bấy lâu danh Trực ỷ có văn khế cô nó để lại, chiếm cứ sở ruộng cô nó, không chịu trả. Nay cô nó mất đã hơn 4 năm, nó mới đi thưa tới làng tới tổng, có đòi trong thân, mà xử việc lúng túng không xuôi lẽ nào. Bức lắm nó phải thưa quan, nhờ lượng quan thẩm xét, các lời.

Hỏi ra tiên cáo là Lý Văn tài, khai rằng: niên canh ất vì 25 tuổi, quán ở làng Hòa Hưng, có một mình nó là cháu ruột Lý Thị Thành; Trần Văn Trực, chẳng có dính dấp nghĩa gì mà choán lấy ruộng cô nó, các chuyện khác y như trong đơn, các lời.

Hỏi ra danh Trực là bị cáo khai rằng niên canh quí tị, 27 tuổi, là dân làng Phú Thọ, thuộc về một tổng: cha nó là Trần Văn Điền, nguyên ở làng Phú Thọ, đã chết rồi, buổi trước cưới mẹ nó là Phạm Thị Quế, nguyên ở làng Tân Sơn, đẻ ra nó, nuôi được 12 tuổi rồi thì mẹ nó chết. Cha nó chắp nối vợ sau, là Lý Thị Thành, thì là mẹ ghẻ nó, nguyên ở làng Hòa Hưng, cưới hỏi đủ lễ. Khi mẹ ghẻ nó về với cha nóm thì bà ngoại ghẻ nó có cho nó một miếng ruộng hơn mười mẫu, tọa lạc tại làng Hòa Hưng, có đem văn khế làm tên mẹ ghẻ nó mà giao cho cha nó phụng thủ.

Khi nó lớn lên, thường thấy cha nó gia công bồi bổ sở ruộng, cho mướn cùng đóng thuế. Vả cha nó làm bạn với mẹ ghẻ nó cũng đã lâu năm, bà ngoại ghẻ nó có ý cho đứt miếng ruộng, mới giao biệt văn khế, cải bộ cho mẹ ghẻ nó đứng. Nay cha nó chết, mẹ ghẻ nó cũng chết theo, đều để gia tài lại cho nó ăn mà phụng tự. Nó cũng phải bồi bổ miếng ruộng, cùng phải đóng thuế như khi cha nó còn sống vậy. Còn khi cha nó chết, nó mắc lỡ việc buôn bán, về không kịp, có làng xã biết, vốn chẳng phải là đi vong phế, các lời.

Hỏi ra thôn trưởng cùng hương thân làng Phú Thọ đều xưng rằng danh Điền, Thị Thành, nguyên trước làm bạn với nhau, chừng được 10 năm, có cưới hỏi giữa làng. Lại khai ruộng ấy nguyên là ruộng riêng của Lý Thị Thành. Mẹ Thị Thành là Thị Cẩm đã hơn 70 tuổi, ở làng Hòa Hưng, có giao một xấp văn khế, cải bộ cho Lý Thị Thành, thường có đóng thuế cho làng chúng tôi. Còn danh Trực, là con ghẻ Thị Thành, thì có ghe cá thường hay đi cá miền trên, một đôi tháng mới về nhà, các lời.

Hỏi ra thôn trưởng, hương thân làng Hòa Hưng khai rằng sở ruộng 10 mẫu ấy nguyên là ruộng Võ Thị Cẩm, là đờn bà góa ở làng chúng tôi, mua của danh Thông, cũng là người trong làng, có lưu văn khế; sau thị Cẩm mới cho con, là Lý Thị Thành, cùng cải bộ cho Lý Thị Thành, có làng chúng tôi thị thiền, các lời.

Hỏi ra cai tổng Dương Hòa Thượng, là Nguyễn Văn Trị trình rằng tra bộ làng Hòa Hưng cùng tra văn khế ruộng ấy quả là ruộng riêng Lý Thị Thành. Lý Văn Tài thấy cô ruột nó làm bạn với danh Điền, mà không con; nay cô nó chết mãn tang, ngày tháng 10 năm ngoái, nó có thưa mà đòi ruộng cô nó lại, các lời.

Hỏi ra thân tộc bên danh tài là Lý Văn Đắc, Võ Văn Soạn đều xưng rằng ruộng ấy vốn là ruộng của bà nội danh tài, có văn khế làm chứng, danh Trực là con ghẻ giành lấy mà ăn đã lâu năm, bây giờ danh Tài tưởng rằng vật qui cố chủ, của chủ phải về cho chủ, các lời.

Hỏi ra thân tộc danh Trực, là Trần Văn Hay, Trần Văn Nay, đều khai rằng từ danh Điền làm bạn với Thị Thành, thì thường thấy danh Điền lo bồi bổ sở ruộng cùng chịu thuế cho làng, nghe thị Cẩm giao đứt sở ruộng cho vợ chồng danh Điền. Còn danh Trực thì thường phụng dưỡng mẹ ghẻ cu4nh như mẹ ruột, cho đến khi mẹ ghẻ nó chết rồi, nó cũng giữ nhang khói cúng cấp theo cha nó, các lời.

Các lẽ trước nầy đã có xét tra.

Tra xấp văn khế ruộng kiện, nguyên trước là của Lê Văn Thông, mua của Phạm Văn Đạc, lưu văn khế bán đoạn mãi cho Võ Thị Cẩm, sau cải chánh cho Lý Thị Thành, quả là ruộng riêng Lý Thị Thành, nguyên chẳng phải là ruộng tổ phụ lưu lại, cũng chẳng phải là ruộng hương hỏa, tuyệt tự.

Tra ra Trần Văn Điền đã chết rồi, buổi làm bạn với Lý Thị Thành, là con gái cũng đã chết rồi, tuy là chắp nối, mà cũng có cưới hỏi, hko6ng phải là cầu hạp.

Vâng chiếu theo cữu tộc đồ, chỗ phân về tam phụ bác mẫu, Lý Thị Thành quả là kế mẫu danh Trực, ấy Vi phụ chi thê, thì là Vi tử cho mẫu. Vả danh Điền chết cách ba năm, Thị Thành lại chết theo, thì cũng là tùng nhứt, trọn nghĩa vợ chồng, sống thì đồng tịch đồng sàng, thác thì đồng quan đồng quách.

Vâng tra mặt luật hộ, chỗ nói về việc lập đích tử, trong điều lệ có dạy phải cứ Chiêu mục tương đương, danh Lý Văn Tài tuy là cháu ruột thị Thành, kêu thị Thành bằng cô ruột, về bên họ nội chẻm chẻm, mà ngặt gái có chồng, phải tùng chồng. Lý Văn tài chẳng có lẽ thờ cô mà bỏ dượng.

Vâng nghĩ sở ruộng 10 mẫu ấy phải về Trần Văn Trực làm chủ, lấy hoa lợi mà cúng kế mẫu cùng là cúng cha, làm hương hỏa cho Lý Thị Thành.

Ti chức siển nghĩ các điều, chưa biết hiệp lẽ cùng không, kính đem các việc nguyên do, bẩm trình ngỏ nhờ thẩm đoán.

Vả thọ lý án nầy từ ngày 28 tháng 11 năm ngoái, đến ngày 12 tháng giêng năm nay thì hoàn kiết. Kể từ ngày thọ lý cho tới hoàn kiết là một tháng 14 ngày, trừ từ phong ấn cho tới khai ấn hết 17 ngày, còn lại có 27 ngày.

Tự Đức thập nhị niên, chánh ngoạt thập nhị nhựt.

Tân Bình phủ ấn.


Còn tiếp

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 16

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 16Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm này được viết hơn một trăm năm. Lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai nên có nhiều từ cổ, câu chữ khác nghĩa so với hiện nay. Điều này thật hữu ích cho bạn đọc muốn tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ cũng như đời sống thời bấy giờ.

Tôi mạn phép sửa lại phần chính tả (dấu hỏi – ngã) và phân đoạn ngắn hơn; không sửa các từ ngữ thời đó.


117. Án tấu về việc ăn cướp

Vĩnh Long tỉnh, Bố chánh sứ thần; Án sát sứ thần …

Kính đem lời phúc thẩm về án ăn cướp đắc tài các duyên do, làm sách dâng tâu, ngửa nhờ lượng Thánh tỏ soi:

Ngày 28 tháng 10 năm nay, có Hoằng Trị phủ, Tri phủ thần … làm án giải vụ ăn cướp, nói rằng: “Ngày 28 tháng 6 năm nay, hồi canh một, có huyện Di Minh, giải ăn cướp tới, cứ lời thôn trưởng làng Tân Lộc, là Lê Văn Canh trình xưng, “ngày 24 tháng ấy, nói với dịch mục Lê Văn Thiên đi bắt dân lậu bên huyện Vĩnh Trị, nghe báo đêm 25, chừng canh ba, nhà nó bị một đảng ăn cướp chừng 10 đứa đánh lấy đồ rồi đem nhau đi mất; dân làng theo không kịp, lấy đặng có hai đoạn đèn chai ăn cướp bỏ lại mà thôi. Ngày ấy nó trở về mời làng lập tờ cớ.

Qua ngày 28, nó nghe lính trong làng, tên là Đỗ Văn Thạnh, cùng tên lính khác là Lê Văn Thống, có hiệp với dịch mục làng Tân Đức, là Đỗ Văn Thung, đồng ngồi nghe mà rượt ăn cướp, gặp ăn cướp tại rạch nhỏ, nơi nhà Trần Văn Luật, cũng ở tại Tân Đức, Văn Thung, Văn Thạnh dạy bắt, Văn Luật với bọn ăn cướp bèn đem tiền 15 quan mà hối lộ; Văn Thung, Văn Thạnh chịu ăn mà tha, các lời.”

“Quan huyện đem thơ lại, quân lệ cùng tổng làng, cứ lời Văn Canh báo chỉ, bắt đặng bợm, là Trần Văn Luật, Trần Văn ý, lấy đặng khí giái cùng đồ tang. Hỏi hai tên phạm chịu xưng có hiệp lõa với danh Tị, danh Đá, danh Lẫm, danh Trì, danh Viễn, danh Vùng, danh Hữu, đánh nhà danh Canh, lấy đặng của.

Bắt lần đặng Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Vă Viễn, Phạm Văn Vùng, Nguyễn Văn Hữu, lại xưng ra ngày mồng 6 tháng 6 năm nay, ban đêm, bốn đứa nó có hiệp lõa với danh Bữu, danh Tiêm, danh Sương, danh Soạn, danh Quới, danh Dõng, danh Tị, danh Quờn, danh Năng, danh Khoa, danh Thận, danh Diêu, danh Huỳnh, danh Huyên, danh Hợi, danh Kình, cả thảy 20 đứa có đánh nhà danh Liệu, ở làng Thanh Xuân, lấy đặng của chia nhau, các lời.

“Huyện Di Minh bèn sai đi bắt đặng danh Hữu, danh Tiêm, danh Sương, danh Soạn, danh Quới, danh Dõng, danh Tị, danh Quờn; còn danh Trì, danh Lẫm, danh Năng, danh Khoa, danh Thận, danh Huỳnh, danh Huyên, danh Hợi, danh Kình, danh Diêu, nghe bắt liền trốn trước, có giấy tập nã, mà bắt không đặng. Cứ tịch biên gia sản các tên phạm, giao cho dân canh giữ; rồi đem cả tang phạm, chứng cứ, cả thảy về nha tra hỏi cùng kiết nghĩ.

Qua ngày mồng 3 tháng 9 năm nay, tên Nguyễn VĂn Quới ở giam mang bịnh mà chết, có giấy làm bằng. Lời các phạm cung xưng cùng lời thẩm nghĩ, kể bày ra đây.

Hỏi Nguyễn Văn trì khai niên canh quí dậu 28 tuổi, là dân làng Tân Thanh Tây về Tổng Minh Thuận, tại làng không có nhà cửa, ở ghe trôi nổi buôn bán làm ăn. Em chú bác nó là Nguyễn Văn Viễn, đồng ở dưới ghe. Ngày mồng 5 tháng 6 năm nay, nó có gặp người quen là danh Năng chống ghe lại gần, nói chuyện người làng Thanh Xuân, tên là Liệu, giàu có, bọn mình nghèo phải hiệp nhau, đánh lấy ít nhiều chia nhau đỡ nghèo.

Qua đêm mồng 6, chúng nó đều đem ghe tới đậu mé sông gần vườn tên Liệu. Khi ấy có tên Sâm là rể chồng trước vợ danh Liệu xuống ghe nói chuyện, chịu làm hướng đạo.

Danh Sâm lại rủ đặng các người ở ghe là danh Khoa, danh Diêu, thêm hai chiếc nữa, rồi biểu danh Khoa, danh Diêu kêu rủ người thêm, sắm đồ binh trượng, hẹn tối đêm ấy đồng tựu chỗ thanh vắng, hiệp lại mà đi. Nó nghe theo, nó rủ danh Viễn, danh Hữu, là dân làng Tân Thành, danh Thận, là người làng Đông Thạnh, danh Kình, là người trong làng, và con dì nó là danh Quờn, đem khí giái đồng ngồi một ghe tới làng Thanh Xuân, ngó thấy nghe danh Năng, danh Khoa, danh Diêu ba chiếc đậu cặp kè. Nó thấy trong ghe tên Năng có tên Bữu, tên HUỳnh, tên Soạn, tên Tiêm; trong ghe danh Khoa thì có danh Thận, danh Sương, danh Tị; còn ghe danh Diêu thì có tên Dõng, tên Quới, tên Huyên, tên Hợi, hiệp cùng 6 người dưới ghe nó là 20 người. Danh Khoa làm đầu, phân đặt xong xuôi, ai nấy cứ chèo ghe tới bến danh Liệu mà đậu. Xảy thấy tên Sâm xuống ghe, đem danh Năng, danh Soạn đi cắt một cái đường nhỏ đàng sau vườn danh Liệu. Tới canh ba, nó biểu tên Quờn cầm một cái đoản côn ở lại mà giữ ghe, nó đem người nó hiệp cùng bọn danh khoa, danh Năng, danh Diêu, cầm khí giái xốc vào vườn. Danh Sâm danh Năng thám trong nhà danh Liệu, ai nấy ngủ hết, mà đèn còn chong. Khi ấy danh khoa truyền nổi đèn, áp vào nhà danh Liệu.

Danh khoa, danh Năng cầm côn ở ngoài mà thủ; nó với danh Diêu, danh Huỳnh, danh Bữu phá cửa sau, xông vào nhà bắt tên Liệu trói lại, khuân tiền của đem xuống ghe chèo về chỗ cũ ở địa phận làng Thanh Thủy, mà không thấy danh Sâm đi theo mà chia đồ. Danh Năng giành công dọn đàng, xí phần một cái nồi lửa bằng thau, đồ trà một bộ, khay hộp môt bộ và hai cái muỗng dừa; còn lại bao nhiêu, danh Khoa nhắm ghe bốn chiếc, chia làm bốn phần, lại cho danh Sâm có công chỉ dẫn, một phần, giao cho tên Năng nhận lãnh.

Phần nó lãnh cho các người ghe nó, hiện tiền 28 quan cùng các món đồ đạc, sang qua ghe chèo đi chỗ khác, rồi lại chia nhỏ làm bảy phần: tên Kình tiền 7 quan, vải trắng một cây, mùng vải xanh cũ một cái, áo lụa trắng chẹt một cái, chậu rửa tay bằng thiếc một cái; danh Vùng tiền 7 quan, đồ trà một bộ, mền vải xanh một bức, nồi đồng hai tuổi một cái, quần lãnh cũ một cái; danh Hữu tiền 7 quan, mền vải xanh cũ một cái, mùng thao càng cũ nhuộm già một cái; tên Quờn tiền 7 quan, quần lụa cũ một cái, nồi đồng bốn tuổi một cái; còn nó với tên Viễn cùng ghe nó ba phần: lư hương đồng một bộ; chăn nĩ đỏ một bấc; bình phong kính đá một mặt; áo địa màu lục một cái; áo hàng sắc một cái.

Về sư danh Khoa, danh Năng, danh Diêu, cả thảy có ba chiếc ghe, với phần danh Sâm có công chỉ dẫn tang vật bao nhiêu, nó không nhớ chắc. Phần nó với danh Viễn còn để chung, qua ngày mồng 7, nó bèn đem đi gởi cho chú nó, là Nguyễn Văn Huệ, nói dối là của đánh cờ bạc mà ăn, chú nó nghe lời giữ lấy của ấy.

“Đến ngày 24, thấy tên Tị, là người làng Hội An, về tổng Minh Đạt, tới nói thôn trưởng Canh ở làng Tân Lộc, về tổng Minh Hóa, giàu lớn, có đội trưởng Trần Văn Luật biểu nó rủ bợm, hẹn sáng ngày 25 phải tựu nhà Văn Luật mà tính việc. Nó nghe lời ngồi ghe đi tới tên Viễn, tới nhà Văn Luật, thì thấy có danh Tị, danh Vùng, danh Hữu, danh Đá, danh Lẫm, với em ruột Văn Luật, là danh Ý chực sẵn. Nội đảng được 9 đứa, đều có khí giái. Đội trưởng Luật đem tên Viễn đi theo dò dàng bộ cùng thám nhà thôn trưởng Canh, chiều trở về nói thôn trưởng Canh mới đi bắt dân trốn bên Vĩnh Trị, chẳng phải lo sợ sự gì. Đội trưởng Luật nấu cơm cho ăn uống rồi, cử Văn Luật làm thủ đảng, ai nấy vi tùng, chừng đầu canh ba phân nhau ngồi ghe nó, cùng ghe danh Đá, cả thảy hai chiếc chèo qua rạch, đem nhau lên bộ. Đội trưởng Luật sợ người nhà thôn trưởng Canh biết mặt, lãnh phần ở lại giữ ghe, còn bao nhiêu theo danh Viễn dẫn đàng, kéo thẳng vào nhà thôn trưởng Canh. Thấy trong nhà còn để đèn, chưa ngủ, nó biểu tên Viễn, tên Hữu, tên Ý cầm gậy tầm vông đứng ngoài mà thủ; nó cầm một cái đoản côn, phá cửa trước, tên Tị cầm côn xốc vào nhà, bắt trói bà chủ nhà; tên Vùng, tên Lẫm đánh đèn chai, tên Đá cầm côn xông vô, phá rương xe, lấy của. Xảy nghe tiếng hàng xóm hô hoán, đánh mõ, danh Lẫm vác 20 quan tiền với một bộ lư hương, còn bao nhiêu lật đật ôm đồ tang mà chạy, tới nửa đàng sợ chúng theo, nó biểu quăng lại hai cây đèn chai.

Xuống ghe rồi không thấy tên lẫm, chúng nó ghèo ghe trở về rạch nhỏ, khiêng tang vật để tại nhà thị Cẩm là mẹ đội trưởng Luật. Nó lén lấy tiền 10 quan, áo hàng nhuộm đỏ một cái với ba cái quần lụa cũ, mà giấu riêng dưới ghe nó. Khi ấy nó với danh Đá, dời ghe ra, chẳng dè bị đội trưởng Thạnh, dịch mục Thung, binh Tú, binh thống bắt được, nó với Văn Luật sợ tội, đem 15 quan tiền mà lo, xin làm thinh, đội trưởng Thạnh cùng mấy người chịu tha, lấy tiền trở về.

Chúng nó ngồi tại nhà thị Cẩm mà chia đồ tang; phần nó với tên Viễn, tiền 9 quan; khăn nhiễu đen một đượng; mâm thau vừa một mặt; nồi đồng hai tuổi một cái; phần danh Tị tiền 4 quan 5 tiền; hoa tai đồng thòa một đôi; phần tên Đá tiền 4 quan 5 tiền; nồi đồng ba tuổi một cái; phần danh Vùng, danh Hữu, danh ý, mỗi đứa tiền 4 quan 5 tiền.

Đội trưởng Luật ăn phần điểm chỉ và phần đi chung, cả thảy 8 quan 5 tiền; lư hương một bộ; bình sành hai cái; dĩa quả tử hai cái, đồ trà một bộ, khay ăn trầu một cái; áo hàng cúc kiến một cái, quần lụa trắng một cái, mùng vải xanh cũ một cái, mền vải xanh một cái. Chia rồi còn dư tiền ba quan, chúng nó cho thị Cẩm, ai đâu về đó.

Khi về, danh Vùng có đem đồ giấu riêng, là quần bàn nỉ đỏ một bấc, với sáu thước thau càng mà cho nó, với tên Viễn làm tình quen lớn. Nó với tên Viễn chở đồ tang vào ghe, lưu linh nay đậu chỗ nầy, mai đậu chỗ khác. Đến ngày mồng 3 tháng 7, nghe việc phát, người ta bắt đặng Văn Luật, Văn Ý, nó sợ dời ghe qua làng An Phú, kiếm chỗ hóc hiểm mà đậu, đem đồ tang lên bờ giấu trong cỏ. Chẳng khỏi bao lâu, Nguyễn Văn Lợi là thôn trưởng làng ấy đem dân dí bắt nó với danh Viễn, giải về nha tra hỏi, nó với tên Viễn đều khai hết mọi điều, chỉ các món đồ tang cùng khí giái ăn cướp. Sự chủ là danh Liệu và thôn trưởng Canh nhận quả là đồ bị ăn cướp.

Vả đồ thôn trưởng Canh một mặt mâm, một cái nồi hai, cùng phần nó chia chung, lúc ấy nó với tên Viễn sợ tội, đem giấu bên mép rạch, không biết ai lấy mất. Còn phần tiền 9 quan với phần nó giấu riêng 10 quan, nó với tên Viễn xài phá hết sạch.

Cá bợm khác là danh Tị, danh Đá, danh Lẫm, danh Khoa, danh Thận, danh Diêu, danh Huỳnh, danh Kình, danh Huyên, danh Hợi, danh Năng, nghe bắt, trốn trước, nó không biết đâu mà chỉ, các lời.

Hỏi qua Nguyễn Văn Huệ, khai niên canh nhâm tí 49 tuổi, chính là dân làng Định Phước, về tổng Minh Đạt, nó có nghe lời Văn Trì nói dối, nó có chịu lấy của Văn Trì gởi, nay hỏi tới nó, chịu đem ra mà nạp, về sự Văn Trì ăn cướp làm sao, nó không hay biết, các lời.

Hỏi Nguyễn Văn Viễn, khai niên canh giáp tí 37 tuổi, là dân làng Hưng Nhơn, về tổng Minh Thuận, nó không có nhà cửa. Năm ngoái tháng 11, nó theo anh chú bác là Nguyễn Văn Trì, ở ghe đi buôn bán mà làm ăn. Năm nay tháng 6, ngày mồng 6, ngày 25, trong hai đêm, nó với Văn Trì có đi ăn cướp hai lần, một lần đánh nhà danh Liệu, một lần đánh nhà thôn trưởng Canh, đều lấy đặng tài vật, còn các điều khác, nó chịu cũng y như lời Văn Trì.

Hỏi Phạm Văn Vùng, khai niên canh giáp tí 37 tuổi, có nhà ở tại làng Tân Thành, về tổng Minh Thuận, nó còn ở lậu, cha mẹ chết sớm, nó có nghề làm vườn. Năm nay tháng 6, ngày mồng 6, ngày 25, hai đêm danh Trì, danh Đá có rủ nó đi ăn cướp nhà danh Liệu, nhà thôn trưởng Canh, đánh lấy đặng tài vật, các lời lược y như lời khai Văn Trì. Vả đồ tang đánh nhà danh Liệu, phần nó chia đặng một xấp vải 12 thước, quần bàn nĩ đỏ 2 bức; phần nó với danh Hữu: đủi một đoạn 8 thước, vải trắng một đoạn 6 thước; phần chia với danh Trì, danh Viễn, đủi một đượng 6 thước, quần bàn nỉ đỏ một bức, nó đem cả thảy về nhà nó. Qua mồng 3 tháng 7, nghe bắt đặng đội trưởng Luật, danh Ý, danh Trì danh Viễn các người, nó liền đem đồ tang lấy tại nhà thôn trưởng Canh, mà nó giấu riêng, nói là của đánh cờ bạc mà ăn, gởi cho cha nó là Phạm Văn Nhuận; còn đồ lấy tại nhà danh Liệu, phần ăn nó, nó giấu ngoài bụi, sau nhà nó. Còn tiền chia, hai lần đánh, được 11 quan 5 tiền, nó tiêu xài đã hết, nay bi bắt hỏi, nó phải khai ngay. Đồ tang nó chỉ lấy lại được, sự chủ là thôn trưởng Canh chịu là của bị ăn cướp cũng đã nhận lãnh. Lại đồ đánh nhà danh Liệu, phần nó được một cái nồi hai cùng các vật khác nó đem đi giấu, mà không biết ai lấy đi mất, các lời.

Hỏi qua Phạm Văn Nhuận, khai niên canh tân mão 70 tuổi, chịu Văn Vùng có gởi đồ vân vâ: về sự Văn Vùng ở riêng, hiệp bọn đi ăn cướp hai lần bao giờ, nó không hay biết, nay hỏi tới, nó phải đem các món đồ gởi mà nạp.

Hỏi Nguyễn Văn Hữu, khai niên canh đinh sửu 24 tuổi, ở ngụ làng Tân Thành, chưa đem vào bộ, năm nay tháng 6, ngày mồng 6, ngày 25, ban đêm nó hiệp bọn với danh Trì, danh Đá, cùng các đứa khác, đánh nhà danh Liệu, nhà thôn trưởng Canh, lấy đặng tài vật chia nhau, còn lời khác cũng y như lời Văn Trì.

Hỏi Đinh Văn Quờn, Nguyễn Văn Bữu, Nguyễn Văn Tiền, Nguyễn Văn Sương, Đặng Văn Tị, Lê Văn Dõng, Nguyễn Văn Quới, Huỳnh Văn Sâm, là đứa tiến dẫn, đều chịu có ăn cướp phân tang, lời khai gần giống như nhau.

Hỏi Trần Văn Luật, khai niên canh nhâm tí 34 tuổi, ngạch nó thuộc tỉnh Vĩnh Long, cơ Vĩnh Hậu, nó là ngoại húy đội trưởng thuộc về đội nhứt, làng quán nó là Tân Đức, về tổng Minh Hóa. Ngày mồng 5 năm nay, nó bỏ đội trên về làng, nhơn lúc nghèo, nó biểu danh Tị rủ danh Trì, danh Viễn, các đứa nhập lõa đánh nhà thôn trưởng Canh, lấy đặng tài vật chia nhau, rủi bị Văn Thạnh, Văn Thung bắt được, nó năn nĩ xin đừng nói ra, các lời gần giống như lời Văn Trì khai. Vả khi chia tang rồi, danh Đá có đem một cái nồi ba mà gởi cho nó giữ. Lại khi ấy nó lấy phần tiền của tên Ý, 4 quan 5 tiền; phần của mẹ nó 3 quan, với phần tiền của nó, cả thảy 16 quan, chưa tiêu xài, cùng các vật khác đem giấu tại nhà thị Cẩm. Đến ngày 28 tháng 6, nó với tên Ý đồng bị bắt, soát trong nhà thị Cẩm, có đủ các món ấy; sự chủ là thôn trưởng Canh cũng nhìn quả là đồ bị ăn cướp, các lời.

Hỏi Trần Văn Ý, khai niên canh tân vì (thân) 30 tuổi, chính là dân làng Tân Đức, nó có nhập lõa ăn cướp nhà thôn trưởng Canh, lấy đặng tài vật cùng có chia. Trong lúc đi ăn cướp, Văn Trì biểu nó cầm một đoạn tầm vông ở ngoài mà coi chừng. Các lẽ khác cũng y như lời khai Văn Luật.

Hỏi qua Thị Cẩm, khai niên canh canh tí 61 tuổi, có nhà ở gần nhà con là Văn Luật, Văn Ý. Năm nay tháng 6 ngày 25, ban đêm chừng canh ba, nghe bên làng Tân Lộc nổi mõ hồi một; một chập thấy Văn Luật, Văn ý, cùng nhiều người khác lạ, đi hai chiếc ghe, đậu trước bến mụ ấy rồi vác tiền, vác đồ vào nhà mụ. Một lát thấy đội trưởng Thạnh, dịch mục Thung theo bắt, Văn Luật cùng các người đem 15 quan tiền mà lo cho khỏi bắt, mụ ấy mới biết Văn Luật, Văn ý nhập bọn đi ăn cướp, còn các lẽ khác cũng gần y như lời Văn Luật khai.

Hỏi đứa ăn lót, là Trần Văn Thạnh, khai niên canh ất sửu 36 tuổi, ngạch binh thuộc về cơ Vĩnh Hậu, mà ngụ Tân Đức. Ngày 23 tháng 6 năm nay, nó bỏ đội trốn về làng, tới đêm 25 chừng canh tư, nghe trong làng mõ đánh liên thinh, nó với dịch mục Thung, cùng hai tên lính trong đội là Lê Văn Thông, Đỗ Văn Tú, đồng xuống ghe chèo đi tiếp cứu; tới gần nhà thôn trưởng canh, thì nghe ăn cướp đánh lấy đồ xuống ghe đi mất rồi. Nó hối chèo ghe theo, tới làng Tân Đức, thấy trong rạch đội trưởng Luật có hai đứa trai chống hai chiếc ghe be ra vàm rạch, nó với Văn Thung, nghi quyết là ghe ăn cướp đem tang đi giấu cho mất tích. Nó với Văn Thung hô lên biểu bắt, một thằng chống ứng tiếng nói là tên Đá. Nó liền biểu tên Thống qua ghe bắt tên Đá trói lại; tên Đá khóc xin tha thì sẽ tính ơn nghĩa. Nó với Văn Thung biểu đừng trói để cho nó tính. Tên Đá liền vào nhà Thị Cẩm, hiệp cùng đội trưởng Luật với danh Tị, danh Trì, danh Vùng cả thảy, đem 15 quan tiền cho bọn nó, xin làm thinh, đừng phát giác ra. Nó với Văn Thung chịu ăn tiền ấy, rồi biểu binh Tú, chèo ghe trở về. Nó với Văn Thung chia mỗi đứa là 5 quan 5 tiền, còn lại 4 quan chia hai cho Văn Thống, Văn Tú. Nó đã giao cho Văn Thống một quan rồi, còn Văn Tú, thì không thấy tới mà lãnh phần. Nay Văn Tú tố cáo, bắt nó với Văn Thung, Văn Thống, nó xin chịu tội.

Hỏi qua dịch mục Thung, khai niên canh nhâm thân 29 tuổi, là dịch mục làng Tân Đức, các lẽ khác cũng chịu y như lời Văn Thạnh khai.

Hỏi Lê Văn Thống, khai niên canh kỷ mão 22 tuổi, ngạch binh thuộc về cơ Vĩnh Hậu, là lính đội nhứt. Năm nay ngày tháng 5, nó về ban mà nghỉ, còn các lẽ, nó chịu cũng y lời Văn Thạnh, Văn Thung khai. Lại trong lúc theo bắt ăn cướp, Văn Thạnh là đội trưởng nó, Văn Thung là dịch mục làng nó, dụng tình ăn lót, phận nó không dám can gián; tiền ăn lót 15 quan, Văn Thạnh, Văn Thung chia làm sao nó không biết. Đến ngày 26, Văn Thạnh có đem cho nó một quan. Văn Thạnh lại nói phần Văn Tú với nó, mỗi đứa hai quan, Văn Thạnh đã xài hết rồi, bây giờ giao đỡ một quan, còn một quan sau sẽ giao. Nó nghèo lắm, nó phải lãnh đỡ một quan. Nay Văn Tú tố cáo, bắt hỏi nó, nó phải thú thiệt.

Hỏi Đỗ Văn Tú, khai niên canh đinh mão 34 tuổi, ngạch binh thuộc về cơ Vĩnh hậu, là lính đội nhứt. Ngày tháng 5 năm nay, nó về ban mà nghỉ. Đêm 25 tháng 6, chừng canh ba, nó nghe trong làng nổi mõ hồi một, nó với đội trưởng Thạnh (hay là cai Thạnh) hiệp cùng Lê Văn Thống, dịch mục Thung ngồi ghe đi tiếp. Nghe ăn cướp đánh nhà thôn trưởng Canh rồi xuống ghe mà chạy, ghe nó tuốt theo tới làng Tân Đức, gần rạch xẻo, bên nhà đội trưởng Luật, thấy hai người trai chống hai chiếc ghe ra miệng rạch. Văn Thung, Văn Thạnh hô lên biểu bắt, có một đứa lên tiếng xưng là tên Đá; dịch mục Thung, đội trưởng Thạnh biểu binh Thống qua ghe bắt trói. Tên Đá năn nĩ, xin để nó lo liệu, Văn Thạnh, Văn Thung bèn kêu binh Thống biểu đừng trói. Tên Đá trở vào nhà mẹ đội trưởng Lau65t, một chặp đội trưởng Luật với tên Tị, tên Trì, tên Vùng đem ra 15 quan tiền, xin phui pha. Đội trưởng Thạnh, dịch mục Thung chịu, rồi biểu nó với binh Thống chèo đem ghe về. Nó cứ việc về nhà, đội trưởng Thạnh với dịch mục Thung chia tiền ấy làm sao, nó kh6ong biết rõ. Nó nghĩ lại thôn trưởng Canh ở trong làng bị ăn cướp; nó đã gặp ăn cướp tại nhà Thị Cẩm; đội trưởng Thạnh, với dịch mục Thung lại ăn tiền mà phui pha; nếu nó không báo cáo, để sau phát giác, nó phải tội chung, bởi vậy tới ngày 28 sáng, nó qua nhà thôn trưởng Canh, học hết các chuyện. Thôn trưởng Canh nói có quả như vậy, thì phải làm cam đoan, rồi liền đi thưa quan.

Cứ lời các phạm, là Trần Văn Luật, Trần Văn Ý, Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Văn Viễn, Phạm Văn Vùng, Nguyễn Văn Hữu, cả thảy khai danh Đá ở làng Gia Khánh, về phủ Hoằng An, đã có tư tờ cho tri phủ ấy bắt tịch tên Đá mà giải qua cho được kiết án. Tri phủ Hoằng An phúc thơ rằng có hỏi thôn trưởng Gia Khánh, chịu “tên Đá có vào bộ, mà không có nhà cửa tại làng, tên ấy ở ghe trôi nổi buôn bán mà ăn, làng tìm không đặn.”

Cứ cá lời phạm là Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Văn Bữu, Lê Văn Dõng, Nguyễn Văn Sương, khai rằng đêm mồng 6 tháng 6 năm nay, chúng nó có hiệp bọn với danh Năng, là dân làng Phú Trị, về tổng Bảo Thành, phủ Hoằng Đạo, có đánh nhà danh Liệu, ở làng Tân Xuân, lấy đặng tài vật chia nhau, các lời. Đã có tư tờ cho phủ Hoằng Đạo, bắt tên ấy cùng tịch ký gia sản nó, cho được làm án. Tri phủ ấy phúc thơ, cứ lời thôn trưởng Phú Trị, xưng rằng “Chế Văn Năng, là dân bộ, nghèo khổ, ở ghe trôi nổi buôn ba1nkie61m ăn, vâng trát kiếm tìm mà không thấy tông tích.”

Hỏi sự chủ Phan Văn Liệu, khai rằng: chính là dân bộ có nhà đất ở tại làng Tân Xuân, nhà nó ở xa xóm, có một cái nhà thị Xuân, là vợ sau nó ở gần. Năm nay, tháng 6, ngày mồng 6, tôi tớ nó đi khỏi, có một mình nó với vợ nó là thị Quỳnh ở nhà. Đêm ấy chừng canh ba, nó nghe phá cửa sau, nó thức dậy thì thấy đèn đuốc sáng lòa; ăn cướp bắt nó, trói dưới gốc cột; nó ngó mập mờ, thấy đảng ăn cướp trong ngoài ước đặng 20 đứa, cạy rương, mở giường hòm lấy của mà đi, bỏ lại một đạon tra tầm vông. Ăn cướp đi rồi vợ nó mở trói, nó la làng. Khi ấy có rể thị Xuân đồng ở một nhà với thị Xuân, tên là Sâm, chạy tới trước. Nó lại chạy qua nhà thôn trưởng làng gần mà hô hoán, làng đánh mõ đem dân tới, đuổi theo ăn cướp, tìm không đặng dấu, rồi trở về nhà nó. Nó đem một đoạn tre dài chừng 4 thước, chỉ là khí giái ăn cướp bỏ lại với một đàng dây ăn cướp trói nó, trình cho làng coi. Các chức làng coi xét rương xe, giường hòm, coi đàng sau nhà bếp, thấy có một cái cửa mở bét ra, mà vách phên không có dấu phá. Làng thấy tình hình như vậy, thì nghi là ăn trộm, không chịu thị tờ một hạ. Khi ấy nó còn đau cho nên không đi tới nha môn mà báo đặng. Qua ngày mồng 5 tháng 7, có trát tại nha nói rằng có bắt đặng bọn Văn Trì, Văn Viễn ăn cướp nhà thôn trưởng Canh, khai rằng có đánh nhà nó, dạy nó phải tới nha mà khai, các lời.

Vậy nó phải tới nha mà trình khai các việc cùng kể những vật nó bị ăn cướp rõ ràng; lại nó có đi theo thơ lại, lính lệ cùng tổng làng tìm bắt ăn cướp, tới đâu bắt được tang, nó nhìn quả là của nó, nó đã làm đơn nhận lãnh rồi. Còn thiếu các vật khác tính tiền 160 quan thiệt tiền 92 quan, còn mất cả thảy là 252 quan.

Hỏi sự chủ Lê Văn Canh, khai y lời trong đơn cáo trình. Còn khi nó đi theo mà bắt ăn cướp, nó nhìn được tài vật cùng tiền tang 16 quan; tiền bọn Văn Thạnh ăn hối lộ 15 quan, nó đã nhận lãnh rồi; còn mất tài vật các hạng tính tiền 20 quan, tiền thông dụng 57 quan, cả thảy là 77 quan.

Hỏi vợ con các phạm trốn; hỏi các thôn trưởng làng sở tại; các lẽ hỏi tra minh bạch.

Vâng thẩm Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Văn Viễn, Nguyễn Văn Hữu, Phan Văn Vùng, bốn đứa, hai lần hiệp lõa ăn cướp lấy được của; Nguyễn Văn Bữu, Nguyễn Văn Soạn, Đặng văn Tị, Trần Văn Luật, lê Văn Dõng, năm đứa, một lần ăn cướp đắc tài, đều có phân tang, bắt hỏi, chúng nó đều chiêu khai rõ ràng, quả là đáng tội.

Kính y trong luật cường đạo một khoản rằng: “Việc ăn cướp đã làm, mà có lấy của, thì chém hết chẳng phân vi thủ, vi tùng, các lời.”

Vân nghĩ Nguyễn Văn trì, Nguyễn Văn Viễn, Nguyễn Văn Hữu, Phạm Văn Vùng, Nguyễn Văn Bữu, lê Văn Dõng, Nguyễn Văn Soạn, Đặng Văn Tị, Trần Văn Luật, chín đứa đều phải y luật ấy mà chém quyết. Các đứa ở ngoài giữ ghe, là Nguyễn Văn Quới, Nguyễn Văn Sương, Phạm Văn Tiêm, Đinh Văn Quờn; đứa đứng ngoài coi chừng là Trần Văn Ý, cả thảy năm đúa, trừ Nguyễn Văn Quới ở giam đau bịnh mà chết, còn bốn đứa nghĩ phải chờ chỉ định đoạt.

Tên Huỳnh Văn Sâm nghe lời Chế Văn Năng xui mưu ăn cướp, đến khi đi, lại chỉ vẽ dẫn đàng, thám báo tin tức, rồi trở về nhà cho được chực việc; xét sự dụng tâm thiệt là đáng ghét, nghĩ Huỳnh Văn Sâm phải giảm tội cường đạo đắc tài một bậc, xử trượng một trăm, đày ba ngàn dặm, phát ra địa phận tỉnh Nghệ An mà giữ đó.

Bọn Trần Văn Thạnh, Đỗ Văn Thung, đuổi theo gặp ăn cướp, không bắt, thuận tình ăn lót mà tha, đến khi tra, đều chiêu khai rõ ràng, thiệt là đáng tội.

Cứ theo mặt luật Người phải đi bắt, theo bắt người tội, có một khoản rằng: “Bằng biết chỗ tội nhơn ở, mà không bắt, thì làm tội nhẹ hơn người tội một bậc, các lời.” Trừ việc ăn lót, tang nhẹ không kể, vang nghĩ tội Trần Văn Thạnh, Đỗ Văn Thung, xin làm nhẹ hơn Văn Luật, Văn Trì một bậc, là trượng một trăm, đày ba ngàn dặm. Hai đứa ấy đồng ở một làng, đồng phạm một tội, vâng soi năm Minh Mạng thứ 5, ngày tháng 6, đình thần nghị trả lời có một khoản rằng: “Hễ trong những đứa phạm tội quân, tội lưu, hoặc có hai ba đứa ở đồng làng, phạm đồng một án, thì khi định án, phải phân biệt chước lượng mà phát triển các lời.”

Kính vâng chỉ chuẩn đành rành.

Vâng nghĩ Trần Văn Thạnh phải phát ra địa phận tỉnh Hà Tịnh; Đỗ Văn Thung phải phát ra địa phân tỉnh Nghệ An, bổ làm công việc. Tên lê Văn Thống, là tay sai Văn Thạnh, Văn Thung, khai trong lúc ăn tiền, nó muốn cản, mà cản không đặng, sau Văn Thạnh đưa cho một quan, lại lãnh đi, rồi lại làm thinh. Vân nghĩ Lê Văn Thống phải chiếu theo mặt luật người ở một xóm với chủ chứa ăn cướp, Tri gian bất tố biết việc mà không thú, gia thêm một bậc, là trượng 60 đồ một năm, hạn mãn giao về đội ngũ.

Tên Đỗ Văn Tú đi với bọn Văn Thạnh một ghe, đã không chịu lãnh tiền lo lót, lại được điều đi thú trước, ưng xin miễn nghĩ cho nó. Nguyễn Thị Cẩm biết rõ hai đứa con hiệp lõa ăn cướp lấy được của đem về nhà thị ấy mà chia, lại lấy ba quan tiền ăn cướp cho, rồi hiệp cùng phần tang hai con mà chôn giấu tại nhà, đến khi tra cũng chiêu xưng ngay. Kính vâng điều lệ trong luật cường đạo có một khoản rằng: “Cha anh, chú bác cùng em út ở chung một nhà với ăn cướp, biết việc, mà lại chia tang; như đứa ăn cướp phải trảm quyết, thì giảm một bậc, làm trượng một trăm, đày ba ngàn dặm, các lời.” Vâng nghị Nguyễn Thị Cẩm phải chiếu lệ ấy, trượng một trăm, đày ba ngàn dặm; nhưng nghĩ thị ấy là đờn bà, tuổi hơn sáu mươi, xin chiếu lệ cho thục bạc trọn là 4 đồng cân 5 phân mà đem vào kho.

Tài chủ là Phạm Văn Liệu, Lê Văn Canh khai bị mất của, món nào đã lãnh về rồi thì thôi: phần Văn Liệu mất các hạng tính tiền là 160 quan, lại mất tiền mặt 92 quan, hiệp cộng là 252 quan; phần Lê Văn Canh mất các hạng tính tiền là 20 quan, lại mất tiền mặt 57 quan, hiệp cộng là 77 quan. Phần tịch ký gia sản các phạm được 351 quan 9 tiền, lấy ra 252 quan cấp cho sự chủ Phạm Văn Liệu; 77 cấp cho sự chủ Lê Văn Canh, đủ số rồi, còn dư 22 quan 9 tiền, thì đem vào kho. Đồ binh trượng của ăn cướp, bắt đặng phải tiêu hủy. Còn những đứa trốn là danh Khoa, danh Diêu, danh Thận, Nguyễn Văn Huỳnh, Nguyễn Văn Nguyên, danh Hợi, Chế Văn Đá, danh Lẫm, xin ngày nào bắt được sẽ làm án.

Vâng nghĩ các thôn trưởng làng Thanh Thủy, Tân Xuân vân vân đều có tội chứa dân lậu, lại chẳng hay giác sát, để cho dân vầy đoàn ăn cướp; vâng chiếu theo mặt luật Bất ưng vi trọng, đều xử trượng 80. Còn Đàng Thanh Ngoạn, là thôn trưởng làng Tân Xuân đã dụ dự kh6ong chịu thị tờ cớ cho Văn Liệu, mà lại không cáo báo, phải chiếu mặt luật Bất ưng vi trọng, gia hai bậc trượng 100 và bãi dịch.

Về các người khác không can trong án nầy thì không nói tới. Chí như cơ Vĩnh Hậu, chức quản cơ, chức phó quản cơ cùng suất đội, mình làm cai quản đầu mục, mà để cho Văn Luật, Văn Thạnh bỏ trại mà về, gây nên việc ăn cướp, các viên chức ấy đều phải xử phân, tri huyện ấy không dám nghị tới, các lời. Cai phủ thần phúc thẩm các lẽ cũng đều nhằm phép, xin y nguyên nghĩ gởi về, các lời.”

Thần đẳng vâng thẩm các phạm ăn cướp, là Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Văn Viễn, Nguyễn Văn Hữu, Phạm Văn Vùng, hai lần hiệp nhau ăn cướp lấy đặng của; Nguyễn Văn Bữu, Nguyễn Văn Soạn, Lê Văn Dõng, Đặng Văn Tị, Trần Văn Luật, năm đứa hiệp nhau ăn cướp một lần cùng lấy đặng của, đến khi tra đều xưng khai ngay, rõ ràng là đứa có tội; vâng nghĩ Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Văn Viễn, Nguyễn Văn Hữu, Phạm Văn Vùng, Nguyễn Bữu, Nguyễn Văn Soạn, Lê Văn Dõng, Đặng Văn Tị, Trần Văn Luật, cả 9 đứa phải y luật cường đạo đắc tài, mà chém quyết; còn đứa ở ngoài giữ ghe là Nguyễn Văn Sương, Phạm Văn Tiêm, Đinh Văn Quờn; đứa đứng ngoài coi chừng là Trần Văn Ý, đều không vào nhà mà lục đồ, các đứa ấy có đáng giảm hay là không, đều nhờ nơi ơn trên, thần đẳng xin kính vâng chỉ dạy. Nguyễn Thị Cẩm đã biết hai con là Trần Văn Luật, Trần Văn ý hiệp lõa ăn cướp, lấy được của đem về nhà thị ấy giấu để, rồi lại chịu lấy của tang, việc làm rất đáng chê ghét, xin không cho Thị Cẩm thu thục, phải phát ra địa phận tỉnh Nghệ An, an trí. Còn cơ Vĩnh hậu chức thí sai quản cơ là Nguyễn Cữu Tường, thự phó quản cơ là Nguyễn Văn Điều, chức cai dội đội nhứt cơ ấy là Nguyễn Văn Giáo, phận làm quản suất, đầu mục, mà không hay kềm thúc, để cho đội trưởng Trần Văn Luật, Trần Văn Thạnh, bỏ đội mà trốn, lại để cho lính về ban, là bọn Lê Văn Thống, gây nên việc ăn cướp, chẳng cò lẽ khỏi tội. Vâng nghĩ Nguyễn Cữu Tường, Nguyễn Văn Điều, Nguyễn Văn Giáo, xin chiếu luật làm cai quản, đầu mục không nghiêm trong sự kềm thúc, xử trượng 80; nhưng vậy lúc ấy Nguyễn Cữu Tường, Nguyễn Văn Giáo có việc sai ra kinh, nên xin giảm một bậc, mỗi người xử trượng 70; chiếu theo công tội, Nguyễn Văn Điều, phải giáng hai cấp, Nguyễn Cữu Tường, Nguyễn Văn Giáo đều giáng một cấp, đều để hay binh như cũ. Còn các lã khác đều thỏa hiệp, xin y theo lời cai phủ huyện đã xét nghĩ, vâng đem các lẽ phúc thẩm đầu đuôi làm sách dâng tâu, cúi nhờ Lịnh Thánh đoán định.

Vâng chỉ.

Cường phạm là bọn Nguyễn Văn trì nhiều lần hiệp lõa ăn cướp lấy được tài vật, chia nhau, tra ra đều chiêu xưng rõ ràng, tội tình nặng lắm; vậy tên Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Văn Viễn, Nguyễn Văn Hữu, Phạm Văn Vùng, bốn đứa phạm đều phải trảm quyết; tên Trần Văn Luật mình làm đội trưởng, lại bỏ đội trốn về, chỉ dẫn cho ăn cướp, đồng hành cùng phân tang, rất đáng tội nặng; tên Trần Văn Luật cũng phải trảm quyết. Cả năm đứa ấy, chờ sang năm hết ngày cấm hình, phải chánh pháp liền.

Đứa vi tùng một lần là Nguyễn Văn Bữu, Lê Văn Dõng, Nguyễn Văn Soạn, Đặng Văn Tị, bốn đứa đều làm trảm giam hậu; đứa cầm khí giái giữ ghe là Nguyễn Văn Sương, Phạm Văn Tiêm, Đinh Văn Quờn; đứa ở ngoài coi chừng là Trần Văn Ý, cả bốn đứa giảm tội chết, phát đi sung quân, phải cứ Bộ lựa chỗ mà phát; biết việc mà phân tang là Nguyễn Thị Cẩm chiếu theo lệ mà thâu thục, còn bao nhiêu thì y nghĩ, kính vâng.

Hình bộ đường cung lục,

Ấn Án sát tỉnh Vĩnh Long;

Tri huyện Di Minh vâng cứ.


Còn tiếp

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 15

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 15Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm này được viết hơn một trăm năm. Lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai nên có nhiều từ cổ, câu chữ khác nghĩa so với hiện nay. Điều này thật hữu ích cho bạn đọc muốn tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ cũng như đời sống thời bấy giờ.

Tôi mạn phép sửa lại phần chính tả (dấu hỏi – ngã) và phân đoạn ngắn hơn; không sửa các từ ngữ thời đó.


116. Án ăn trộm

Tri phủ Hoằng Trị, gồm hai huyện Bảo Hựu, Bảo An, họ Trương, kiết nghĩ án ăn trộm có tang tài.

Năm ngoái ngày 20 tháng chạp, có cai tổng Bảo Thành, là Võ Văn Khoa; thôn trưởng Lương Mỹ, là Nguyễn Văn Lợi; hương thân là Nguyễn Đức Bài, giải nạp hai người cùng khai rằng: ngày mồng 6 tháng ấy, chừng canh hai, các người ấy đem dân đi tuần, thấy trong nhà danh Ngộ, là người ở trong làng, có người lạ mặt, sau mới biết tên là danh Điền. Các người ấy hỏi danh Điền nói sự tích có lẽ hồ nghi, bèn soát nhà danh Ngộ, lấy đặng ruột gà đèn ló, cùng các món tài vật.

Khi ấy có người ngụ trong làng tên là Mỹ đi theo, nói rằng vợ nó là thị Hợi có nhà ở tại làng Đại Định, thuộc về tổng Bảo Khánh, ngày mồng 4 tháng chạp, chừng canh tư, bị ăn trộm lấy tài vật hết nhiều. Danh Mỹ nhìn đồ soát trong nhà danh Ngộ, đặng một cái nồi bằng đồng, hai cái gối vải xanh, một bức trướng vỏ đoạn, 24 thước vải trắng, một cái áo lụa cũ, một cái khăn gói, quả là đồ vợ nó bị ăn trộm.

Hỏi danh Ngộ, danh Điền đều xưng rằng nhiều lần nó hiệp bọn với danh Bình, danh Sung, có ăn trộm nhà thị Thọ, thị Hợi, danh Trụ, cùng lấy được đồ. Các người ấy đem cả tang phạm cùng đồ ăn trộm tới nha mà nạp, các lời.

Dạy đem tên Lê Văn Ngộ ra giữa nha mà hỏi. Nó khai nó có 34 tuổi, vốn là dân lậu, ở ngụ tại làng Lương Mỹ, cha mẹ nó chết sớm, nó không có anh em. Đêm mồng 10 tháng 11, năm ngoái, có người quen nó, là danh Điền và danh Bình, là người nó không biết họ, không biết làng, tới tại nhà nó, rủ nó đi ăn trộm người trong làng là thị Thọ, lấy đặng chừng 200 cân cau, còn giấu, chưa bán. Rạng ngày 11, thị Thọ theo dấu lấy cau lại được, làm thinh không cho ai hay. Ngày 27 tháng ấy, ban tối, nó với danh Bình, danh Điền, lại hiệp bọn với tên Sung là người nó không biết họ, không biết làng, ăn trộm nhà người trong làng tên là trụ, lấy được 200 cân cau, nói là của ăn cờ bạc, đem bán cho danh Bài cũng là người trong làng đặng 12 quan tiền, chia mỗi  đứa ba quan để mà ăn uống. Đến đêm mồng 4 tháng chạp, nó với danh Bình, danh Điền sắm đồ nghề để mà ăn trộm: chừng qua canh tư lén qua làng Đại Định rình nhà thị Hợi, thấy trong nhà ngủ mê, mới cắt cửa nhà bếp ở phía sau, chun vào lấy đồ, chẳng dè thị Hợi nghe động, thức dậy hô hoán, chúng nó lấy được tài vật thoát ra chạy về nhà nó mà chia tang; phần nó một cái nồi bằng đồng, hai cái gối vải xanh, một tấm trướng vỏ đoạn, 24 thước vải, áo lụa cũ một cái, khăn gói vải một cái; phần danh Điền, bảy thước vải đen, sáu tấc lãnh tàu, lụa trắng hai thước năm, mền vải xanh một cái, một cái áo lụa trắng, dây lưng lụa trắng một đoạn, quần hàng Annam một cái; phần danh Bình, một cái ấm thau, một cái quả tròn sơn đỏ, một lố sắt sống, một bộ rổ may, vòng đồng thòa một đôi; lãnh tàu một đoạn, bốn cái khâu bạc; hai chiếc cà rá mã não, mười nút áo mã não.

Chia rồi, phần ai nấy lãnh cùng đi tản. Qua ngày mồng 6 ban đêm, danh Điền tới nhà nó mà nói chuyện, xảy bị tổng làng đi tuần, soát bắt trong nhà nó, lấy đặng đồ ăn trộm, cùng các món đồ tang.  Chồng thị Hợi là danh Mỹ, nhìn đặng thiệt đồ tang, bắt nó giải nạp. Nay hỏi nó, nó ưng chịu tội, có đi ăn trộm lấy được đồ cùng chia nhau. Còn như bọn nó là danh Bình, danh Sung, đều trốn đi hết, nó không biết họ, không biết làng hai đứa ấy, không biết đâu mà bảo dẫn người đi bắt đi tịch, các lời.

Tra tên Dương Văn Điền, khai niên canh quí  — vì 40 tuổi, ở ngụ lậu tại làng Đại Định, về phần tổng Bảo Khánh. Cha nó là Dương Văn Dõng, ở đồ với danh Nghi, nhà ở tại làng Lương Mỹ, về phần tổng Bảo Thành. Năm ngoái, tháng 11, đêm mồng 10, nó có hiệp bọn với tên Bình là người nó không biết họ, không biết làng qu1an, có ăn trộm của thị Thọ, lấy đặng chừng 200 cân cau, đem giấu chỗ vắng, mà thị ấy theo dấu lấy lại được, thị ấy không hô hoán. Tháng ấy, ngày 27 ban đêm, nó với danh Ngộ, danh Bình, lại hiệp với tên Sung, là người nó không biết họ, không biết làng, ăn trộm cau của danh Trụ 200 cân, bán cho người trong làng, tên là Bài, đặng 12 quan tiền, chia nhau mỗi đứa ba quan để mà tiêu. Đến ngày mồng 4 tháng chạp ban đêm, nó với danh Bình, danh Ngộ, lại ăn trộm nhà thị Hợi, lấy đặng đồ chia nhau. Phần nó: vải đen bảy thước; sáu tấc lãnh tàu nhuộm đỏ; hai thước năm lụa trắng; mền vải xanh cũ một cái; áo lụa trắng một cái; dây lưng lụa trắng một đoạn, quần hàng nam một cái. Vả nhà nó ở gần sự chủ, nó không dám đem về, nó đánh giá tiền, đánh bạc với người đi ghe giang hồ lạ mặt, không biết tên, nó thua hết. Nó còn có bảy thước vải đen, lãnh tàu sáu tấc, hai thước năm lụa trắng, nó đem tới nhà cha nó, nói dối là đồ ăn bạc, giao cho cha nó giữ. Ngày mồng 6 ban đêm, nó tới nhà tên Ngộ mà nói chuyện, xảy bị tổng làng bắt nó với tên ngộ, cùng bắt đặng đồ nghề ăn trộm, tra hỏi nó cùng đem nó tới chỗ cha nó ở đậu tại nhà tên Nghi, lấy đặng thiệt tang y số. Song cha nó nghe bắt, thì đã trốn mất, nó không biết đâu mà dẫn đi bắt. Hỏi nò, nó cam chịu tội có đi ăn trộm cùng lấy đặng đồ, các điều nó khai gần giống như lời Lê Văn Ngộ. Lại khi nó đem đồ tang mà gởi cho cha nó, thì danh Nghi đi khỏi, không hay biết sự gì, các lời.

Hỏi tên Nghi khai niên canh giáp thân 29 tuổi, nhà ở làng Lương Mỹ. Năm ngoái ngày tháng giêng, có người quen nó là Dương Văn Dõng, là cha tên Điền, tới ở đậu nhà nó làm ăn. Vả nó chyên việc đi ghe buôn bán, cho nên khi tên Điền đem của ăn trộm tới mà gởi cho cha tên Điền, nhằm ngày nào, tháng nào, nó không hay biết, các lời.

Hỏi tên Đặng Văn Bài, khai rằng nhà ở làng Lương Mỹ, năm ngoái tháng 11 ngày 28, thấy người trong làng là danh Ngộ và người làng Đại Định, là tên Điền, khiêng 200 cân cau tới nhà nó, nói là cau tụi cờ bạc, bán cho nó, lấy 12 quan tiền; rồi nó bạn lại cho ghe Khách cũng y giá 12 quan. Nay danh Ngộ, danh Điền khai là của ăn trộm, hỏi nó, nó xin chịu tội mua lầm của gian, nó xin đem 12 quan tiền mà nạp; còn như sự các tên kia ăn trộm cau của danh Trụ thể nào, nó không dự biết, các lời.

Hỏi thôn trưởng làng Đại Định, là Huỳnh Văn tại, khai rằng làng nó có Dương Văn Điền ở ngụ, làng nó thấy tên Điền nghèo khổ lắm, không đem vào bộ. Nay hỏi tới làng nó, làng nó xin chịu tội ẩn lậu; còn như tên Điền hiệp bọn với tên ngộ, tên Bình, danh Sung, ăn trộm lấy của chia nhau thể nào, làng nó kh6ong hề hay biết. lại trong làng nó cả sổ dân bộ, dân lậu, đều không có tên, không có mặt danh Sung, không biết đâu mà bắt cho quan, các lời.

Hỏi cai tổng Bảo Thành, là Võ Văn khoa, thôn trưởng Lương Mỹ, là Nguyễn Văn Lợi, hương thân là Nguyễn Đức Bài, cả thảy đều khai y như các lời đã khai trong khi mới giải. Có một mình tên Nguyễn Văn Lợi khai rằng làng nó có người đáo ngụ, là Lê Văn Ngộ, nhà cửa nghèo nàn, cho nên làng nó không đem vào bộ. Nay vâng hỏi tới, nó xin chịu tội ẩn lậu; chí như tên ngộ hiệp bọn với tên Điền, tên Bình, tên Sung, ăn trộm đặng đồ chia nhau thể nào, làng nó không hề hay biết; lại trong sổ dân bộ, dân ngụ làng nó, không có tên, không có mặt tên Bình, tên Sung, không biết đâu mà bắt giải, các lời.

Hỏi sự chủ, là Huỳnh Thị Thọ, khai rằng năm ngoái, tháng 11, ngày mồng 10, ban đêm, thị ấy bị ăn trộm lấy 200 cân cau, đánh giá 12 quan. Rạng ngày mai thị ấy theo dấu, thấy cau còn giấu ngoài bụi, cũng ở nội làng, bèn lấy lại đem về làm thinh không hô hoán. Nay danh Ngộ, danh Điền chịu có ăn trộm cau ấy, thị ấy mới rõ, các lời.

Hỏi Hồ Văn Trụ, khai rằng là dân bộ làng Long Sơn, ở tổng Bảo Hựu, nhà thì ngụ làng Lương Mỹ, mà làm ăn. Năm ngoái ngày tháng 10, Nguyễn Văn Lợi, là thôn trưởng làng ấy, mua đặng 200 cân cau trái, gởi tại nhà nó, phía trước sân, tới đêm 27 tháng 11, cau ấy bị ăn trộm lấy, theo hỏi không ra mối; nay nhờ bắt hỏi ăn trộm, là tên Điền, tên ngộ, đều xưng có ăn trộm mà bán cho danh Bài đặng 12 quan tiền, lại danh Bài chịu có mua cùng chịu trả tiền lại y số; nó với Văn Lợi đã làm đơn lãnh 12 quan tiền ấy rồi, các lời.

Hỏi Nguyễn Thị Hợi, khai rằng năm ngoái tháng chạp, ngày mồng 4, ban đêm chừng canh tư, nhà thị ấy bị ăn trộm lấy của cải các hạng, đánh giá 110 quan 1 tiền. Thị ấy nhìn thiệt đồ tang các hạng trị giá 20 quan 2 tiền, đã có làm đơn lãnh, còn thiếu các món khác thị giá 89 quan 9 tiền nữa, các lời.

Tra sổ tịch ký gia tài Lê Văn Ngộ, trị giá 9 quan tiền; gia tài Dương Văn Điền, trị giá 2 quan vân vân.

Các lẽ trước nầy đã có tra xét theo phép.

Án Đoán
Vâng thẩm Lê Văn Ngộ, Dương Văn Điền đều là dân lậu, du côn, cả gan hiệp bọn với tên Bình, tên Sung, là hai đứa trốn, ăn trộm ba lần, đều lấy đặng của: một lần ăn trộm 200 cân cau của Huy2ng Thị Thọ, trị giá 12 quan, tính ra bạc là 2 lượng, đem đi giấu mà chủ nhà lấy lại đặng; một lần ăn trộm cau của Hồ Văn Trụ, 200 cân, trị giá 12 quan, tính bạc hai lượng; một lần ăn trộm nhà Nguyễn Thị Hợi, lấy đặng tang vật, trị giá 110 quan 1 tiền, tính ra bạc là 18 lượng có dư; tra hỏi nó đều xưng ngay.

Kính y trong luật định tội ăn trộm, có một khoản rằng: “Hễ việc ăn trộm đã làm, mà có được của, thì lấy một chủ làm trọng, tính tang mà luận tội, đứa vi tùng đều giảm một bậc; mới phạm một lần, cũng thích hai chữ thuyết đạo trên cánh tay hữu”, lại chiếu theo bản đồ nói về tang ăn trộm, “hễ mười lượng thì trượng bảy chục, các lời.”

Trừ ra sự hai tên phạm ấy, hai lần ăn trộm cau của Thị Thọ, của Văn Trụ, tang vật không đáng bao nhiêu, tội nhẹ không kể, vâng nghĩ Lê Văn Ngộ, Dương Văn Điền, phải chiếu theo sự một lần ăn trộm nhà Thị Hợi, lấy đặng tang tài, kể ra bạc là 18 lượng có dư, mỗi đứa phải đánh quyết bảy chục trượng, cùng phải thích hai chữ thuyết đạo trên cánh tay hữu, giao về cho làng Lương Mỹ, làng Đại Định kiết lãnh đem vào bộ, chịu sưu sai.

Tên Bình, tên Sung, là đứa có tội ăn trộm hãy còn trốn, và tên Dương Văn Dõng, là cha Dương Văn Điền, chính là người chịu lấy của ăn trộm gởi, ngày nào bắt được, sẽ xét nghĩ.

Tên Phạm Văn Nghi cho Văn Dõng ở đậu tại nhà, lúc Văn Điền đem tang mà gởi cho Văn Dõng giấu trong nhà nó, hỏi quả nó đi khỏi, không hay biết. Tên Đặng Văn Bài mua lầm cau ăn trộm hai trăm cân, giá tiền 12 quan, đã có thâu lại mà thường cho chủ bị ăn trộm, là Hồ Văn Trụ nhận lãnh rồi. Lẽ phải nghị tội các người ấy, song tra ra tên Nghi, tên bài, chắc không hay biết sự gì, cho nên nghị tha cả hai.

Thôn trưởng làng Lương Mỹ, là Nguyễn Văn Lợi, ẩn lậu cho Lê Văn Ngộ; thôn trưởng làng Đại Định, là Huỳnh Văn tại, ẩn lậu cho Dương Văn Điền, vốn chẳng hay kềm thúc, để cho Văn Ngộ, Văn Điền đặng thế hiệp bọn, ăn trộm, chẳng lẽ bỏ qua mà chẳng nói. Vậy Nguyễn Văn Lợi, Huỳnh Văn tại, đều phải chiếu theo luật ẩn lậu một người có gia sản, đánh quyết mỗi tên sáu chục trượng, để mà răn dạy. Người bị ăn trộm cau, như Thị Thọ, Văn trụ, vốn đã đặng bồi thường thì thôi. Còn Nguyễn Thị Hợi, khai mất tài vật các hạng trị giá 110 quan tiền, trừ sự đã lấy được thiệt tang, trị giá 20 quan 2 tiền, còn thiếu 89 quan 8 tiền, cứ sổ tịch phong gia tài Văn Điền, Văn Ngộ, được có 11 quan 8 tiền, cấp thường cho Thị Hợi nhận lãnh, còn thiếu 78 quan 1 tiền, đợi chừng nào bắt đặng các tên còn trốn, thì sẽ đòi mà trả.

Đồ nghề ăn trộm, một cái ruột gà đèn ló, nghĩ phải phá hủy; còn những người khác không mắc trong án nầy, thì không phải nói tới.

Vả chịu tra vụ nầy từ tháng chạp ngày 20, tới năm nay, tháng nầy ngày 28, thì kiết cuộc, kể từ ngày chịu việc cho tới ngày xử việc rồi, là năm tháng 8 ngày, từ ngày sắp ấn cho tới khai ấn, trừ hết 21 ngày; tính 16 ngày cấm tra việc hình, cùng một ngày tháng thiếu, cả thảy một tháng 8 ngày, còn có bốn tháng mà thôi, cũng xin kể luôn ra đây.

Tự Đức năm thứ 6, tháng năm ngày 26.

Ấn Tri phủ Hoằng Trị


Còn tiếp

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 14

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 14Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm này được viết hơn một trăm năm. Lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai nên có nhiều từ cổ, câu chữ khác nghĩa so với hiện nay. Điều này thật hữu ích cho bạn đọc muốn tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ cũng như đời sống thời bấy giờ.

Tôi mạn phép sửa lại phần chính tả (dấu hỏi – ngã) và phân đoạn ngắn hơn; không sửa các từ ngữ thời đó.


115. Án lai lịch bất minh

Tri phủ Hoằng Trị, kiêm lý ấn vụ huyện Bảo HỰu, Bảo An; Thẩm nghĩ:

Năm ngoái, tháng 11, ngày 28, có thôn trưởng, hương hào làng An Bình Đông thuộc tổng Bảo An, giải xưng đêm 27 tháng ấy, chúng nó đi tuần trong làng, có bắt đặng một trai đi đêm không đèn, sau mới biết là Nguyễn Văn Thơ, hỏi ra không biết tông tích là người gì, không dám tha, cho nên phải đem nó tới mà nạp.

Ngày ấy lại có thôn trưởng, hương thân làng An Ngãi Trung, cũng thuộc về một tổng, giải xưng ngày 26 tháng ấy, có thấy một trai lạ mặt, sau biết là Nguyễn Văn Bá, tới trong làng xưng là lính tuyền phong, vâng sai đi thám bắt đứa gian cùng ăn trộm. Làng chúng nó nghi, hỏi tên ấy không có văn bằng, bèn bắt mà nạp, các lời.

Đem hai tên ấy ra mà hỏi.

Một đứa xưng là Nguyễn Văn Thơ niên canh kỷ mão 38 tuổi, không có anh em vợ con, nguyên nó là dân làng Tân Thạnh Trung, về phần tổng Bảo Lộc, nghèo lắm nó đi lưu lạc. Năm ngoái tháng 11, ngày 27, mó tìm tới chợ làng An Bình Đông, kiếm việc làm mướn mà ăn; đêm tối lỡ đàng, xảy bị làng đi tuần bắt. Hỏi đến, nó phải khai ngay, nó không hề có bụng đi làm gian hay là ăn trộm, các lời.

Một đứa xưng là Nguyễn Văn Bá, niên canh mậu tuất 28 tuổi, nguyên là dân làng Lương Mỹ, về phần tổng Bảo Thành, nó không có anh em, vợ con. Năm ngoái tháng 11, ngày 26, nó nhơn nghèo khổ, không biết dựa vào đâu bèn đi xứ khác, kiếm việc làm công mà ăn. Vừa tới làng An Ngãi Trung, đói lắm, nó mới mạo xưng là lính tuyền phong, vâng phép sai đi bộ đạo, họa may làng có đãi cơm cho đặng đi chỗ khác; chẳng dè làng ấy biết việc giả mạo, liền bắt mà nạp. Hỏi đến, nó phải khai ngay, vốn nó không có làm điều hung dữ các lời.

Hỏi thôn trưởng làng Tân Thạnh Trung, là Nguyễn Văn Điền, khai rằng làng nó có tên dân bộ, là Nguyễn Văn Thơ, nghèo khổ không có nhà cửa tại làng, lưu lạc không ở một chỗ. Về sư Văn Thơ đi tới làng An Bình Đông bao giờ, làng nó không rõ.

Hỏi thôn trưởng làng Lương Mỹ, là Nguyễn Văn Lợi, khai chịu làng nó có tên Nguyễn Văn Bá, nghèo, không có anh em, nhà cửa tại làng. Tên ấy không ở một chỗ. Còn sự tên Bá đi tới làng An Ngãi Trung, giả là lính thể nào, làng nó không hiểu biết.

Tra hỏi các lẽ rồi.

Xét Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Văn Bá, đều là dân nghèo nàn, đi tới chỗ khác, kiếm việc làm thuê mướn cho có hột cơm mà ăn, té ra không yên bổn phận; tên Nguyễn Văn Thơ, đêm khuya đi không đèn, tuy chưa tỏ tình gian, mà không khỏi lẽ gian; Nguyễn Văn Bá lại mạo xưng là binh tỉnh sai đi bắt hung phạm, giả trá thinh thế cho được kiếm ăn, không có ý làm ra tờ trát. Cả hai đều là đứa du đảng, không lo việc làm ăn rõ ràng.

Nếu lấy một sự trong luật lệ không có điều rõ ràng, mà tha bổng nó đi, thì e lỗi trong sự rộng quá; vậy việc tên Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Văn Bá, phải chiếu theo mặt luật bất ưng trọng, xử quyết mỗi đứa 80 trượng, để làm gương răn dãy, lại giao cho làng quán nó, làm giấy lãnh đem về quản thúc.

Về sự thôn trưởng làng Tân Thanh Trung, là Nguyễn Văn Điền; thôn trưởng làng Lương Mỹ, là Nguyễn Văn Lợi, sét ra Văn Thơ, Văn Bá đi chỗ khác làm việc chẳng phải, chúng nó vốn không hiểu biết, đều cho miễn nghị.

Tự Đức năm thứ 6 tháng giêng ngày 12

Ấn huyện Bảo An.


Còn tiếp

Related Images:

 

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 13

Huỳnh Tịnh Của – Chuyện giải buồn (Cuốn 2) – Phần 13Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm này được viết hơn một trăm năm. Lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai nên có nhiều từ cổ, câu chữ khác nghĩa so với hiện nay. Điều này thật hữu ích cho bạn đọc muốn tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ cũng như đời sống thời bấy giờ.

Tôi mạn phép sửa lại phần chính tả (dấu hỏi – ngã) và phân đoạn ngắn hơn; không sửa các từ ngữ thời đó.


114. Án bẩm về việc ăn trộm

Nhiếp biện ấn vụ phủ Hoằng Trị, ti chức là …

Kính đem việc tra hỏi, kiết nghĩ về sự ăn trộm có tang, các duyên do làm sách bẩm tỏ. Số là ngày mồng 2 tháng 5 năm nay, có cai tổng Bảo Hựu, là Huỳnh Văn Lưu, dịch mục làng Bình Nguyên, là Phạm Văn Đăng, Trần Văn Nghiêm, thôn trưởng làng Mỹ Hóa, là Huỳnh Văn Nghĩa, dịch mục là Nguyễn Văn Nghiêm, giải vụ ăn trộm cùng xưng rằng “người ngụ làng Mỹ Hóa, là Nguyễn Văn Trí, đêm 24 tháng 4, bị ăn trộm có làm tờ cớ, qua ngày 27 tháng ấy, nhìn đặng tang, bắt đặng phạm là Hạ Văn Trước và Mai Văn Sanh, các người ấy phải giải cả tang cả phạm tới nha mà nạp, các lời.”

  1. Hỏi Hạ Văn Trước, Mai Văn Sanh đều xưng có ăn trộm nhà Nguyễn Văn trí, chưa kịp phân tang; đến khi tổng làng hỏi, Văn Trước có đem tang ra mà nạp. Ti chức cứ lệ, sai người đi tịch ký, đoạn lấy lời cung khai, lập lời thẩm nghĩ, t1om tắt các việc cả thể ra sau nầy:

Hỏi Hạ Văn Trước khai niên canh mậu dần 34 tuổi, ở lậu tại làng Bình Nguyên, cha nó chết sớm còn mẹ điếc ở một nhà, làng thấy nó nghèo khổ, không đem vào bộ; nó có nghề làm rẫy. Nó thường chơi với Mai Văn Sanh, nó biết tên Nguyễn Văn Trí, ở ngụ làng Mỹ Hóa giàu có, nó rủ tên Sanh đi ăn trộm đỡ nghèo, tên Sanh nghe lời. Vậy ngày 24 tháng tư, chừng canh một, nó cắp một cái dao nhọn, một đoạn con cúi rơm, tới kêu tên Sanh cầm một cái đoản côn bằng tre, đi thẳng tới nhà Văn trí. Chừng canh tư, rình coi trong nhà ngủ mòm, nó cắt cửa sau, chun vào nhà trong, vung cón cúi nháng, thấy một cái rương không khóa, nó men lại lấy đồ đem ra giao cho Văn Sanh; chẳng dè chủ nhà nghe động, thức dậy hô hoán, nó thoát ra, ôm tang về nhà, thì trời rựng sáng, không dám chia; tên Sanh cũng chịu để vài bữa sẽ chia, rồi sấp lưng ra về. Nó coi lại thì là ba cây nho điều; một cây nho quang lục; côt cây nho tím; lụa trắng một cây 15 thước; lụa đỏ hai đượng; quần nho đỏ một cái; một bức mền hàng nâu trong lót lụa đỏ; hàng tím Annam 15 thước; khăn nhiểu đen ba luông; quàn trắng cũ ba cái; quần lụa nâu một cái; quần hàng đỏ một cái; quần lụa trắng một cái; khăn nhiễu thanh một luông; lụa đỏ 4 đượng; dây lưng lụa đỏ ba cái; áo nho rộng hai cái; áo vân tím rộng một cái; áo lụa trắng rộng hai cái; lụa đỏ một cây; quần lãnh thanh một cái; quần lãnh đen một cái; áo lụa chẹt một cái; áo xanh chẹt hai cái; áo xanh rộng một cái; áo lụa trắng rộng một cái; áo trường xanh một cái; áo lụa nâu chẹt một cái; áo lương quảng rộng một cái; vải tây bông đỏ một bức; hàng bông dâu Cao-mên một bức, nó lấy một cái mền hàng gói các món hàng ấy làm một, nó sợ nhà trống trải, tới tối nó đem giấu ngoài bụi. Khi ấy Văn Trí cáo quyết cho nó và Văn Sanh ăn trộm, tổng làng bắt nó tới, nó tính giấu không nhẹm, bèn thú thiệt, về nhà lấy đồn tang đem tới mà nạp lại. Văn Trí nhận quả là đồ bị ăn trộm, còn thiếu một đôi bông tai vàng; nhiễu nhuộm tím một đượng; nhiễu đen một khăn dài; các vật ấy hoặc khi nó ôm đồ mà chạy, nó làm rớt đâu không biết. Lại bắt nó đi chỉ con dao nó cầm mà đi ăn trộm, thì nó đã đem ra mà nạp. Nay hỏi tới, nó khai ngay các điều.

Hỏi Mai Văn Sanh khai niên canh kỷ mão 33 tuổi, nguyên là dân làng An Thới, tổng Minh Huệ, huyện Duy Minh, Phủ Hoằng An, về hạng tàn tật, cha mẹ nó chết sớm, anh em không có, nó có nghề buôn bán hàng vặt. Thiệu Trị năm đầu, nó nghèo lắm, qua ngụ làng Bình Nguyên, về tổng Bảo Hựu, có chịu xâu góp cho làng. Nó quen biết Nguyễn Văn Trí. Ngày 24 tháng tư năm nay, ban đêm chừng canh tư, nó với Hạ Văn Trước có ăn trộm nhà Nguyễn Văn Trí, lấy được của mà chưa chia. Nó có đem ra một đoạn tre, chịu là vật nó cầm làm binh trượng. Lại những đồ tang là vật gì, còn để tại nhà Văn Trước, nó không biết, một đôi bông tai cùng các vật còn thiếu, nó tưởng hồi ôm đồ mà chạy về, rơi rớt dọc đàng, nó không biết rõ. Các lời khai khác cũng y như lời Hạ Văn Trước.

Hỏi dịch mục làng Bình Nguyên đồng khai rằng: Ngày 29 tháng tư có Nguyễn Văn Trí tới thưa rằng bị ăn trộm, nghi quyết cho Hạ Văn Trước và Mai Văn Sanh, là người ngụ trong làng. Các dịch mục hiệp cùng cai tổng Bảo Hựu, là Huỳnh Văn Lưu, bắt Hạ Văn Trước và Mai Văn Sanh, lấy đặng tang tài, nên phải giải nạp; các lời khác cũng y lời giải. Vả Văn Trước là một tên dân cùng, cho nên làng chúng nó không đem vào bộ; còn Mai Văn Sanh là dân làng An Thới, về huyện Dinh Minh, tới ngụ tại làng, có cất nhà làm ăn. Về sự hai đứa ấy, hiệp bọn đi ăn trộm, việc làng không được biết. Làng chúng nó một chịu tội không hay giác sát, cùng để Văn Trước ở lậu, các lời.

Hỏi dịch mục làng Mỹ Hóa khai rằng năm trước có Nguyễn Văn Trí, là người làng Mỹ Thành, về tổng Bảo Nghĩa, tới ngụ trong làng. Đêm 24 tháng tư, Nguyễn Văn Trí bị ăn trộm, có hô hoán, chúng nó đem dân tới, thấy có dấu ăn trộm rõ ràng; chúng nó có hiệp cùng làng bàn cận là làng Bình Nguyên, mà thị tờ cớ. Nay bắt đặng Hạ Văn Trước, và Mai Văn Sanh, quả là ăn trộm, làng chúng nó chịu lỗi trong việc tuần phòng.

Tư hỏi chuyện Duy Minh phúc thơ rằng: “Thôn trưởng làng An Thới khai xưng Mai Van Sanh thiệt là dân bộ. Thiệu Trị năm đầu, không nhớ ngày tháng, Văn Sanh nhơn nghèo khổ, qua ngụ làng Bình Nguyên. Văn Sinh có chịu sưu thuế cho làng, chí như sự Văn Sanh ăn trộm thể nào, làng nó không hiểu biết.”

Hỏi sự chủ Nguyễn Văn Trí, khai là dân bộ làng Mỹ Thành, về tổng Bảo Nghĩa, qua ngụ làng Mỹ Hóa về phần tổng Bảo Hựu. Ngày 24 tháng 4 năm nay, ban đêm chừng canh tư, nó bị ăn trộm cắt cửa sau, vào lấy tài vật, nó nghe động, thức dậy thắp đèn hô hoán, Dịch mục làng Mỹ Hóa cùng làng Bình Nguyên có thị tờ cớ cho nó. Qua ngày 27 tháng ấy, làng tổng bắt đặng ăn trộm cùng lấy đặng đồ tang. Các lời khác đều y như lời tổng làng khai khi giải nạp. Đồ nó bị ăn trộm cả thảy trị giá 345 quan 5 tiền, đồ lấy lại được trị giá 320 quan 5 tiền, nó đã làm đơn lảnh rồi. Còn thiếu bông tai một đôi, khăn nhiễu tím một đượng, khăn nhiễu đen một đượng, cả thảy trị tiền 25 quan, các lời.

Tra sổ tịch ký gia sản Hạ Văn Trước, Mai Văn Sanh, cả thảy trị tiền 23 quan 8 tiền 30 đồng.

Các lẽ khai biên rõ ràng.

Vâng thẩm tên Hạ Văn Trước là một tên dân cùng, không an phận, dám tạo ý hiệp bọn với Mai Văn Sanh, ăn trộm nhà Nguyễn Văn Trí, chưa kịp phân tang, tổng làng bắt đặng, đem tang ra mà nạp; đến khi tra hỏi, đều xưng rõ ràng, chắc là đứa có tội.

Kính y theo luật nói về ăn trộm: “hễ việc ăn trộm đã làm mà không đặng của, thì xử đòn 50, khỏi thích tự; nếu có đặng của, thì lấy một chủ làm nặng, tính tang mà luận tội, đứa vi tùng đều giảm một bậc, mới phạm một lần cũng đều thích trên kiến tay hữu, hai chữ thuyết đạo”

Lại chiếu theo bản đồ kể tang: Tang 50 lup75ng, trượng 60, đồ một năm, các lời.

Vả Văn Trước, Văn Sanh ăn trộm lấy được tang trị tiền 345 quan 5 tiền, tính ra bạc thì là 57 lượng có dư. Vân nghĩ tên Hạ Văn Trước là đứa tạo ý làm đầu vụ ăn trộm, phải y theo luật xử trượng 60, đồ một năm; tên Mai Văn Sanh giảm một bậc, phải trượng một trăm. Cả hai đứa đều phải khắc hai chữ thuyết đạo trên cánh tay hữu.

Tên hạ Văn Trước còn là dân lậu, mãn đồ rồi, sẽ giao cho làng nó ngụ đem vào bộ, chịu sưu sai; tên Mai Văn Sanh sử trượng thích tự rồi, giao cho làng chánh quán nó, nhận lãnh quản thúc. Thôn trưởng làng Bình Nguyên chứa dân lậu lại không hay xem xét, để Hạ Văn Trước, Mai Văn Sanh hiệp bọn mà ăn trộm; thông trưởng làng Mỹ Hóa không lo tuần phòng, để cho ăn trộm vào làng lấy của người ta, đều là đáng tội; trừ một khoảng ẩn lậu, là tội nhẹ, cứ theo lệ Tra tập bất lục, phải làm tội cả hai thôn trưởng, ưng xử mỗi tên là 80 trượng để làm gương răn dạy. Chí như thôn trưởng làng An Thới, dầu Mai Văn Sanh là dân bộ nó, song tra ra Mai Văn Sanh, quả ngụ làng khác xa, việc Văn Sanh làm nó không biết, nên xin miễn nghỉ cho nó.

Còn sự chủ là Nguyễn Văn Trí bị ăn trộm các hạng tính tiền là 345 quan 5 tiền, mà đã lấy lại được, còn thiếu 25 quan; chiếu theo sổ tịch ký, gia tài Văn Trước, Văn Sanh được 23 quan 8 tiền 30 đồng, phát mãi trả cho Văn Trí làm đơn lãnh, còn thiếu ít nhiều phải bỏ. Còn các kẻ khác, xét không can thiệp, chẳng luận.

Riêng nghĩ các lẽ, chưa biết đáng hay là không đáng, dám làm sách đưa lên, hầu vâng xét lại.

Tự Đức năm thứ 4, tháng 6 ngày mồng 10.

Ấn tri phủ Hoằng Trị.


Còn tiếp

Related Images: