Huỳnh Tịnh Của – Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn 1897 – Thơ

Vài lời từ người đánh máy

Sách Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn – được phát hành năm 1897. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1897, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Tục ngữ - Cổ ngữ - Gia ngôn 1897 - ThơBiên tập những lời

Ngạn ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn


Thơ Con trâu

Mài sừng cho lắm cũng là trâu;

Gẫm lại mà coi thật lớn đầu.

Trong bụng lam nham ba lá sách;

Ngoài cằm lém đém một chòm râu.

Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy:

Làm lễ bôi chuông giớn giác sầu.

Nghé ngọ một đời quen nghé ngọ,

Năm dây đờn gảy biết nghe đâu.


Thơ Con Rận

Mặt mũi mần ri cũng có râu;

Cả đời chẳng biết dụng vào đâu,

Xơn xao trên mão chưa nên mặt;

Lục đục trong chăn cứ giục đầu.

Khuấy ngứa gầy dân chi khác mọt;

Uổng công béo nước chẳng bằng trâu.

Khéo sinh cho nhộn trong trời đất.

Có có không không cũng chẳng cầu.


Thơ Cá Thia Thia

Đồng loại sao ngươi chẳng ngỡ ngàng;

Hay là một lứa phải kình gan.

Trương vi so đọ vài gang nước;

Đâu miệng hơn thua một tất nhang.

Chưa được bao lâu đà tróc vảy;

Cũng trong giây phút lại phùng mang;

So tài cửa võ chưa nên mặt;

Cắc cớ khen cho cũng nhộn nhàng.


Thơ trăng non

Khen ai cắc cớ bấm trời tây;

Tỉnh thức Hằng Nga khéo vẽ mày.

Một phiến lênh đênh trôi mặt nước;

Nửa vành lững đững dán chơn mây.

Cá ngờ đâu thả tơi bời lội;

Chim ngỡ cung trương sập sận bay.

Miệng thế chớ chê rằng chếch mác,

Một mai tròn trịa bốn phương hay.


Thơ cây Vông

Uổng sinh trong thế mấy thu đông;

Đồ sộ làm chi vông hỡi vông.

Rường xoi cột trổ chưa nên mặt;

Giậu mo3nh rào thưa phải dựng lòng.

Da thịt chẳng già, già mắt mĩu;

Ruột gan chẳng có, có gai chông.

Cho biết cây nào bông trái ấy;

Xuân qua bớn tớn cũng đơm bông.


Thơ con Muỗi

Muỗi hỡi mầy sanh giáp tí nào;

Đã tầng trải khắp chốn thanh thao.

Ngày xanh đủng đỉnh chơi thềm ngọc;

Đêm vắng xung xăng ấp má đào.

Ghẹo kẻ Hằng Nga cơn giấc điệp;

Trêu người thần nữ thuở chiêm bao.

Béo miệng chẳng thương con trẻ dại;

Ngang hông nào tưởng chúng dân nghèo.


Thơ lão Kị đi tu

Chày kình dộng tỉnh giấc Vu San,

Mái tóc qui y nửa trăng vàng.

Đài kính thử soi màu phấn lợt;

Cửa không trộm gởi chút xuân tàn.

Tỉnh hồn hoa liễu vài câu kệ;

Nương bóng tang du một chữ nhàn.

Ngảnh mặt lầu xanh xem những trẻ,

Trầm luân chưa khỏi kiếp hồng nhan.


Đôi liễn ông Lãnh binh ăn Tết

1 – Tam phẩm dĩ thượng, kì quan viết vinh, màn treo trướng phủ chi trung: hèo gươm bịt bạc, võng lá sắn, quân kiệu bố hàng hai, năm bảy phòng trà theo chón hón.

2 – Tứ thì chi thủ, ư quái vi thới, liễn dán nêu lên chi hạ: nem thịt kho tàu, bánh nhuân dừa, củ hành nhai miếng một, đôi ba chén rượu đánh xình xoàng.

———————-  Hết sách ————————–

Related Images:

Huỳnh Tịnh Của – Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn 1897 – Phụ sót

Vài lời từ người đánh máy

Sách Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn – được phát hành năm 1897. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1897, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Tục ngữ - Cổ ngữ - Gia ngôn 1897 - Phụ sótBiên tập những lời

Ngạn ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn


Phụ sót

  1. Ai đầy nồi nấy.

Ai có phần nấy. Có câu rằng: giàu cha giàu mẹ thì ham, giàu anh giàu chị, ai làm nấy ăn.

  1. Ăn hả hả, trả ỷ ỷ.

Ăn thì mầng trả thì sợ.

  1. Ăn ở xởi lởi ông trời gởi cho.

Hay làm phước thì phải gặp phước.

  1. Ăn sẻ sẻ đẻ ông voi.

Ăn ít thua nhiều; (cờ bạc).

  1. Ăn trầu cách mắt.

Nói về sự cho chác, kẻ thâm người thù.

  1. Ăn trầu gẫm.

Suy nghĩ việc đời.

  1. Ba mươi tuổi, sáu mươi quen.

Càng thêm tuổi, càng nhiều quen biết.

  1. Bán trời không chứng.

Ngược xuôi, tai quái trong đời.

  1. Bất cận nhơn tình.

Chẳng gần tánh ý người; ăn ở một mình một thế, chẳng biết xét nghĩ sự đời.

  1. Bốn biển gầy nên một nhà.

Sự thể sum vầy, hóa ra thân cận.

  1. Cá tươi thì xem lấy mang, người khôn xem lấy hai hàng tóc mai.

Ấy là một phép coi tài tướng.

  1. Cát nhơn thiên tướng.

Người có phước, Trời hằng chở che.

  1. Cha chài chú chớp.

Đầu coi đuôi chuột (chóp ấy là chóp chài).

  1. Cha hắn lú chú hắn khôn.

Chẳng lẽ dại hết cả nhà.

  1. Chẻ trẻ nghe lóng.

Việc có không, phải nghe cho hẳn.

  1. Chén trong hú chén ngoài.

Thấy rượu thì uống, say sưa quá độ.

  1. Chim nhát là chim sống lâu.

Tiếng cười người hay sợ chết.

  1. Chờ cho đến mạ má đã sưng.

Chữ mạ hiểu là mẹ, hiểu là làng, cho đến làng thì việc đã rồi. (Nói về sự ẩu đả).

  1. Chưa có gió, mõ đã rung.

Rộn ràng thái quá.

  1. Cơm Nai, Rịa; cá Rí, Rang.

Gạo lúa đều nhờ đất Đồng Nai, Bà Rịa; con cá thì nhờ đất Phan Rí, Phan Rang.

  1. Con dại cái mang.

Ấy là tội qui vu trưởng.

  1. Con một cháu bầy.

Ấy gọi là nhà có phước.

  1. Cùng mẹ thì xa, cùng cha thì gần.

Con một cha thì là một giống.

  1. Đa sự đa lự.

Đa mang nhiều việc, thì nhọc lòng lo.

  1. Đầu đen máu đỏ.

Dân trời tôi vua, ấy là dân dữ dân tề.

  1. Đem quỉ về phá nhà chay.

Bình yên không muốn, muốn cho hư hại.

  1. Điền liên canh gia liên cư.

Phép bán nhà đất phải vị kẻ ở gần.

  1. Đói ăn bánh vẽ, chiêm bao thấy vàng.

Bánh vẽ ăn không đi, vàng chiêm bao không có; cả thảy là đều hư giả.

  1. Đời xưa trả báo mà chầy, đời nay trả báo một giây nhãn tiền.

Ấy là báo ứng nhãn tiền, hay là báo ứng trước mắt.

  1. Giàu trẻ chớ mầng khó trẻ chớ lo.

Đàng đi ở đời hãy còn xa xác, có giàu cũng không nên ỷ, có nghèo cũng đừng sợ, cũng là tiếng khuyên khích.

  1. Kẻ ăn mắm, người khát nước.

Gánh vác chuyện vô can; kẻ ăn người chịu.

  1. Kẻ tham công người tiếc việc.

Kẻ muốn cho đặng việc, người lại tiếc công.

  1. Kẻ thâm người thù.

Kẻ hậu người bạc.

  1. Không voi bò làm lớn.

Túng phải dụng đỡ; chưa gọi là lớn.

  1. Lính ban mai cai lính ban chiều

Ma cũ ăn hiếp ma mới.

  1. Ma cũ ăn hiếp ma mới.

Kẻ tầng việc ăn hiếp kẻ còn bợ ngợ.

  1. Mặt chai mày đá.

Lỳ lượm chẳng biết xấu hổ.

  1. Nghị huyệt tri thủy.

Con kiến biết chỗ có nước mà làm ổ.

Thuở xưa ông Quản Trọng đi đánh giặc phương xa, quân lính khát nước, người dạy coi chỗ nào có hang kiến, đào xuống thì có nước. (Đối câu lão mã tri đạo.)

  1. Nước gáo tắm cho voi.

Nước múc từ gáo nhỏ mà tắm cho voi, chỉ nghĩa là chẳng thấm tháp.

  1. Oan gia nghi giải bất nghi kiết.

Tiếng khuyên người đời phải làm hòa chẳng nên gây oán gây thù.

—————— Chung ———————

Related Images:

Huỳnh Tịnh Của – Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn 1897 – Chữ X

Vài lời từ người đánh máy

Sách Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn – được phát hành năm 1897. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1897, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Tục ngữ - Cổ ngữ - Gia ngôn 1897 - Chữ XBiên tập những lời

Ngạn ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn


Chữ X

  1. Xả cận cầu viễn.

Bỏ gần tìm xa. Khinh việc trước mắt, kiếm tìm việc cao xa.

  1. Xa mỏi chân gần mỏi miệng.

Nói về việc cư xử trong thân, xa thì khó bề thăm viếng, gần thì mắc lời ăn tiếng nói.

  1. Xa tải đấu lương.

Xe chở đấu lường. Vật phải đong chở thì là vật bề bội. Người giỏi thì có ít, người dở thì là xa tải đấu lương.

  1. Xanh râu là chúa, bạc đầu là tôi.

Tước, xỉ, đức, nghĩa là quyền tước, tuổi tác, đức hạnh là ba bậc trọng; nội trong ba bậc ấy, quờn tuớc thuờng nằm về bậc nhứt.

  1. Xảo giả đa lao chuyết nhàn.

Có câu nôm rằng: khéo làm tôi vụng, vụng nỏ làm tôi ai. Xảo giả lao chuyết giả dật.

  1. Xấu chữ mà lành nghĩa.

Chữ là bề ngoài, nghĩa là bề trong; ví người không có vẻ lịch sự, mà trong thì có bề đức hạnh tài năng.

  1. Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ.

Xấu mà hay sửa soạn, thì là biết xấu mà che; dốt mà muốn làm mặt hay chữ, là thấy lịch sự mà bắt chước.

Có câu rằng: Khắc hoạch Vô Diêm, đàn đột Tây Thi, cũng về một nghĩa ấy.

Vô Diêm là một người con gái nước Tề, xấu hình xấu dạng không ai muốn ngó. Tây Thi là tên ấp, đờn bà ở đó rất xinh tốt, mỗi lần ôm lòng nhăn mày, thì ai nấy đều cam động; đờn bà Đông Thi cũng bắt chước ôm lòng nhăn mày mà bị chúng ghét.

  1. Xấu bát dĩa đồ ăn cũng vậy.

Quí tại đồ ăn, chẳng phải tại bát dĩa. Thường hiểu ra nghĩa trái, tiếng nói chơi.

  1. Xấu lá xấu nem, xấu em xấu chị.

Đều chỉ nghĩa là xấu lây.

  1. Xấu Phù Ly xấu Tuy Viễn.

Phù Ly, Tuy Viễn là hai huyện ở tại Qui Nhơn giáp giái với nhau, xấu huyện nầy, xấu tới huyện khác, nghĩa là xấu lây.

  1. Xe dây buộc mình.

Mình bó buộc lấy mình hoặc làm cho rối mình.

  1. Xé tay vá vạt.

Ấy là sự thế nghèo nàn, thiếu trước thiếu sau.

  1. Xứ xứ hữu anh hùng.

Đâu đâu cũng có người anh tài. Hà địa bất sanh tài.

  1. Xuân bất tái lai.

Ai nấy chỉ có một thì xuân xanh. Con người ta sanh ra hai mươi tuổi thành đinh, ba mươi tuổi nhi lập, bốn mươi tuổi bất hoặc, năm mươi tuổi tri thiên mạng, sáu mươi tuổi nhĩ thuận, bẩy mươi tuổi trung thọ, tám mươi tuổi sấp lên thượng thọ.

Tuổi xuân xanh từ hai ba mươi cho tới bốn mươi lên xuống, quá tầng ấy thì cân cốt khí lực, lần lần phải suy giảm.

  1. Xuất hồ nhỉ, phản hồ nhỉ.

Ra nơi mầy, trở lại nơi mầy: có vay có trả, việc tại nơi mình.

  1. Xuất kì bất ý.

Nghĩa là làm thình lình, lừa khi người vô ý.

  1. Xướng ca vô loại.

Ca xướng không có phép. Hát là nhắc cổ tích: con hát khi làm vua, khi làm tôi, khi giả vợ, khi giả chồng. Ca xướng có điều thanh, có điều tục, không lẽ câu chấp việc lễ nghi.


Hết chữ X.

Related Images:

Huỳnh Tịnh Của – Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn 1897 – Chữ V

Vài lời từ người đánh máy

Sách Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn – được phát hành năm 1897. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1897, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Tục ngữ - Cổ ngữ - Gia ngôn 1897 - Chữ VBiên tập những lời

Ngạn ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn


Chữ V

  1. Vạch lá tìm sâu.

Xét nét từ điều.

  1. Vải thưa che mắt thánh.

Làm chuyện dối mắt, che miệng thế gian.

  1. Văn hay chẳng luận đặt dài.

Nghe qua cũng biết hay dở.

  1. Vắn cổ kêu chẳng thấu trời.

Oan ức không chỗ kêu.

Có câu rằng: Oan nầy còn một vạch trời kêu lên.

  1. Vận nghèo đi tới chỗ mô cũng nghèo.

Cầm gươm chém khó, khó theo sau.

  1. Vạn sự khỉ đầu nan.

Muôn việc khởi đầu khó.

  1. Vấn xá cầu điền, nguyên vô đại chí.

Hỏi nhà hỏi ruộng, vốn không có chí cả. Người có chí có phải tìm việc cao xa.

  1. Vắng chủ nhà, gà bươi bếp.

Có ý nói về tôi tớ, vắng chủ thì tung hoành làm quấy.

  1. Vàng thật chẳng sợ chi lửa.

Lòng mình ngay thẳng chẳng phải sợ sự gì.

  1. Vật bất ly thân.

Vật chẳng lìa mình, người đâu của đó.

Có câu rằng: Mạng tàng hối đạo,dã dung hối dâm. Nghĩa là của để bơ thờ, thì giục cho kẻ trộm lấy; trau hình chuốt dạng, thì làm cớ cho sang điều tà dâm.

  1. Vật bất tề vật chi tình dã.

Vật chẳng đều thì là tánh tình tự nhiên nó. Ấy là lời ông Mạnh Tư luận về vật giá có trọng khinh chẳng đồng, mà suy ra các vật tự nhiên cảm âm dương ngũ hành mà hóa ra, thì chẳng giống vật có tay thầy thợ làm nên.

  1. Vắt chày ra nước.

Chặt chịa thái quá.

  1. Vật khinh tình trọng.

Vật nhẹ mà tình nặng; vật dĩ biểu tình, quí tại lòng không quí tại vật: lại hiểu là vật hèn mà công hiệu lớn, như thuốc trị bịnh v.v.

  1. Vật qui cổ chủ.

Vật về chủ cũ. Vật đều có chủ; không phải của mình, thì là của kẻ khác, mình không đặng làm chủ. Người ta hay nói: Của Thiên trả cho Địa, của Bụt thiếu cho Bụt.

  1. Vĩ đại bất trạo.

Đuôi lớn không vẫy vùng. Chỉ nghĩa là trên yếu dưới mạnh. Phép trị nước phải cho Cường cán nhược chi, nghĩa là cây mạnh nhánh yếu.

  1. Vì đầu heo gánh gộc chuối.

Vì Nghĩa phải mà chịu lấy việc không tử tế.

  1. Cị uyên khu ngư, vị tòng khu tước.

Vì vực sâu đuôi cá thì là con rái, vì rừng rậm lùa chim tước thì là chim bà cắt. Hiểu nghĩa là làm lợi cho kẻ khác, như Kiệt, trụ bất nhơn đuổi dân về Thang, Võ.

  1. Vị tri sanh, yên tri tử.

Chưa biết sống, đâu biết chết.

Thầy Tử Cống hỏi đức Phu Tử về thân sau, đức Phu Tử trả lời rằng: Thân sống chưa biết, lẽ gì biết được thân chết.

  1. Việc làm thì nhác, việc ác thì siêng.

Ấy là tiếng mắng đứa làm biếng mà hay khuấy.

  1. Việc người thì sáng, việc mình thì quáng.

Ai nấy lâm tới việc, thì tối tính. Lại họa lai thần ám.

  1. Viễn thủy nan cứu cận hỏa.

Nước xa khôn cứu lửa gần, cho nên viễn thân bất như cận lân; nghĩa là bà con xa chẳng bằng láng giềng gần.

  1. Vịt già gà tơ.

Vịt để lâu năm, gà vừa đứng lứa, đầu là vật ăn ngon.

  1. Vịt nghe sấm.

Lỉnh lãng, không biết nghe.

  1. Vô cai quản bất đắc hành hạ.

Có phần cai quản mới đặng sai khiến. Kẻ lớn cai quản con trẻ thì là thượng áp hạ.

  1. Vợ chết thật vợ mình.

Mình chết trước thì vợ mình người khác lấy, con mình người khác chưởi, của cải mình người khác dùng, ruộng đất mình người khác cày, ngựa mình người khác cỡi, ấy là lời ông Tăng Tử vỗ bồn mà ca khi vợ chết.

  1. Vợ chồng như áo bận vào cổi ra.

Sự thể phải đổi thay, đối với câu: huynh đệ như thủ túc.

  1. Vô chứng bất thành tụng.

Không chứng không nên việc kiện.

  1. Vô cố nhi đắc thiên kim bất tạo đại phước tất hữu đại họa.

Không cớ mà đặng ngàn vàng, chẳng gặp phước lớn, ắt có họa lớn. Của vô cớ là của đem tới thình lình hoặc không cầu mà đặng, hay là của gian.

  1. Vô địa lập chùy.

Không đất cặm dùi. Nghĩa là nghèo lắm.

Có câu rằng: Tích niên do hữu lập chùy địa, kiêm niên liên chùy dã cô. Nghĩa là năm trước còn có đất cặm dùi, năm nay cả đất cặm dùi cũng không có.

  1. Vô hoạn nạn bất anh hùng.

Ấy là Anh hùng đa hoạn nạn. Hữu thử thân hữu thử khổ

  1. Vô đậu bất thành nhơn.

Mỗi một người đều phải nên trái giống một lần; nên trái giống rồi, mà khỏi tật bịnh hiểm nghèo, thì mới gọi là thành nhơn.

  1. Vô hữu bất như kỉ dã.

Chớ làm bạn với kẻ chẳng bằng mình. Có ích hữu, tổn hữu người không ngoan hiền đức thì là ích hữu. Không tài đức hơn mình, không làm sự phạm cho mình đặng thì là không bằng mình.

  1. Vô phược kê chi lực.

Không sức trói gà, nghĩa là yếu đuối quá.

  1. Vô quan nhứt thân khinh, hữu tử vạn sự túc.

Không làm quan thì là nhàn rảnh; có con muôn việc đủ, chỉ nghĩa là có con thì lấy làm vui hơn hết.

  1. Vô thái quá bất cập.

Phải giữ mực thích trung.

  1. Vô tiểu nhơn bất thành quân tử.

Không có tiểu nhơn thì không thành cho người quân tử. Lãi có câu rằng: không có quân tử thì ai khiến tiểu nhơn. Trí, ngu, hiền bất tiếu đều nương nhờ nhau.

  1. Vô trung sanh hữu.

Chuyện không có làm cho có; đặt điều, sanh chuyện.

  1. Vô tửu bất thành lễ.

Lễ phép Annam trong việc kiện thưa, cưới hỏi đều phải có rượu: khi có mời thỉnh hay là thưa chốt chuyện gì thì thường có cơi trầu chén rượu. (Ấy là nói về phép làng).

  1. Vô vận bất năng tự đạt.

Con người ta làm nên, thì là nhờ vận.

  1. Voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa.

Đồng là một phe một bọn thì thuộc biết tình ý nhau; như kẻ trộm biết kẻ trộm.

  1. Vọng tự tôn đại.

Mình tôn mình làm lớn. Tự tác thông minh; khinh thế ngạo vật; miệt thị thiên hạ; mục hạ vô nhơn, đều về một nghĩa tự kiêu, lấy mình làm hơn mọi người.

  1. Vu phản tội đồng.

Kẻ cáo gian mắc luật phản tọa: làm cho kẻ bị cáo phải tội gì, thì mình phải chịu tội ấy.

  1. Vúc vắc hoặc xắc vắc như mặt đánh bồng.

Bộ húc hất không nên nết.

  1. Vui đâu chúc đó.

Ham chơi sa đà chẳng nghĩ tới việc nhà.

  1. Vụng múa chê đất lệch.

Phản cầu như thân, phải trách nghề mình chưa tinh.

  1. Vườn rộng chớ khá trồng tre là ngà; nhà rộng chớ chứa người ta ở cùng.

Ấy là phòng về sự đông người ở, hay sinh điều bất bình.


Hết chữ V.

Related Images:

Huỳnh Tịnh Của – Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn 1897 – Chữ U

Vài lời từ người đánh máy

Sách Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn – được phát hành năm 1897. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1897, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Tục ngữ - Cổ ngữ - Gia ngôn 1897 - Chữ UBiên tập những lời

Ngạn ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn


Chữ U

  1. Uyển nhục y sang

Cắt thịt chữa chỗ đau sang độc, nghĩa là túng mà làm đỡ, Y đắc nhạn tiền sang, bát khước tẩm đầu nhục. Muốn làm thuốc ghẻ trước mắt, phải cắt thịt đầu trái tim; cho đặng việc nầy, phải hại đến việc khác.

  1. Uốn câu sao vừa miệng cá.

Không lẽ làm cho vừa ý mỗi một người.

  1. Uổng xích nhi trực tầm.

Vạy thước mà ngay tầm. Nghĩa là kể lợi vong nghĩa. Kẻ sĩ quân tử chẳng vì lợi mà bỏ phép hay là làm điều quấy, như phải uổng tầm trực xích, bỏ hết các điều phải thì lại càng xa lánh.

  1. Uống rượu như hũ chìm.

Mạch rượu quá.


Hết chữ U.

Related Images:

Huỳnh Tịnh Của – Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn 1897 – Chữ T

Vài lời từ người đánh máy

Sách Tục ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn – được phát hành năm 1897. Những năm này chữ Quốc ngữ còn sơ khai, cách hành văn hay dùng từ khác biệt so với chữ viết hiện đại.

Tôi mạn phép sửa lại vài khác biệt trong cách dùng dấu hỏi – ngã, chữ cuối t – c và vài khác biệt nhỏ khác về chính tả.

Quý độc giả có thể đọc Bản in gốc 1897, định dạng pdf theo link.


Huỳnh Tịnh Của - Tục ngữ - Cổ ngữ - Gia ngôn 1897 - Chữ TBiên tập những lời

Ngạn ngữ – Cổ ngữ – Gia ngôn


Chữ T

  1. Tà thần bất cảm chánh.

Thần tà chẳng cảm hay là chẳng phạm chánh thần. Hễ mình ở chánh trực hay là mạnh mẽ trong mình thì chẳng sợ nhuốm lấy tà khí, hay là tà khí chẳng khuấy mình đặng.

Ấy là nguyên khí cố, tắc bá tà bất năng nhập. Bịnh ngoại nhơn như phong hàn thử thấp cũng là tà.

  1. Tác xá đáo bàn.

Nghĩa là làm nhà bên đàng. Kẻ qua lại chê khen, nghị luận nhiều mà không rồi.

  1. Tài gia là cha ăn cướp.

Tài gia hay khai gian, mất ít xít ra cho nhiều, hay là khai phòng hao, dầu quan có dạy bồi không đủ thì cũng được phần nhiều.

  1. Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu.

Ở tại nhà tùng cha, gả ra thì tùng chồng. Ấy là đạo tam tùng, phận gái phải giữ.

  1. Tái ông thất mã, nan tri họa phước.

Ông Tái mất ngựa khó biết họa phước. Nghĩa là không biết đâu là họa phước.

Tích rằng: ông Tái mất ngựa, người ta tới thăm, ông ấy rằng: đâu biết là không phải chước. Chẳng ngờ ít bữa thấy con ngựa ấy dắt về một con ngựa nước Phiên cao lớn; người ta cũng tới thăm, ông ấy rằng: đâu biết là không phải họa. Cách ít bữa con ông ấy cỡi ngựa Phiên mà đi chơi, rủi té xuống gãy tay, người ta cũng tới thăm, ông ấy rằng: đâu biết là không phải phước. Chẳng khỏi bao lâu có việc binh, lệnh truyền phải bắt lính úp bộ, con ông ấy nhờ gãy tay mà khỏi điền lính.

  1. Tài tán tắc dân tụ, tài tụ tắc dân tán.

Của tán ra thì dân nhóm, của nhóm thì dân phải tan. Quan có nhơn, tỉnh hình bạc liễm thì dân sung, quan khắc bạc chinh thâu thái quá thì dân nát.

  1. Tâm bất tại.

Xao lãng không chủ tâm.

  1. Tam đa, ngũ phước.

Đa tử đa phú đa quí, nghĩa là nhiều con, nhiều của, nhiều sang là tam đa; Thọ, phú, khương ninh, du háo đức, khảo thọ mạng là ngũ phước. Du háo đức, nghĩa là nên bề đức hạnh; khảo thọ mạng nghĩa là nên mạng sống lâu, chết phi mạng hay là chết tức thì không thành thọ mạng.

  1. Tắm khi nào vuốt mặt khi ấy.

Không nghĩ phải chăng, cũng là phủi ơn.

  1. Tam ngu thành hiền.

Ba người dại cũng làm đặng một người khôn; trí nhiều người hiệp lại cũng nghĩ đặng điều phải.

  1. Tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sư diên.

Ba người đồng đi, ắt có kẻ làm thầy ta vậy. Trong ba người phải có người biết điều làm thầy cho ta đặng. Kể mình nữa là ba.

  1. Tam sao thất bổn.

Sao chép nhiều lần, không khỏi sai trong bổn chánh.

  1. Tẩn kê tư thần.

Gà mái giữ buổi sớm hay là gáy giữ buổi sớm, Hiểu nghĩa là đờn bà làm chủ việc nước nhà.

  1. Tận lương vô kế.

Lương thực hết thì chẳng còn mưu chước, nghĩa là không có tiền bạc thì chẳng làm chi đặng.

  1. Tận nhơn lực phương tri thiên mạng.

Hết sức người mới biết mạng trời. Phải hết sức người vì ta không biết mạng trời, giả như mình mắc hoạn nạn hiểm nghèo, thì phải hết sức lo làm cho khỏi, chẳng nên thối chí sờn lòng; chừng nào làm hết sức mà đáo đầu không khỏi, thì mới hay là số mạng phải làm vậy.

  1. Tân quế mể châu.

Củi như quế gạo châu thì là đồ hỏa thực ngang quí, mắc mỏ thái quá.

  1. Tận tâm sở sự.

Làm việc hết lòng hay là thiệt lòng làm việc bổn phận.

  1. Tấn thối lưỡng nan.

Khó đàng lui tới hay là không biết tính bề nào.

  1. Tầng dục thân an, tầng dục bịnh.

Năng tắm mình an, năng dâm bịnh. Tắm là tẩy trừ dơ dáy, lại làm cho khí độc trong mình rút ra theo nước, cho nên mình đặng an; hễ năng tắm thì nhẹ nhàng trong mình; năng gần nữ sắc thì tinh thần hao tán, đến đỗi phải uống yểu chẳng những là bịnh mà thôi.

  1. Tầng lai thân giả sơ.

Năng tới lui lắm, gần hóa ra xa. Có ba điều bất tận: là bất tận nhơn chi tình; bất tận nhơn chi tài; bất tận nhơn chi lực. Lân la lắm thì hóa ra sự nhàm lờn.

  1. Tào khan chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao mạc khả vong.

Vợ tấm mẳn chẳng khá bạc đãi; bạn khó nghèo không khá quên.

  1. Tạo vật vô hình.

Trời sinh muôn vật, chỉ thính ư tự nhiên, dường như không chủ ý.

  1. Tập dữ tánh thành.

Tánh bổn thiện mà bởi tập tương viễn, cho nên tập với tánh thành, thì là quen tánh. Tập là quen theo thói tục.

  1. Tật sau lưng.

Không ai khỏi tật. Ông bụt tổ treo cho người ta hai cái đãy, một cái để trước ngực, một cái để sau lưng; chuyện xấu người khác thì đựng đãy trước, chuyện xấu mình thì đựng đãy sau.

  1. Tay bằng miệng, miệng bằng tay.

Bặt thiệp, miệng nói tay làm.

  1. Tay không chơn rồi.

Gia tài chẳng có; công việc làm cũng không. Hãy còn bợ ngợ.

  1. Tay làm hàm nhai.

Mình làm mình ăn, không cậy sức ai.

  1. Thái quá du bất cập.

Bổ đồng thì lấy bậc thích trung.

  1. Tham bù chẻ gắp.

Chỉ nghĩa là tham cho nhiều

  1. Tham buổi giỗ lỗ buổi cày.

Muốn đặng chuyện nầy phải mất chuyện khác.

  1. Tham đắc vô ỉm.

Tham lam không nhàm, ấy là xà dục thân tượng, nghĩa là rắn muốn nuốt voi.

  1. Thám nang thủ vật.

Thăm đãy mà lấy vật: giặc dễ thắng thường gọi là lấy đồ bỏ đãy. Lại nói dị như phản chưởng, nghĩa là dễ như trở tay.

  1. Tham thì thâm dầm thì đen.

Thâm là thâm tổn, câu sau là câu ví, hễ tham thì không khỏi lầm.

  1. Tham vì nết, chẳng hết chi người.

Quí đức hạnh, không quí người.

  1. Tham vui chịu lận.

Người ta nói rằng: Cờ gian bạc lận; các người đánh bạc cũng vì ham vui mà mất tiền.

  1. Thận chung truy viễn.

Cẩn thận việc sau hết, dõi nhớ việc lâu xa. Hiếu thảo kẻ làm con phải nhớ ơn cha nghĩa mẹ, dẫu cha mẹ đã khuất rồi, cũng phải có lòng thành kính.

  1. Thần xuất quỉ một.

Thần mọc quỉ lặn, ấy là tiếng khen mưu chước rất khôn ngoan.

  1. Thần vong xỉ hàn.

Môi mất răng lạnh, nói về hai nước giao lân, địa thế tương tiếp như môi với răng, nếu một nước phải mất thì nước kia cũng phải mất theo. Hai nước gần giao hảo gọi là thần xỉ chi quốc, nghĩa là giao không hề bỏ nhau.

  1. Thẳng mực tàu đau lòng gỗ.

Lời thật mất lòng. Cứ phép thẳng mà làm, sao cho khỏi chích mích.

  1. Tháng năm chưa nằm đã sáng, tháng mười chưa cười đã tối.

Mùa hạ ngày dài đêm vắn, mùa đông ngày vắn đêm dài.

  1. Tháng năm đi trước, chẳng phải đi ngược đàng sau.

Ngày tháng tới trước mắt, chớ nói rằng lâu mau.

  1. Thành môn thất hỏa, ươn cập trì ngư.

Chốn thành môn bị lửa, hại đến cá trong ao, nghĩa là bị hại lây.

  1. Thanh xuất vu lam.

Xanh ra nơi chàm, hiểu nghĩa là học trò nhờ thầy; mà nếu thanh quá vu lam, thì là xanh quá chàm, hiểu nghĩa là đệ tử hơn thầy.

  1. Thắp đuốc tìm giàu, giàu chẳng thấy, cầm gươm chém khó, khó theo sau.

Muốn mà không đặng, sợ mà không khỏi thì là mạng; cho nên người quân tử tùy ngộ nhi an.

Có câu rằng: Tri giả an bần, đạt nhơn tri mạng.

  1. Thập mục sở thị.

Mười mắt thửa xem. Chỉ nghĩa là minh bạch trước mắt nhiều người.

  1. Thất chi đông ngung, thau chi tang du.

Mất chưng phía đông, thâu chưng phía tây; mất phía nầy đặng phía khác.

  1. Thật thà là cha dại.

Ăn ở hẳn hòi không điều quỉ quái thì là thiệt thà, đáng cho người ta yêu chuộng; ăn nói quê mùa không biết biến thông thì là quá thiệt thà, có câu rằng: hiền giả quá ngu cho nên gọi là cha dại.

  1. Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín.

Một ấp mười cái nhà ắt có nhà trung tín. Nhiều người lựa ra cũng có người tốt.

  1. Thâu đa nạp thiểu.

Ấy là nghề riêng các thôn trưởng, hễ thâu thuế thì thâu trội để mà nhập kỉ, ấy là nghĩa chẹt gánh.

  1. Thầy có của sãi có công.

Kẻ chịu của người ra công, sự thế cũng đồng.

  1. Thê hiền phu họa thiểu, tử hiếu phụ tâm khoang.

Vợ hiền họa chồng ít, con thảo lòng cha thơ thới.

  1. Thề mắc thắt dối.

Thề thốt không nên điêu.

  1. Thệ tề bất cập.

Cắn rún chẳng kịp. Nghĩa là ăn năn việc đã rồi.

  1. Thi ân bất cầu báo.

Ra ơn không cầu trả. Nếu cầu trả thì là bán ơn.

  1. Thỉ chung như nhứt.

Trước sau như một; không chút đổi dời.

  1. Thị khả nhẫn, thục bất khả nhẫn.

Điều ấy nỡ làm được, điều chi chẳng nỡ làm. Tàn nhẫn thới quá.

  1. Thì lai phong tống Đằng Vương các, vận khí lôi hoanh Tiến Phước bia.

Thì tới gió đưa các ông Đằng Vương, vận đi sấm đành bia ngươi Tiến Phước. Lúc có phước gió cũng thổi đưa, càng thêm sung sướng, lúc vô phước sấm lại đánh dập, dẫu chết cũng không yên. Ấy tốt phước đặng chì đặng chài, còn xấu phước khó chó cắn thêm, thì là làm vậy.

  1. Thị tắc hành, phi tắc chỉ.

Phải thì làm chẳng phải thì thôi. Con người ta phải có quyết đoán, hễ nghi sợ thì làm không đặng việc.

  1. Thi vị tố xang.

Có vì như vì thần đặt ra mà tế. Lời chê kẻ làm quan vô sở sự sự, ngồi không mà ăn lộc.

  1. Thiệt nhu thường tồn, xỉ can tắc chiết.

Lưỡi mềm hằng còn, răng cứng thì gãy. Mềm mỏng thì bền, cứng cỏi thì phải hư. Cho nên nhu thắng can, nhước thắng cường.

  1. Thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình.

Trả lành trả dữ như bóng theo hình. Nghĩa là báo ứng bấy giờ.

  1. Thiên bất dung gian đảng.

Trời chẳng dung kẻ gian đảng; hễ làm dữ phải gặp dữ.

  1. Thiên đàng vô tắc dĩ, hữu tắc quân tử đăng, địa ngục vô tắc dĩ, hữu tắc tiểu nhơn nhập.

Thiên đàng không có thì thôi, bằng có thì quân tử sẽ lên, địa ngục không có thì thôi, bằng có thì đứa tiểu nhơn phải vào.

Như con người ta chết rồi mà hồn thăng vu thiên phách thăng vu địa, lại như khí tụ sanh khí tán vong, thì là tử giả biệt luận; bằng chết rồi còn có thưởng phạt thì sao phần thưởng cũng về kẻ lành, phần phạt cũng về kẻ dữ; song không lẽ không có thưởng phạt đời sau, cho nên con người ta phải làm lành lánh dữ, ít nữa là cho khỏi sự báo ứng nhãn tiền.

  1. Thiên đạo báo ứng nhãn tiền.

Đạo trời trả đáp trước mắt. Làm dữ liền gặp dữ, làm lành liền gặp lành thiệp nhu ảnh hướng. Nghĩa là chóng như hình bóng như tiếng vang.

  1. Thiên đạo phước thiện họa dâm.

Lẽ trời xuống phước cho kẻ lành, làm họa cho kẻ dữ.

  1. Thiên địa tuy đại, nhơn do hữu sở hám.

Trời đất dầu lớn người còn có chỗ hờn, không lẽ cho vừa ý mọi người. Mưa thì nói mưa, nắng thì nói nắng, thiên địa tuy đại, nhứt thân do ái, nghĩa là trời đất dầu lớn, một thân mình hãy còn chật hẹp, cũng về một nghĩa.

  1. Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo.

Lành có lành trả, dữ có dữ trả.

  1. Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc, địa sanh thảo hà thảo vô căn.

Tr

Trời sanh người, người nào không có lộc, đất sanh cỏ, cỏ nào không có rễ; ai ai đều có phước riêng, lộc riêng của Trời cho; cỏ không rễ thì phải chết, người không lộc cũng phải chết.

  1. Thiên sanh nhứt thế nhơn, tự túc liểu nhứt thế sự.

Trời sinh ai nấy đều có tài riêng: hay làm hay, dở làm dở, cũng rồi một việc, qua một đời.

  1. Thiện sanh phước chung.

Sống lành chết có phước.

  1. Thiên thính tự ngả dân thính.

Trời nghe bởi dân ta nghe. Trời không lỗ tai, chúng dân nghe, ấy là Trời nghe.

Có câu rằng: lòng dân thiệt là lòng Trời. Trong sự suy tông kẻ làm vua chúa, lấy tiếng dân đồng ưng làm chuẩn đích. Hễ chúng dân muốn cho ai thì nấy đặng.

  1. Thiên tử vô hí ngôn.

Thiên tử không lời nói chơi. Thiên tử là đấng cao trọng, đáng cho người ta tín phục; một lời nói một việc làm đều có phép tắc thì mới phục đặng thiên hạ.

Xưa vua Thành Vương cắt lá ngô đồng giả làm ngọc quế, nói chơi rằng sẽ phong vương cho Thúc Ngu; các quan tâu xin phải phong, là vì Thiên tử vô hí ngôn.

  1. Thiên vô nhị nhựt, quốc vô nhị vương.

Trời không hai mặt trời, nước không hai vua. Nghĩa là giềng mối nước nhà phải về một người.

  1. Thọ tài như thọ tiễn.

Chịu lấy của như chịu lấy mũi tên. Thầy Tăng Tử rằng: thọ nhơn chi thi dã thường húy nhơn, dữ nhơn dã thường kiêu nhơn. Nghĩa là kẻ chịu của người cho, hằng sợ người cho; còn kẻ cho ra lại hay ỷ với người mình cho.

  1. Thợ rèn không dao ăn trầu.

Phần người thì nhớ, phần mình thì quên.

  1. Thỏ thẻ như trẻ nên ba.

Lớn mà còn chút chớt.

  1. Thọ trái oán tài chủ.

Mắc nợ oán chủ nợ; ít thấy những người mắc nợ có bụng tốt cùng chủ nợ.

  1. Thố tử hồ bi.

Con thỏ với con chồn tuy không phải một giống, song cũng là một loài. Con thỏ chết con chồn rầu là thương vì đồng loại.

  1. Thổi lông tìm vít.

Chữ gọi là xuy mao cầu tì. Chỉ nghĩa là hay xoi tệ, xét nét, bươi móc từ việc lỗi lầm nhỏ mọn.

  1. Thối nhứt bộ tự nhiên khoang.

Lui một bước tự nhiên rộng rãi. Khiêm nhượng nhịn nhục, thì lòng dạ thường thơ thới. Ấy là lưu hữu dư địa bộ.

  1. Thôi quan hoàn dân.

Thôi làm quan thì trở về làng.

  1. Thỏng mắm treo đầu giàn.

Sự thế không bền chắc.

  1. Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn.

Thới là thớt cối xay. Phàm kiện cáo nhau, cả tiên bị đều phải thất công, tốn của. Ấy là lời giả hòa.

  1. Thủ chi đãi thố.

Giữ cây chờ thỏ. Có một người đương cày ruộng, thấy một con thỏ chạy đụng gốc cây mà chết, liền bỏ cày chạy giữ gốc cây, có ý trông họa may có con thỏ khác chạy đụng nữa mà bắt cho luôn. Ấy là dở tài, chực của sẵn.

  1. Thủ khẩu như bình.

Giữ miệng như bình. Giữ miệng cho kín.

Có câu đối rằng: phòng ý như thành.

  1. Thú nào vui thú ấy.

An phận.

  1. Thử nha tước giác.

Răng chuột sừng sẻ. Hiểu nghĩa là kiện thưa gây gổ. Con chuột hay khoét vách; chim sẻ hay soi nhà. Tánh con chuột tham, tánh con sẻ sẻ dâm, một đàng tham một đàng dâm, cho nên hay sanh sự tranh tụng không yên.

  1. Thủ thân vi đại.

Giữ thân mình là việc lớn.

  1. Thú thê bất tại nhan sắc.

Cưới vợ chẳng vì nhan sắc, nghĩa là không phải dụng sắc.

  1. Thủ thử lưỡng đoan.

Nghi sợ không an bề nào. Con chuột ở trong hang muốn chun ra, thì hay nhú nhứ ló đầu ra, quày đầu vô, làm như vậy đôi ba lần rồi mới chạy ra.

  1. Thủ vĩ tương ứng.

Đầu đuôi tiếp ứng lấy nhau. Núi Thương Sơn có thứ rắn, chọc đầu nầy cất đầu kia, chọc đầu kia cất đầu nọ. Chỉ nghĩa là có thể cứu giúp nhau.

  1. Thừa trong nhà mới ra bề ngoài.

Trong sự bán chác ruộng đất của cải phải cứ thứ, ấy là thừa nội chí ngoại.

Có câu rằng: Điền liên canh, gia liên cư cũng là cú người gần.

  1. Thuận thì tu văn đức, nghịch tắc thắng võ công.

Thuận thì làm hiền, nghịch thì sẽ ra tay làm dữ.

  1. Thuận thiên giả tồng, nghịch thiên giả vong.

Thuận trời ấy còn, nghịch trời ấy mất. Nghịch mạng trời thì phải hư mất.

  1. Thuận thiên ứng nhơn.

Thuận lòng trời, ứng đối lòng người; có ý nói về kẻ làm vua chúa đặng lòng thiên hạ.

  1. Thủy chí thanh tắc vô ngư, nhơn chí sát tắc vô đồ.

Nước trong lắm thì không có cá, người hay xét nét lắm thì không có bạn, nghĩa là ít người dám làm bạn.

  1. Thủy khả dĩ tải châu, diệc khả dĩ phúc châu.

Nước hay chở thuyền mà cũng hay úp thuyền. Dân làm tôi vua quan mà cũng có khi hại vua quan.

  1. Thủy lưu tại hạ.

Nước chảy xuống thấp. Phần thua thiệt về kẻ bề dưới chịu; kẻ bề dưới biết có một sự vâng lời.

Có câu rằng: Lịnh tại hồ thượng nghĩa là quyền phép ở tại kẻ bề trên.

  1. Thuyền dời bến cũ không dời.

Sự thể xưa sau không lẽ đổi.

  1. Thuốc đắng đã tật, lời thật mất lòng.

Mất lòng mà lợi ư hạnh.

  1. Thương cung chi điểu, kinh khúc mộc.

Chim phải ná thấy cây cong cũng sợ. Nghĩa là hãi kinh việc trước.

  1. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.

Thương con thì phải sửa dạy, bằng chìu theo tính nó, thì là khiến hư cho nó.

  1. Thượng bất chánh hạ tắc loạn.

Trên chẳng chánh dưới thì loạn. Một nghĩa với câu nôm bề trên ở chẳng kỉ cang vân vân.

  1. Thương là hại.

Ấy là nghĩa chữ thương. Làm ơn mắc oán hay là vì sự thương yêu cứu giúp kẻ khác mà mình phải thiệt hại.

  1. Thương hải tang điền.

Biển thẳm hóa nên ruộng dâu, hiểu là một cuộc đổi đời.

  1. Thương nhau chữ vị là vì.

Vốn là chữ vi mà đổi làm chữ vị, thương nhau thì phải vì nhau.

  1. Tị trọng tựu khinh.

Lánh nặng tìm nhẹ, ấy là nghĩa tránh trút.

  1. Tích cốc phòng cơ.

Dự trữ thóc phòng khi đói, nghĩa là biết lo xa.

  1. Tích kim dĩ gi tử tôn, tử tôn vị tất năng thủ, bất như thích âm đức ư minh minh chi trung, dĩ vi tử tôn trường cữu chi kế.

Tích trữ vàng để cho con cháu; con cháu chưa chắc giữ đặng, chẳng bằng tích âm đức, nghĩa là làm lành trong chốn minh minh, không ai ngó thấy, để làm chước lâu dài cho con cháu.

  1. Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác.

Tích lấy sự lành thì gặp lành, đa mang lấy điều dữ thì gặp dữ.

  1. Tiên cáo bất nại, bị cáo vô can.

Không nài là không kiện nữa.

  1. Tiền chì hai mặt.

Lì lượm, chai đá chẳng biết xấu hổ.

  1. Tiên giác giác hậu giác.

Kẻ biết trước dạy kẻ biết sau. Kẻ lớn dạy kẻ nhỏ.

  1. Tiền hung hậu kiết.

Việc trước dữ mà sau hiền.

  1. Tiến mất tật còn.

Tốn hao vô ích, (nói về tiền thuốc).

  1. Tiền ngang bạc vác.

Phép địch tiền thì lấy mực ngang, còn hàng mua thì cân vác, ấy là phép cân tử mã. Lại bạc nặng hơn tiền kẽm, mực tiền ngang mực bạc thì phải vác.

  1. Tiền phú hậu bần.

Trước giàu sau nghèo. Trước lớn sau nhỏ; lại đầu nhỏ đít to hay là mặt nhỏ đít to thì nói chơi thể ấy.

  1. Tiền tài như phấn thổ, nhơn ngãi tự thiên kim.

Tiền của như phấn đất, nhơn ngãi dường ngàn vàng.

  1. Tiền tấn hậu kế.

Trước tới sau dồn. Kẻ trước tới người sau cũng tới. Tre tàn măng mọc, chẳng thiếu chi người.

  1. Tiền trao cháo múc.

Mua bán hiện tiền.

  1. Tiền trao ra gà bắt lấy.

Cũng đồng một nghĩa.

  1. Tiên vi chủ, hậu vi khách.

Phép tiếp khách có phân vì khách vì chủ, có ý trọng đãi vì khách.

  1. Tiền xa kí phúc, hậu xa giái chi.

Xe trước đã úp, xe sau răn đó. Phải soi gương trước.

  1. Tiền xử kỉ nhi hậu xử bỉ.

Trước xử mình mà sau xử tới người. Phận mình xong mới nói người ta. Chẳng khá bạc trách kỉ nhi hậu trách nhơn.

  1. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đàng.

Lành cũng có tiếng đồn, dữ cụng có tiếng đồn.

  1. Tiểu sự bất nhẫn tắc loạn đại mưu.

Việc nhỏ chẳng nhịn, thì làm rối mưu lớn hay là việc lớn. Con người ta chẳng nên táo cấp.

  1. Tiểu nhơn đắc chí.

Đứa tiểu nhơn đặng như ý.

Có câu rằng: Chí thiếu dị dinh; bụng tiểu nhơn nhỏ, cho nên dễ đắc chí, nghĩa là hay tự túc tự mãn.

  1. Tiểu thuyền bất kham trọng tải.

Thuyền nhỏ không kham chở nặng. Bụng nhỏ không ăn được nhiều.

  1. Tín giả năng nhập.

Hay tin thì có điều xui mà tin; tin thì hay mắc.

  1. Tình ngay lý gian.

Vốn mình ngay, mà mắc nhiều lẽ không ngay.

  1. Tọa hưởng kì thành.

Ngồi mà hưởng nhờ của sẵn. Ấy là Cưu cư thước sào.

  1. Tọa thực sơn bằng.

Ngồi ăn núi lở. Ngồi không mà ăn, dẫu tiền của chất bằng non, cũng phải hết.

  1. Tội lây vạ tràn.

Ấy là tội liên tọa hay là tội vạ động lây.

  1. Tội nghi di khinh, công nghi di trọng.

Tội hồ nghi phải làm nhẹ, công hồ nghi dầu không chắc cũng phải lấy làm trọng. Trong phép thưởng phạt phải lấy công người ta làm trọng.

  1. Tội qui vu trưởng.

Phép bắt tội cứ nơi người làm lớn; cho nên mũi dại, lái chịu đòn.

  1. Tốt thì khoe xấu thì che.

Ấy là tính tự nhiên, người ta hay ẩn ác dương thiện.

  1. Tốt tuổi nằm duổi mà ăn.

Tốt số chẳng phải lo nghèo.

  1. Trai chê vợ như của đổ sông, gái chê chồng của một mà hai.

Gái đã ăn lễ đàng trai, nếu vô cớ mà phá, thì phải đền phần thiệt hại bằng hai.

  1. Trai đua mạnh gái đua mềm.

Trai phải cho mạnh mẽ; yếu đuối, dịu mềm về phần con gái. Mạnh mẽ nghĩa là cho biết đua tranh nhứt là trong sự học hành; dịu dàng nghĩa là phải cho nết na khéo léo trong việc nữ công.

  1. Trai tài gái sắc.

Trai dụng tài năng gái dùng nhan sắc, ấy là nghĩa trai anh hùng; gái thuyền quyên, chẳng phải nghĩa tham tài, trai tham sắc, thì là gái tham của trai tham xinh.

  1. Trăm dâu đổ đầu tằm.

Việc chi cũng đổ cho người dưới chịu.

  1. Trầm ngư lạc nhạn.

Tục hiểu tư dung lịch sực lắm, thì làm cho cá phải trầm, nhạn phải sa. Nguyệt bế hoa tu; cũng hiểu là nhan sắc rất đẹp đẽ, chỉ hiểu về sắc đờn bà.

  1. Trăm hay chẳng bằng tay quen.

Hay giỏi cho lắm cũng chẳng bằng quen việc.

  1. Trảm thảo trừ căn.

Chém cỏ cho tuyệt gốc, nghĩa là làm cho tuyệt giống, kẻo còn mọc lại, ấy là trảm thảo lưu căn, phùng xuân tái phát.

  1. Trầm thuyền phá phủ.

Nhận ghe, đập nồi. Quyết ý không trở về.

Tướng nước Tần là người Mạnh Mình đem binh đi đánh nước Tần, qua sông rồi thì nhận ghe đập nồi, dạy binh biết đi tới, không biết đi lui.

  1. Trâu béo kéo trâu gầy.

Mập ốm che nhau; con yếu nhờ con mạnh.

  1. Trâu cày, ngựa cỡi.

Trời sanh mỗi vật đều có tài riêng, có việc dùng riêng.

  1. Trâu chốc cật thấy ác bay qua liền né.

Trong mình có tì vít thì hay sợ.

  1. Trâu cột ghét trâu ăn.

Ấy là nghĩa phân bì.

  1. Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết.

Ấy là tiếng kẻ đánh cờ bạc hay nói liều rằng: thà thua lớn chẳng thà thua nhỏ.

  1. Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy.

Thường hiểu nghĩa ở đâu cưới gả đó, cũng là tiếng ganh.

  1. Trâu sống không ai mà cả, trâu ngã nhiều kẻ cầm dao.

Mà cả là đánh giá mà mua; trâu sống không ai hỏi tới, trâu chết khỏi tốn tiền mua, thì có nhiều người tới mà xẻ thịt.

  1. Trâu tìm cột, cột chẳng tìm trâu.

Cột là chỗ trâu ở: ngọn phải cứ gốc; đày tớ phải tìm chủ nhà; con cái phải tìm cha mẹ.

  1. Trẻ khôn qua, già lú lại.

Càng lớn càng khôn, càng già càng lụt.

  1. Trèo cao té đau.

Vinh bao nhiêu, nhục bấy nhiêu.

  1. Trí giả sở kiến lược đồng.

Kẻ trí chỗ thấy gần đồng thau. Trí người ta không có hạn lượng, song học cho tới trước, thì sự thông biết đều có một thế.

  1. Trí dục viên, nhi hạnh dục phương.

Trí muốn tròn, mà hạnh muốn vuông, nghĩa là trí phải thông biến, nết hạnh phải đằm thắm.

  1. Trí giả thiên lự tất hữu nhứt thất, ngu giả thiên lự tất hữu nhứt đắc.

Kẻ tri ngàn lo ắt có một lầm, kẻ ngu ngàn lo ắt có một đặng, cho nên cuồng phu chi ngôn thánh nhơn trạch điên, nghĩa là lời đứa khùng thánh nhơn cũng chọn.

  1. Tri gian bất tố.

Biết việc gian không tỉ cáo; ấy là tội dung ẩn.

  1. Trí quá tắc cải.

Biết lỗi mà chừa, thì là khỏi lỗi, biết lỗi mà chẳng chừa, thì là lỗi lắm.

  1. Tri sanh giả điếu, tri tử giả ai.

Biết kẻ sống thì làm lễ điếu, biết kẻ chết thì làm lễ thương. Điều là viếng kẻ còn sống. Ai là thảm cho kẻ chết rồi. Điếu là thăm viếng.

  1. Tri tử mạc nhược phụ.

Biết con chẳng ai bằng cha, kẻ làm cha mẹ thường biết tánh ý con hơn.

  1. Tri túc thường túc, chung thân bất nhục.

Biết đủ hằng đủ, trọn đời chẳng nhuốc.

Có câu rằng: Lý thạnh mãn nhi hậu tri chỉ. Được đầy đủ mà sau biết thôi. Con người ta tham ô, không biết đàng tấn thối, lẽ thuận nghịch, thì chẳng khỏi nhục.

  1. Triêu tam mộ tứ.

Xưa có một người nuôi khỉ, định bữa ăn cho khỉ rằng: sớm ba tối bốn. Khỉ giận nhảy nhót không yên. Người ấy lại định rằng: sớm bốn tối ba, khỉ mầng hớn hở, thiệt sự thì là như nhau.

  1. Trây máu ăn phần.

Làm cho có cớ mà đòi phần ăn, hoặc đòi bồi thường.

  1. Tre khóc măng.

Con trẻ chết trước cha mẹ.

  1. Tre tàn măng mọc.

Tiền tấn hậu kế. Lớp lớn tàn, lớp nhỏ tấn lên.

  1. Trời có sanh có dưỡng.

Trời ấy là phép tạo hóa, hễ có sanh thì có phương che chở.

  1. Trời đánh tránh bữa ăn.

Nghĩa là có công và lại có nhơn. Người ta đang ắn uống mà đánh thì là bất nhơn. Có kẻ hiểu dại: hễ nghe tiếng sét thì lật đật lấy đồ ăn mà ăn, cho khỏi sét đánh.

  1. Trời không cho hùm có vây.

Hùm có vây cánh thì lại hay bay. Người dữ mà đặng vây kiếng, đắc thế làm dữ thì thiên hạ phải khốn.

  1. Trôi sông lạc chợ.

Hiểu là người nghèo khổ vất vả, không có căn cước.

  1. Trống hèn hèn kèn vất vơ.

Kèn trống phải cho xứng.

  1. Trung ngôn nghịch nhĩ.

Lời ngay trái tai. Thuận theo chúng thì chúng thương; nghịch lòng dân thì dân oán.

  1. Trung thần bất húy tử, húy tử bất trung thần.

Tôi ngay chẳng sợ chết, sợ chết chẳng phải tôi ngay.

  1. Trúng bịnh vi diệu.

Thuốc chẳng luận quí hèn, chữa bịnh đặng thì là thuốc hay.

  1. Tử bất giáo phụ chi quá.

Có con không dạy thì là lỗi cha. Phận cha phải dạy con, phải làm nên cho con.

  1. Tự chiêu kỳ họa.

Mình gây họa cho mình.

  1. Tự cứu bất hạ.

Cứu mình chẳng rồi, lại còn cứu ai.

  1. Tử dai kỳ tử.

Phép chia gia tài, thì bất luận tì thiếp sanh, phải cứ tử số quân phân.

  1. Tử giả bất khả phục sinh, đoạn giả bất khả phục thục.

Chết rồi không lẽ sống lại, đứt rồi chẳng khá nối.

  1. Tử giả biệt luận.

Không phải nghị luận về kẻ chết. Chết rồi thì thôi. Cũng là kiếp chết kiếp hết.

  1. Tứ hải giai huynh đệ.

Bốn biển đều là anh em, vì bởi một gốc mà sanh ra.

  1. Tử mã lục thạch.

Câu tử mã, sáu hộc. Tục hiểu là tánh nết chưa thuần, chẳng biết lấy điển ở đâu.

  1. Tứ phương giai hữu tánh, thiên lý bất đồng phong.

Cả thảy trong bốn phương thiên hạ tánh tình, phong tục đều chẳng giống nhau.

  1. Tử sanh hữu mạng.

Chết sống có số mạng; còn một vế nữa thì là phú quí tại thiên.

  1. Tự thực kỳ lực.

Mình làm lấy mà ăn; tay làm hàm nhai.

  1. Tử vi phụ ẩn.

Con vì cha giấu. Ân tình cha con, lẽ trời buộc phải làm vậy. Con to cha tớ tỏ thầy, thì là can danh phạm ngãi.

  1. Tử vô táng địa.

Chết không có chỗ chôn. Phải chết bỏ thây.

  1. Tuế bất ngả diên.

Năm tuổi chẳng diên dẫn cùng ta; ngày giờ kíp như tên bay, thỏ chạy.

  1. Tuế hàn trí tòng bá chi tâm.

Năm lạnh biết tánh cây tòng cây bá. Hai cây nầy chịu lạnh: ví người tài trí gặp cơn họa hiểm không sờn lòng.

Có câu rằng: hàn tòng ngạo tuyết, cổ bá lăng sương.

  1. Tùy châu đạn tước.

Ngọc nhà Tùy bắn sẻ, chỉ nghĩa là đặng ít mà mất nhiều.

  1. Túng ngư nhập hải, phóng hổ qui sơn.

Thả cá vào biển, thả cọp về núi. Bắt tướng giặc mà thả đi, thì không trông bắt đặng nữa, lại còn phải lo nỗi nó về ổ mà lập trận khác.

  1. Tùng nhứt nhi chung.

Nghĩa là không cải tiết, chết sống cũng một chồng, ấy là trọn đạo với chồng.

  1. Tùng thiện như đăng, tùng ác như băng.

Theo lành dường lên, theo dữ dường lở; cứ việc làm lành thì trong mình đặng nhẹ nhàng, một ngày một lướt tới. Cứ việc làm dữ thì lương tâm nặng nề; càng ngày càng sụt xuống như núi lở.

  1. Tửu bất túy nhơn nhơn tự túy.

Rượu chẳng say người, người say tại mình.

  1. Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm.

Rượu vào lòng, như cọp vào rừng. Say rượu rồi thì loạn tâm tánh, không còn biết phải trái.


Hết chữ T.

Related Images: