Nguyễn Liên Phong – Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 – Đề tặng

Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm được sáng tác những năm cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Trong những năm này, chữ quốc còn sơ khai nên cách dùng từ và hành văn có khác so với hiện đại.

Chúng tôi có chỉnh sửa vài “lỗi chính tả” và giữ nguyên các từ cổ cũng như cách hành văn, ngắt câu của tác phẩm.

Bản in gốc 1909, định dạng pdf.


Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - Đề tặngNhững bài đề tặng và Cảm tạ của tác giả

Tựa rằng:

Tôi nghĩ rằng: Người sanh trong ngàn trăm năm nhẫn trước,

Cũng văn chương mà hãn đặng đầu đuôi.

Vật để lại ngàn trăm năm về sau, phải nghiệm suy mới tìm ra cội rễ.

Sẵn có người trí huệ, biết mấy chỗ hào hoa.

Chẳng thiếu nơi thắng cảnh sơn hà, song nhiều bực thời nho chí khí.

Những điều ly mị, dã sử còn chép để coi chơi.

Các tích khôi hài, văn nhơn cũng sắp nên câu đặt.

Kìa như Khổng An Quấc, nọ như Tư Mã Thiên.

Công trước tác đa niên, sách lưu truyền hậu thế.

Lai5ch đại công khanh vương đế, cổ kim nhơn vật phong lưu.

Đã hiệp vận liền nhau, lại phân chương có lớp.

Vẫn biết miệng ngang khó lấp, nhưng mà đường thẳng dễ đi.

Mừng ngày nay kỳ ngộ cố tri, xảy thấy quyển Nam kỳ phong tục.

Đã xem cùng khoản khúc, lại đọc hết thỉ chung.

Thiệt là văn lý mạch lạc thảy quán thông, khen bấy diễn ca tinh tường như sử ký.

Thiên hạ đủ điều tự sự, thơ trung thêm rạng nho phong.

Lộn châu mắt cá có đôi tròng, mượn bút lông mèo làm một tự

Mỹ Tho, làng Hòa Khánh.

Dật sĩ Nguyễn Ngọc Huỳnh kính tự.


Thơ bát cú dĩ hạ

Diễn ca mấy lúc nhọc công dòm, một cuộc ra tài tiếng nức om.

Lượm lặt tích xưa chưn rểu rểu, kể bày chuyện cũ mắt lom lom.

Câu dài câu vắn hàng đen hắc, khuyên dọc khuyên ngang nét đỏ lòm.

Sánh kịp Mã Thiên ghi chép sử, Nam kỳ nhơn vật trước sau gom.

Cái Bè.

Tổng đốc Trần Bá Thọ kỉnh tặng


Chửa học lâu nay tuổi ướm già, vung làm sáu tỉnh sách nôm ta.

Đã trang phong tục riêng từ hạt, lại sắp danh gia đủ mọi nhà.

Lượm lặt gương xưa trưng đặng rõ, góp thâu chuyện mới nói cho ra.

Muộn nhờ văn vận khuê tinh ứng, in để ngàn thu một bổng ca.

Long Xuyên.

Tri phủ Nguyễn Hà Thanh kính tặng.


Sáu tỉnh nghe ra vịnh đã cùng, từ đây thêm rạng vẻ non sông.

Xuống tay khó tặng thơ Hoàng Phủ, trước mắt từng xem phú Thái Xung.

Không mực khá thoa rồng đỏ mũi, có son khôn tỉa quạ đen lòng.

Xưa nay có xạ thời thơm đặng, lựa phải cầu ai dậy gió đông.

Bà Rịa.

Tri phủ Nguyễn Hữu Đức kỉnh tặng.


Miệng thêu lòng gấm phẩm xuê xang, phong tục Nam kỳ diễn vẻ vang.

Nửa vách giang san lòa đuốt ngọc, sáu thành cảnh vật chói lời vàng.

Châu cơ trong cuộc rành rành chữ, tinh đẩu bên hông sắp sắp hàng.

Vạch núi thầm khen thần cự lý, so tài thước ngọc đã nên trang.

Bổn quấc.

Giáo thọ Trịnh Hoài Nghĩa kỉnh tặng.


Sự tích Nam kỳ kể vang thiên, diễn ra phong tục rất nên siêng.

Văn tươi chi kém vàng cao giá, vận thuộc dường như chuỗi xỏ liền.

Non nước ngàn trùng thâu dưới bút, cõi bờ muôn dặm tóm trong nghiêng.

Dở hay còn có người trên lậu, học lực thế nầy chắc gặp duyên.

Mỹ Tho, làng Dưỡng Điềm.

Trần Anh Các kỉnh tặng.


Đã từng lưu lạc bước quen chơi, thú vị giang hồ trải mọi nơi.

Chỉ vẽ nhơn tình trong sáu tỉnh, hỏi han phong tục chuyện đương đời.

Dĩa nghiên mài đủ màu non nước, ngòi bút thêu nên cuộc đất trời.

Đèn sách mười năm công chẳng phụ, ngàn thu danh giá tiếng thơm rơi.

Mỹ Tho, làng Vĩnh Kim Đông.

Đặng Hữu Thường kỉnh tặng.


Dinh hườn đứng giữa một anh ta, ngâm vịnh Nam châu tiếng ngợi đà.

Tích trước ngàn năm lòng chứa gấm, cảnh trong sáu tỉnh mi65ng thêu hoa.

Lên dây họ Mã kiêng tay thợ, xuống bút thầy Ban chạy mặt già.

Cái nợ thơ đăng rày phỉ hẹn, trời xanh đâu có phụ con nhà.

Nghệ An.

Dư sĩ Hồ Xuân Lang kỉnh tặng.


Cũng cho rằng trí hay bày đặt, lục tỉnh chuyện xưa đi lượm lặt.

Tục ngữ quen dùng đọc dễ nghe, Quấc âm khéo lựa coi không mắt.

Ngồi không nói pháo gẫm nhiều tay, ra sức nưng xe xem ít mặt.

Đồng đạo thương nhau mới phải là, dở hay xin chớ tiếng khoan nhặt.

Saigon.

Phụng Hoàng San kỉnh tặng.


Địa dư khúc diễn vận du dương, nhơn vật Nam châu thấy chán chường.

Sáu tám giọng ca thi thể cách, trăm ngàn câu vịnh điệu từ chương.

Thanh tân tuấn dật bì ông Lý, cẩm tú anh ba sánh họ Vương.

Dâu biển trải bao đời đổi cuộc, Hãy còn đồ sộ việc phong cương.

Gò Công.

Dật sĩ Lê Quấc Tá kỉnh tặng.


Đất thì tục người thì quê, sáu tỉnh non sông rất bộn bề.

Cao thẳm ngàn trùng ngờ mắt đuốc, xưa nay trăm chuyện nhẹ tay đề.

Dày công đương giỏ đêm nuôi đóm, có phận quạnh phòng lửa nháng lê.

Muôn nước đều riêng trong một thói, người siêng đọc sách lộc ê hề.

Mỹ Tho, làng Dưỡng Điềm.

Dật sĩ Trần Thinh Dự kỉnh tặng.


Tùy thời phải dụng chữ nôm na, phong tục Nam kỳ khéo diễn ca.

Bút ngọc vẻ vời câu sáu tám, lời vàng trao chuốt đạo năm ba.

Sách xưa chán để gương hưng phế, truyện mới tiêng phân lẽ chánh tà.

Lòng gấm miệng thêu đà phải mặt, ích đời ai chẳng muốn ngâm nga.

Saigon.

Thơ ký Nguyễn Hữu Vang kỉnh tặng.


Khen bấy nhơn tài chẳng lẫn kiêu, Nam châu phong tục diễn nên điều.

Kinh thần mỗi vận vàng vàng thếp, thổ phụng từ câu gấm gấm thêu.

Bờ cõi rảo xem hay đáng mấy, non sông thầm nhớ biết bao nhiêu.

Ngàn thu sử sách công mường tượng, gương để đời sau cũng tạc biêu.

Gia Định,

Chánh quản Đinh Thiều Quan kỉnh tặng


Lục bát nôm na giọng mặn mòi, Nam kỳ phong hóa để người coi.

Núi sông góp lại thơ ngàn lá, bờ cõi thêu nên bút một ngòi.

Tích trước nhờ thầy ra trí sáng, đời sau lấy đó tạc gương soi.

Giang hồ mà chí trên lang miểu, nào khách cân đai cỡi ngựa voi.

Nghệ An.

Du sĩ Nguyễn Trung Thanh kính tặng.


Công phu diễn dịch rất nên chuyên, cẩm tú từ câu sắp đặt liền.

Dân quấc sáu châu trang mặc giấy, giang san ngàn cụm tóm lòng nghiêng.

Chép ghi Sử Mã noi đường thẳng, lượm lặt Kinh lân dõi dấu truyền.

Có xạ há trông ai dậy gió, đôi tròng xanh trắng thích tình khuyên.

Vĩnh Long, Bình Long,

Phó tổng Tống Hữu Định kỉnh tặng.


Nhả ngọc phun châu giọng nhũn nha, Nam kỳ phong tục diễn lời ca.

Nước non một dải chia từ chỗ, nhơn vật trăm năm kể chuyện ra.

Gió pga61t đầu thềm xao sắc mực, tuyết phê trên án trổ màu hoa.

Ngàn vàng khôn chuộc Tương như phú, tiếng để bi chừ cõi Việt ta.

Chợ Mới.

Y sanh Phạm Đăng Sơn kỉnh tặng.


Lời cảm tạ anh em

Xét phận bỉ thôi, lạm nhờ xưng dự,

Nôm lục bát đặng bao nhiêu chữ,

Chẳng qua là làm thử coi chơi.

Thiếu chi tay kiến thức đương đời,

Dám rằng biết diễn lời kiêm cổ.

Cuộc dời đổi an ư sở ngộ,

Cõi Nam kỳ đồ sộ phong cương.

Ơn quấc gia toan tính lo lường,

Dư bốn chục măm trường giáo dưỡng.

Tứ dân đã dinh sanh thạnh vượng,

Lục tỉnh nay tọa hưởng thái bình.

Mừng bề trên giàu nước mạnh binh,

Đặt một cuốn dân tình phong tục.

Nói từ khúc nghe in đứt khúc,

Thẩm bao nhiêu hàm súc bấy nhiêu.

Tiện đồng nhi ngâm đọc mơi chiều,

Trợ sử bút quạnh hiêu đôi tích.

Sĩ quân tử những khi nhàn thích,

Ghé mắt qua nhiều ít giải buồn.

Giọng dốt quê cũng có sơ cuồng,

Câu túng tiếu như tuồng lã chả.

Thơ đề tặng ngợi khen thái quá,

Giúp thêm mùi thơm xạ càng vinh.

Cảm hậu tình tứ hải đệ huynh,

Nguyện bốn chữ tiền trình viễn đại.

Nguyễn Liên Phong kỉnh đề.

Related Images:

Nguyễn Liên Phong – Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 – 24 – Chung

Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm được sáng tác những năm cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Trong những năm này, chữ quốc còn sơ khai nên cách dùng từ và hành văn có khác so với hiện đại.

Chúng tôi có chỉnh sửa vài “lỗi chính tả” và giữ nguyên các từ cổ cũng như cách hành văn, ngắt câu của tác phẩm.

Bản in gốc 1909, định dạng pdf


Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 24 - ChungCuốn 2 – 24: Sa Đéc

Sa Đéc phong cảnh thi:

Có danh đời cựu phủ Tân Thành,

Sa Đéc vui nay cảnh thích tình.

Đèn Vĩnh Phước ngời hình nguyệt chói,

Cồn Tân Qui nổi dạng cù đoanh.

Nhà dân phố chợ nhiều nơi lịch,

Chùa Phật đình Thần lắm chỗ xinh.

Vườn ruộng ấm no phong tục tốt,

Nhớ Cao hoàng đế thuở trần binh.


Sa Đéc nguyên phủ Tân Thành,

Thuộc An Giang tỉnh đất bình trung châu.

Đổi dời mấy độ bể dâu,

Nước nhà sắp đặt lớp sau chỉnh tề.

Đuôi cồn bồi dưỡng sa nê,

Bố đường thiết lập tư bề vẻn vang.

Trường nam trường nữ của quan,

Ơn trên dạy dỗ lớp lang khéo dùng.

Cầu đường bốn phía rộng thông,

Phố phường đông đảo bên sông phía tiền. (10)

Vĩnh Phước Tân Phú liền liền,

Trên nhà cửa chật dưới thuyền ghe đông.

Tối thì đèn đỏ chói sông,

Ngày thì bôn bán thạnh sung lạc tình.

Làng Tân Dương cảnh thần đình,

Nhơn cơ nghĩa chỉ thái bình oai nghi.

Bởi trên kẻ lớn phải nghì,

Là ông Cai tổng người thì tên Cang.

Hảo tâm xướng thỉ khải đoan,

Nội làng tùng phục sửa an cảnh thần. (20)

Đã liêm cáng, lại thận cần,

Phải trang tuổi tác tu thân vẹn toàn.

Con trai lớn, làm việc làng.

Người con trai thứ chức sang cầm đường.

Hai bên bàn cận thôn hương,

Phong thuần tục mỹ thủ thường chẳng sai.

Đình Vĩnh Phước, bực thứ hai,

Với đình Tân Phú lâu dài vĩnh vi.

Cái Tàu Hạ, với Tân Qui,

Tân Hưng ba cảnh đều thì hạng ba. (30)

Đẹp thay các cảnh chùa ta,

Mấy ông thầy sãi trẻ già rau tương.

Thiên Chúa lầu các một phương,

Cất ở gần đường dưới rạch Cần Thơ.

Mỗi tuần kinh sách phụng thờ,

Người trong bổn đạo tư cơ lâu dài.

Chùa Ông xã Vạt lưu lai,

Nguyên xưa ông ấy sáng khai đến chừ.

Sau Huỳnh Chơn Giác pháp sư,

Học thông nho thích ẩn cư trụ trì. (40)

Khôn lanh chữ nghĩa ai bì,

Tuổi hơn sáu chục hồn quì âm cung.

Làng Phú Hựu Bang biện Long,

Gia tư hào hộ vẹn xong nhơn nghì.

Tánh hay tế hiểm phò nguy,

Ruột gan trải đĩa lắm khi giúp người.

Thung đường cao hưởng tuổi trời,

Miếng ngon vật lạ thảnh thơi phụng thờ.

Cửa nhà bền vững tư cơ,

Ruộng vườn sự nghiệp bây giờ dinh dư. (50)

Người anh rể làm Hương sư,

Tên là Công Trứ gia cư phú hào.

Vợ chồng hòa thuận ra vào,

Nghĩa phương giáo tử thiện giao hữu bằng.

Giữ gìn lương thiện làm căn,

Vẹn tròn ngay thảo lòng hằng thỉ chung.

Châu thành buôn bán thạnh sung,

Tàu đò hai chiếc người đông đi thường.

Ghe đò các chợ ca1cphuo7ng,

Rước đưa đưa rước chật đường xanh quanh. (60)

Trầu cau vườn tược tươi xinh,

Cá hô gà cựa có danh Nam kỳ.

Kẹo đậu phụng, chẳng thiếu chi,

Kẹo nơi Sa Đéc bán thì tiền muôn.

Nhà dân ở, ít chỗ buồn,

Trong vườn ngoài ruộng luôn luôn có nhà.

Lầu quan Chánh bố một tòa,

Mấy ông liêu thuộc xem đà phải quan.

Cựu Đốc phủ Trần Đức Tràng,

Hiền lành nhơn hậu vẹn toàn thân danh. (70)

Nay đà hưu trí lão thành,

Hội đồng nghị viện phận đành dưỡng yên.

Đốc phủ sứ Lê Quang Hiền,

Nguyên xưa quê quán ở miền Bến Tre.

Tánh ngài không siểm không khoe,

Mấy năm giúp nước đồn nghe trong ngoài.

Tang bồng phỉ lấy chí trai,

Khi ra Bắc cảnh cầm đài lưu thinh.

Đến khi Nam địa qui trình,

Các quan liễn đối tặng minh nhiều lời. (80)

Tân Thành để lị thảnh thơi,

Hai mươi năm ngợi một nơi cam đường.

Hàn lâm kiêm khánh chiêu chương,

Bữu Tinh thưởng thọ hiển dương huân thần.

Trước sau vẹn giữ thanh cần,

Tiếng thơm bay khắp từ gần tới xa.

Con trai qua nước Phan-sa,

Học làm thầy thuốc đã đà nên danh.

Người là tên gọi Quang Trinh,

Y thơ các sách giảng minh nhiệm mầu. (90)

Tử tôn thiện nghiệp cơ cầu,

Rạng ngời phước đức làu làu trăng thu.

Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 24 - Chung

Thầy thông Nhượng biết chữ nhu,

Yên hà vui thú một câu thanh nhàn.

Thung dung khi rượu khi đàng,

Trời cho phần phước giàu sang về già.

Tân Qui sung thạnh cửa nhà,

Có Hồ Văn Lẫm phải là tên dân.

Làm ăn nổi tiếng vang rân,

Ruột gan trải đãi mấy lầm kinh dinh. (100)

Rủi ro mạng vận chưa thành,

Khiến ra chung cuộc thất dnah hùng hào.

Mé trên sông cái vận đào,

Chỗ Cái Bè cạn lở vào đã lâu.

Bởi vì dọt nước hẫm sâu,

Sóng to gió lớn nghịch nhau phá hoài.

Lở luôn một khúc quá dài,

Quan lớn Sen trước, mả ngài dời xa.

Đội nhờ ân hậu quốc gia,

Giúp tiền cho phép sửa đà chiêu chương. (110)

Tân Thành xứ tốt ruộng vườn,

Thanh hoa đẳng vật thường thường đẹp xinh.

Cù lao đất rộng thinh thinh,

Chỗ sông nước xoáy tắc quanh chảy dốn.

Hồi Luân chữ đặt lưu tồn,

Cao hoàng thuở trước ngự đồn đóng binh.

Còn câu hát hãy đành rành,

Nói luôn cho biết dân tình không nguôi.

Qua sông nước xoáy ngùi ngùi,

Nhớ Cao hoàng trước chúa tôi một lòng. (120)

Đó là sông mé phía trong,

Mé ngoài tục ngữ gọi sông Mương Đào.

Sông Đất Sét, bờ quá cao,

Lên Cái Tàu Thượng giáp vào Long Xuyên.

Điền viên căn bổn bạc tiền,

Rẫy trồng bông trái khắp miền dưới trên.

Phía bên Long Ẩn đi lên,

Thấu nơi Cao Lãnh là bên đất liền.

Trước thi kế cận giang biên,

Sau thì kinh rạch liên liên vân trùng. (130)

Giáp qua Thập Tháp cả đồng,

Lợi nhờ lúa cá dễ dùng dinh sanh.

Cao Lãnh xứ quê mà danh,

Miễu thờ Khổng Tử đại thành tiên sư.

Thuở kia gầy dựng thảo lư,

Chỗ còn hẹp nhỏ chưa dư bạc tiền.

Cựu trào phủ Đính lạc huyên,

Người trong thinh khí của riêng hội tề.

Buổi đầu không mấy phủ phê,

Song le tế tự giữ bề khiết tinh. (140)

Quản bộ Đạo, Phạm Văn Khanh,

Vui lòng lương thiện của mình cúng thêm.

Trùng tu miễu võ trang nghiêm,

Sĩ phu có chỗ ngưỡng chiêm thành hiền.

Nội làng cầu lộ lưỡng biên,

Ông Khanh bồi đáp nhọc siêng tấm lòng.

Đình Thần chùa Phật chùa Ông,

Thảy đều sửa lại ngoài trong rạng ngời.

Nghĩa binh qui tụ Tháp Mười,

Ông Khanh thuở ấy giúp người đặng an. (150)

Ơn nhờ Nhà nước hậu ban,

Cho binh cho súng bảo toàn thôn hương.

Đã lâu về chốn Diêm đường,

Dấu roi toe61ng tốt hiển dương phận già.

Hòa An, Tân Thuận, Mỹ Trà,

Hai bên làng xã đều là mang ơn.

Làng Hòa An tục lịch hơn,

Quan viên chức sắc nghĩa nhơn ở đời.

Học hành còn hẫy nhiều người,

Thơ bài đờn địch ăn chơi tiếng đồn. (160)

Vàm Cái Nứa, Vĩnh Thới thôn,

Có ông Cả Thiện lưu tồn thinh danh.

Vợ chồng nhơn đức hiền lành,

Giúp người nghèo khó xanh quanh xóm làng.

Các ngôi chùa miễu sửa an,

Dạy con lễ nghĩa lưu phan gia đình.

Sanh ra nam nữ trưởng thành,

Chia cho phần thực đành rành khuôn viên.

Lạ thay sự tích cô Hiên,

Con ông cả Cẫn ở miền Nha Mân. (170)

Tuổi vừa mười sáu đương xuân,

Chèo ghe rước mẹ rủi chân bị chìm.

Linh hồn trinh nữ lặng yêm,

Thương cha mẹ yếu với em dại khờ.

Ghe phen hiển hiện sờ sờ,

Giúp trong gia đạo tư cơ vũng bền.

Thường khi Châu Đốc đi lên,

Thuở ông Hữu Dực trấn bên An, Hà.

Khi thời dạo xuống đường xa,

Vách thành cửa hữu cây đa Long Hồ. (180)

Khi thời hiện xuống Mỹ Tho,

Khi qua Chợ Lớn ra vô Chùa Bà.

Tới đâu hay cứu người ta,

Thai sanh sản nạn nhiều nhà mang ơn.

Rõ ràng chuyện thật nguồn cơn,

Cũng là tú khí dinh hườn mang ơn.

Diễn ca một cuốn an bài,

Hai mươi hai hạt trong ngoài kể ra.

Vũng Tàu Bà Rịa Biên Hòa,

Qua Thủ Dầu Một lại là Tây Ninh. (190)

Sài Gòn Gia Định thinh thinh,

Chợ Lớn châu thành biết mấy thanh quan.

Hỏa xa kinh quá Tân An,

Đất liền giáp với các làng Gò Công,

Bến Tre với Mỹ dân đông,

Hai bên phng cảnh thạnh sung đẹp tình.

Vĩnh Long qua trấn Trà Vinh,

Sóc Trăng rồi lại kế thành Bạc Liêu.

Cần Thơ thổ địa phì nhiêu,

Trời cho thâu hoạch lúa nhiều vạn thiên. (200)

Long Xuyên Rạch Giá Hà Tiên,

Giáp ra Châu Đốc xuống liên Tân Thành.

Tục kêu Sa Đéc thành danh,

Bổn căn vườn ruộng tươi xinh đầy đường.

Trời đả sắp định phong cương,

Bởi người ăn ở sửa đương mới mầu.

In ra hai cuốn trước sau,

Vắn dài ước bảy ngàn câu đành rành.

Nay đà hai cuốn ấn hành,

Xiết bao cảnh vật linh tinh xa gần. (210)

Kể sơ chánh nghạch bộ dân,

Sáu mươi dư vạn ăn mần các nơi.

Nam phụ lão ấu bộ đời,

Chừng hơn ba tiệu ơn trời hóa sanh.

Trải xem đại khái dân Thanh,

Hơn mười ba vạn dinh sanh mẫn cần.

Ngày nay chánh trị đời tàn,

Tục còn nước cựu nhơn dân lạc nhàn.

Thổ nghi phong cảnh cả ngàn,

Nói sao cho hết mọi làng mọi nơi. (220)

Làm ăn thong thả nghỉ ngơi,

Khi lo mệt nhọc khi chơi bĩ bàng.

CÀng ngày đông đảo lịch sang,

Cội nền bảo hộ thạnh an cữu trường.

Quấc âm cứ thiệt điển tường,

Dở hay thêm bớt kính nhường đạt nhơn. (226)

————————— Chung ——————————–

Related Images:

Nguyễn Liên Phong – Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 – 23

Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm được sáng tác những năm cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Trong những năm này, chữ quốc còn sơ khai nên cách dùng từ và hành văn có khác so với hiện đại.

Chúng tôi có chỉnh sửa vài “lỗi chính tả” và giữ nguyên các từ cổ cũng như cách hành văn, ngắt câu của tác phẩm.

Bản in gốc 1909, định dạng pdf


Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 23Cuốn 2 – 23: Châu Đốc

Châu Đốc phong cảnh thi:

Vui xem Châu Đốc cảnh thêm xinh,

Nhớ thuở Thoại hầu trấn Vĩnh Thanh.

Sông Trước sông Sau chia tả hữu,

Núi Sam Núi Két dấu anh linh.

Rạch ngòi giồng án không cùng lợi,

Cá mắm tằm tơ đệ nhứt danh,

May có Tú Thường người biết học,

Ra công dạy dỗ mày xanh.


Châu Đốc nguyên trấn Vĩnh Thanh,

Đặt đồn Châu Đốc lũy thành vẻn vang.

Sau phân làm tỉnh An Giang,

Nay Châu Đốc hạt sửa sang chỉnh tề.

Trước sông đá cẩn bực lề,

Bố đường cao rộng tư bề quang nghiêm.

Hình như tiên cảnh lặng yêm,

Nhơn dân lạc nghiệp lư diêm mật trù.

Sông quan uốn khúc tợ cù,

Châu thành phố xá giai cù đoan trang. (10)

Nhứt là ngả lộ Tây An,

Thẳng gnay rộng lớn lưỡng bàn có mương.

Lâu nay thiên hạ kêu thường,

Mương sâu mương cạn theo đường phân minh.

Thường niên ngư biết mảng dinh,

Dân mua thủy lợi lợi sanh trăm ngàn.

Mười tổng chín mươi chín làng,

Ai ai cũng ở nhà sàn cao chưn.

Bởi mùa nước ngập không chừng,

Khi to khi nhỏ đầy lưng khó dè. (20)

Vậy nên sắm sẵn nhà bè,

Trữ đồ buôn bán xuồng ghe mua thường.

Tốt thay Châu Phú thôn hương,

Miễu chùa nhà việc phô trương kĩ càng.

Hiềm vì một chỗ tồi tàn,

Miễu quan Chưởng lễ bỏ oan bấy chầy.

Ngài xưa công nặng đức dày,

Mở mang bờ cõi dẹp bầy kiến ong.

Miễu thờ vĩnh viễn non sông,

Cù lao Ông Chưởng người đồng thấy nghe. (30)

Biên Hòa một sở chỉnh tề,

Bởi vì thiện tính lạc đề háo thi.

Huống chi Châu Đốc nhơn nghì,

Viên quan hương chức nỡ gì lấp ngơ.

Chung tiền bồi đắp tư cơ,

Thì phần phước ấy cũng nhờ về sau.

Tục hay háo chuyện nhương cầu,

Thỉnh Thần tiên xuống hỏi âu dữ lành.

Thổ thần ở rạch Hộ Thành,

Xóm kêu Hàng Xáo hiển linh lên thường. (40)

Phụ cơ viết chữ chán chường,

Nhiều khi ứng nghiệm tỏ tường không sai.

Nhà thờ cao lớn rộng dài,

Học trường dạy dỗ nuôi tài thiếu niên.

Trần Hữu Huân, cũng sĩ hiền,

Nguyên xưa làm Huyện ở miền Bạc Liêu.

Chánh lành người thảy chuộng yêu,

Gia đình hiếu hữu dạy nhiều môn nhơn.

Thanh nhàn thi phú dưỡng chơn,

Tuy đà tử biệt còn cơn cảm tình. (50)

Lâm Phước Triều, người nước Thanh,

Người hay gan ruôt kinh dinh cơ đồ.

Lập thành đại nghiệp qui mô,

Tiệm kia tiệm nọ buôn to muôn ngàn.

Tiếng đồn Châu Đốc thất san,

Kể sao cho hết cả ngàn danh nham.

Lịch thay phong cảnh núi Sam,

Mả quan tiền nhậm thuở làm lắm công.

Thoại hầu tiết rạng non sông,

Còn ngôi thạch mộ người đồng gọi lăng. (60)

Núi Sam phía Bắc dưới chưn,

Đắp phong mã lạp bổn căn một nền.

Ngài xưa bảo hộ Cao Mên,

Ghe phen án thủ giữ bền an biên.

Đào kinh Lạc Dục Long Xuyên,

Giáp vô Rạch Giá bia truyền Thoại Sơn.

Đào kinh Vĩnh Tế lại hơn,

Danhh chồng danh vợ không sờn cả hai.

Thoại Sơn thì đặt tên ngài,

Bà là tên Tế lâu dài với sông. (70)

Sông tên bà, núi tên ông,

Thoại Sơn Vĩnh Tế song song miên trường.

Cách chừng vừa một dặm trường,

Có am Bà Thợ lửa hương phụng trì.

Thầy thông Cang, bụng háo thi,

Tháp chôn Bà Thợ tốn khi quá ngàn.

Cang chịu bạc hơn một ngàn,

Còn bao nhiêu nữa phân chan cho người.

Suối vàng Bà Thợ ngậm cười,

Thầy Cang cũng tiếng rạng ngời muôn năm. (80)

Thương thay người rất hảo tâm,

Rủi ro nay đã qui âm số trời.

Sống sao thác vậy nhớ lời,

Đem về an táng kế nơi tháp bà.

Thiện nam tín nữ gần xa,

Nội Châu Đốc hạt đều là yêu thương.

Tạc làm thần chủ tỏ tường,

Thờ trong am tự thường thường nghiêm trang.

Một tòa chùa Phật Tây An,

Nhứt Thừa hòa thượng thanh nhàn tiên du. (90)

Roi truyền y bát mấy thu,

Nay còn các sãi giữ tu đến rày.

Núi Sam trên núi cao xây,

Tháp đài vọi vọi ngó tày vân tiêu.

Cây reo tiếng tợ tiêu thiều,

Sương mơi mát mẻ gió chiều lai rai.

Nhà lầu rộng rãi an bài,

Mỗi phòng đều có cẩm lai ván ngồi.

Lính thường canh gác lau chùi,

Các loài thập vật mộ ngôi sẵn sàng. (100)

Bông hoa cây trái tứ bàn,

Đường quanh theo núi đi càng thung dung.

Tốn hao hết mấy nhơn công,

Chi nhường phong cảnh chỗ Bồng Lai tiên.

Quan gia lui tới liền liền,

Núi Sam danh tiếng cũng miền thanh bai.

Trà Sư cho đến núi Giài,

Dân cư rẫy ruộng lúa khoai đầy đường.

Đốc công tạo lập sở vườn,

Thanh hoa đẳng vật coi thường vẻn vang. (110)

Cất bên một cái nhà bàng,

Để khi ăn uống nghĩ an luận bàn.

Sau lập chợ phố hai hàng,

Người đều kêu chợ Nhà Bàng thành danh.

Vui xem Núi Két cảnh xinh,

La-kê Đốc học lập thành vườn to.

Bấy lâu gầy dựng qui mô,

Nay đà cây trái trời cho hưởng nhờ.

Cư dân trù mật cõi bờ,

Ruộng vườn rẫy bái tư cơ trăm ngàn. (120)

Cây dương trồng thẳng một hàng,

Tại chùa Bóng Thị cảnh càng lịch thanh.

Chùa coi tinh khiết hữu tình,

Mà đồ vật dụng sắm sanh quá kỳ.

Ghế giường chén dĩa thiếu chi,

Mùng mền chiếu gối biết thì bao nhiêu.

Đêm khuya cúng cấp quạnh hiêu,

Chùa không thờ Phật bàn nhiều nghinh ngang.

Thị là bổn chất nam trang,

Mà bề cử chỉ giả trang nữ hình. (130)

Tu hành bày sự trớ trinh,

Gạt người lấy của kinh dinh cho mình.

Núi Đài Tốn, chỗ anh linh,

Mên kêu Coài Tón âm thinh cũng gần.

Nghề hay đồ gốm hỏa phần,

Cà ràng trách trã người mần thường cuyên.

Bắp khoai mía đậu khắp miền,

Phố phường nhà cửa xóm riềng nghiêm trang.

Học trường điển xá của quan,

Miễu chùa tu chỉnh lớp lang phải bề. (140)

Tuy là một chỗ xứ quê,

Trên bờ dưới nước phủ phê bĩ bàng.

Nguyên xưa đất lắm hoang nhàn,

Mấy ông lớp trước mở mang rạch cồn.

Sở tại là Hưng Nhượng thôn,

Thành hoàng miễu võ nghiễm tôn một tòa.

Thuở chưa thiết lập quan nha,

Ông Tri huyện Ở võ ca đình thần.

Võ Văn Vạng, tánh mẫn cần,

Việc quan khuya sớm dần dần ra công. (150)

Đào kinh tên Bọt-Cơ-Giông,

Thấy dân nghèo khổ lấy lòng thương dân.

Chạy tờ xin tỉnh thi ân,

Quan trên cho bạc tạo tân Huyện đường.

Lại xin lập điển báo trường,

Sửa sang phong cảnh dạy hương chức làng.

Thất sơn hòn dọc hòn ngang,

Nói sao cho xiết cả ngàn phong cương.

Sa nhơn trầm tốc giáng hương,

Thổ nghi dược liệu thường thường có sanh. (160)

Bông mai vàng trắng tươi xinh,

Đến mùa bẻ xuống bán nhành chơi xuân.

Cát với đá, vật trong rừng,

Dân nhờ huê lợi chuyển luân xây dùng.

Vôi thì tại xứ Càn Long,

Núi Sam đá tốt cát ròng trắng tinh.

Mấy cù lao ở xanh quanh,

Lao Ba thứ nhứt đậu xanh dâu chàm.

Bắp dưa khoai mía siêng làm,

Dân cư hai phía Bắc Nam mật trù. (170)

Đẹp thay địa cảnh Tân Châu,

Kiểm lâm ở đó coi thâu thuế bè.

Các bè cây gỗ kiến tre,

Nơi trên sông lớn thả về ghé ngang.

Kiềm lâm xem xét kĩ càng,

Nạp, đăng bạc thuế rõ ràng rồi đi.

Dinh quan Đốc phủ oai nghi,

Phần ngài cai trị vậy thì xả dân.

Nguyễn Trung Thu, nết thận cần,

Sửa nên phong tục mỹ thuần khá khen. (180)

Kề mé sông chợ đông ken,

Bán buôn đông đảo tối đèn sáng giăng.

Bờ kinh nhà cửa lăng xăng,

Xóm nhà đông lắm gọi rằng Châu Giang.

Gốc xưa Ai Cập đem sang,

Lớp nào không biết ở an đến rày.

Ngày nay sanh đẻ đông dầy,

Nam phụ lão ấu cà bầy cả phe.

Nghề hay buôn bán dưới bè,

Chở chuyên cây ván xuồng ghe bộn bàn. (190)

Thuốc trên sông lớn Nam Vang,

Mua về bán khắp lưỡng giang hậu tiền.

Bán đồ gấm nhiễu thường niên,

Rạch ngòi ruộng rẫy tánh siêng làm hoài.

Đi ghe đem đỏi lưới chài,

Kiếm tôm kiếm cá hôm mai đỡ tiền.

Nhặt nghiêm rượu thịt cử kiêng,

Trà ngon bánh tốt sắm liền để ăn.

Giữ bề cần kiệm làm căn,

Bảy ngày một bữa lệ hằng nghỉ ngơi. (200)

Coi cũng như đạo Chúa Trời,

Đến ngày lễ bái vui chơi thanh nhàn.

Lệ bữa nghỉ, chà Châu Giang,

Đọc kinh đánh trống vái van tại chùa.

Chùa không thờ Phật thờ vua,

Tư bề trống trải như chùa bỏ hoang.

Đâu đâu sạch sẽ kĩ càng,

Nhắm mặt trời lạy lại càng thành tâm.

Đọc kinh Ai Cập thinh âm,

Cứ ngày ba buổi lâm râm lạy trời. (210)

Mỗi năm chừng đến tháng mười,

Lệ bày đoạn thực phép thờ quá gay.

Không ăn nhịn đói cả ngày,

Nửa đêm thinh tịnh dọn rày ra ăn.

Nhịn trong một tháng thẳng băng,

Gốc xưa Hồi giáo lưu căn tới rày.

Tên Ma-Cáp-Mặt cũng hay,

Tổ sư Hồi giáo làm thầy khởi ra.

Người sanh tại xứ Mạch Gia,

Làm nên sách dạy gọi là Khả Lang. (220)

Phép đạo rằng Y-Tư-Lang,

Lưu truyền đồ đệ muôn ngàn thạnh đông.

Tây nam các nước phục tùng,

Miễu thờ Cáp-Mặt tôn sùng vạn niên.

Thuở kia đội ngũ binh biền,

Kêu quân chiến thắng trận liền lập công.

Đua ghe có tiếng Nam Trung,

Nhẹ nhàng mạnh lẹ ruổi dung hướng tiền.

Cám thương ông Hiệp Quản Tuyên,

Người đều khen ngợi sanh tiền trung can. (230)

Châu Giang tục cất nhà sàn,

Mái xuôi nóc dọc vẻn vang ra vào.

Chừa song cửa ấy mở thông,

Trong nhà con gái đã chồng an nơi.

Tánh không lãng phí ăn chơi,

Gái trai cần mẫn lẽ trời tự nhiên.

Làm ăn ưa ở giang biên,

Dễ bề xây dựng chở chuyên gần nhà.

Vũng Bình Thiên phía trên xa,

Ca-cô-ki cũng xóm Chà ở đông. (240)

Thổ nghi phong tục lược đồng,

Coi ra đại khái như dòng Châu Giang.

Chà Ca-Cô lắm thói gian,

Năng đi giả mạo xưng quan xưng thầy.

Lao-táng-dù đẹp lắm thay,

Tiếng lụa Bà Tứ lâu nay danh đồn.

Thiệt thà dân ở hương thôn,

Nghề trồng dưa đậu dầy cồn lịch thanh.

Cái Vừng thổ sàn rất xinh,

Xứ làm tơ lụa có danh Nam kỳ. (250)

Dưới trên rẫy ruộng thiếu chi,

Miễu chùa tế tự lễ nghi tỏ tường.

Có người dự trúng khoa trường,

Làm thầy nho học Tú Thường là tên.

Mấy chụ năm nay rất bền,

Học trò các xứ xuống lên ra vào.

Lao Tây một chỗ cù lao,

Nhà thờ Thiên Chúa xây cao hai từng.

Bông hoa cây trái đua mừng,

Tư bề ruộng khẩn kinh rừng mới khai. (260)

Mã trường rạch dọc mà dài,

Tục kêu Ruột Ngựa còn hoài hiệu danh.

Thường niên thủy lợi thâu thành,

Mua đi bàn lại dinh sanh đủ dùng.

Dân nhờ lúa gạo thêm sung,

Lại thêm đồ rẫy trồng cùng hương thôn.

Vàm Nao thuở trước tiềm long,

Tây Sơn tặc đảng điệp trùng xâm lăng.

Ngang qua theo mé Ba Răng,

Rạch ngòi thủy lợi giăng giăng cả đồng. (270)

Mặt-Dòn thượng hạ sonh song,

Diện-Hầu thượng hạ chữ trong bộ làng.

Tục kêu hai xứ rõ ràng,

Sở trên sở dưới muôn ngàn dân đông.

Biết bao nhiêu giống cá đồng,

Phái viên các cậu mua trùm trên quan.

Rồi thì bán lại cho làng,

Mấy người cầm rạch chứa chan bạc tiền.

Trà Dư Hùng Ngự các miền,

Với hai sở ấy đất liền ở trong. (280)

Sông dài nước cỏ minh mông,

Cá sanh tràng nhẩy ruổi dong rạch nò.

Lóc rô trèn kết sặc vồ,

Châu Dốc vồ đém với là trên-răng.

Điếm đàng cờ bạc lăng xăng,

Thú vui đĩ thả ở giăng xóm làng.

Thầy làm thuốc dạo cũng nhàn,

Đậu ghe theo chỗ tể hoàn đơn cao.

Tối thì mòng muỗi ào ào,

Ở đâu quen đó biết sao mà từ. (290)

Châu Đốc lúa gạo không dư,

Nhờ sơn thủy lợi lợi cừ vạn thiên.

Sông Vĩnh Tế, vào Tịnh Biên,

Dân cư theo xóm địa liên Giang Thành.

Giang Thành có miễu anh linh,

Thờ ba ông lớn sự kinh lâu đời.

Xứ coi quê kịch một nơi,

Mà bề tế tự cúng mời đủ nghi.

Khá khen hương chức nhơn nghì,

Ngọn rau tất đất lắm khi kính thành. (300)

Nam kỳ biết mấy rạch kinh,

Một kinh Vĩnh Tế có danh rộng dài.

Hớn Mên xen ở trong ngoài,

Vào tới Giang Thành có ngả chia hai.

Tả biên ngó thấy Pháo đài,

Bên kia phá biển mé ngoài hà Tiên.

Hữu biên Sốc-mẹt tới miền,

Giáp lên Mên cảnh đất liền minh minh.

Dầu chai tiếng xứ Lình Quỳnh,

So bề đượm tốt Tây Ninh hơn nhiều. (310)

Trời sanh phong thổ mỹ miều,

Nước non lợi lộc biết nhiêu bạc vàng.

Bởi vì tiền hậu nhị giang,

Đuôi cù lao Kết rõ ràng phân hai.

Sông Sau một ngọn lớn dài,

Bên kia Châu Đốc xuống hoài vơi vơi.

Chảy về Ba Thắc các nơi,

Chảy luôn ra biển xa khơi vô chừng.

Sông Trước phía bên Cái Vừng,

Tàu Nam Vang tới thì ngừng Tân Châu. (320)

Chảy về Sa Đéc Cái Tàu,

Vĩnh Long xuống Mỹ có cầu nghiêm trang.

Chảy ra Cửa Tiểu một đàng,

Hai bên các rạch trăm ngàn linh tinh. (324)


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Liên Phong – Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 – 22

Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm được sáng tác những năm cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Trong những năm này, chữ quốc còn sơ khai nên cách dùng từ và hành văn có khác so với hiện đại.

Chúng tôi có chỉnh sửa vài “lỗi chính tả” và giữ nguyên các từ cổ cũng như cách hành văn, ngắt câu của tác phẩm.

Bản in gốc 1909, định dạng pdf


Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 22Cuốn 2 – 22: Hà Tiên

Hà Tiên phong cảnh thi:

Hà Tiên non nước cảnh vui tình,

Thập vịnh hiền xưa đã tạc danh.

Đảnh pháo đài, đăng quang chiếu diên,

Mạc tiên công, miễu rõ anh linh.

Am chùa hang động nhiều nơi cổ,

Thơ phú rượu đờn lắm kẻ thanh.

Nhớ thuở Cao hoàng hưng đế nghiệp,

Bầy xà cứu giá giữa dòng xanh.


Hà Tiên phong cảnh lịch thanh,

Nguyên xưa Mạc Cửu riêng mình phụ dung.

Tục kêu là Mạc tiên công,

Gốc vì để tóc môt lòng thờ Minh.

Cam bề chẳng ở đất Thanh,

Huề gia thiết quyến tách mình trùng dương.

Qua Hà Tiên, lập phong cương,

Câu liên trước cửa người thường đọc vang.

Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 22

Hiếu vương chúa Nguyễn sắc ban,

Phong Tông binh chức một phương chuyên quyền. (10)

Hiệu Vĩnh Thạnh Ất vì niên,

Giặc Mên đánh phá Hà Tiên không dè.

Tiên công thoàn chạy Vũng Kè,

Phu nhơn Bùi thị tư bề hoảng kinh.

Giữa sông chuyển bụng thình lình,

Đẻ ông Thiên Tích lòa mình hào quan.

Lồi lên một vị Phật vàng,

Lớn cao đồ sộ thấy càng sợ ghê.

Sáng ra xem xét tư bề,

Sai quân dìu đỡ khiêng xê vô bờ. (20)

Công bèn tướng địa khai cơ,

Lập chùa mé nước phụng thờ đến nay.

Tưởng ra điềm cũng lạ thay,

Đặt tên Thiên Tích nghĩa rày trời cho.

Dần dần sắp đặt qui mô,

Làm nên sự nghiệp cơ đồ bền lâu.

Bính Thìn Vĩnh Hựu năm sau,

Cho ông Thiên Tích tước hầu tập phong.

Mạc hầu ăn học lắm công,

Hà Tiên thập vịnh tả trong cảnh mình. (30)

Mên thường cưu dạ bất bình,

Giận vị Mạc thị chiếm tranh biên thùy.

Tìm mưu tranh đoạt nhiều khi,

Ghe phen tích oán vậy thì sanh tâm.

Nắc-Vồn binh mã lai xăm,

Mạc hầu đánh phá giải dầm tuyết sương.

Đánh Mên duổi đã xa đường,

Rượt theo bố trận đêm trường với nhau.

Phu nhơn Nguyễn thị kế sâu,

Đem binh phụ nữ cơm âu sẵn sàng. (40)

Cho quân thay đổi bảo sang,

Ăn no đủ sức phá tan Nắc-Vồn.

Quan Mên mất vía kinh hồn,

Tự tư dĩ hậu tiếng đồn oai linh.

Đắc tiền hiệu chữ thái bình,

Nơi Vũng Thơm xứ đẹp tình nhơn dân.

Cao hoàng đại mạng chơn quân,

Trời xui gặp gỡ hiền thần cũng duyên.

Tây Sơn binh tướng đầy miền,

Mạc hầu cô thế ngài liền sang Xiêm. (50)

May nhờ lân hảo một niềm,

Thỉnh binh cứu viện cơ tìm ngày sau.

Bị Mên xàm nịnh gian tâu,

Rằng Gia Định có Mạc hầu mật thơ.

Mưu thâu Vọng Các cõi bờ,

Vua Xiêm bắt hết bây giờ tra minh.

Ỷ khôn đôi chối sự tình,

Mạc hầu Thiên Tích liều mình chết oan.

Người ngay hồn xuống suối vàng,

Một vùng chánh khí nhẩy tràng thương minh. (60)

Nay còn miễu võ hiển linh,

Mộ bi sắc tặng đành rành của vua.

Thơm tho huyết thực bốn mùa,

Người ta đều gọi rằng chùa Lịnh công.

Trời xanh chẳng phụ hiếu trung,

Dấu roi cháu chắt còn sung mối giềng.

Mạc Tử Khâm là chắt hiền,

Rừng ong phần thực bạc tiền lửa hương.

Chùa thêm tráng lệ cột rường,

Bởi vì công cộng các phương của người. (70)

Câu liên trước cửa rạng ngời,

Một nhà trung nghĩa bảy đời phân ly.

Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 22

Tại làng Mỹ Đức oai nghi,

Hậu tiền tả hữu nguy nguy miễu tòa.

Hai mươi hai hạt người ta,

Biết chùa Ông Lịnh từ xa đến gần.

Hà Tiên phong tục tế thần,

Giới trai thành kính lòng cần thỉ chung.

Cỗ bàn tinh khiết bề trong,

Lễ văn phép tắc ngoài không kiểu tình. (80)

Cảnh chùa Thạch Động rất xinh,

Cao tăng lớp trước có danh nhơn hiền.

Mấy thầy nho học Hà Tiên,

Năng khi tới đó cầu tiên thường thường.

Lâm Ân phù chú cao cường,

Bùa hay trấn quỉ mở trường Kỳ Tiên.

Học trò có thú vui riêng,

Thỉnh tiên giáng hạ đàng tiền khất thi.

Hội đồng Hiến, Phụng Lai Nghi,

Đều là xảo biết cầm kỳ văn chương. (90)

Châu thành phong thổ hiền lương,

Cây dương trồng khắp nẻo đường gần xa.

Quan quân dinh dãy các tòa,

Cất trên nổng núi xem đà đẹp xinh.

Pháo đài nghiêm chỉnh quang minh,

Vọng đăng cao vọi nơi gành Mũi Nai.

Thinh thinh nhà chợ rộng dài,

Phố phường sạch sẽ trong ngoài làm ăn.

Thói dân nhựt dụng kiệm cần,

Gốc xưa lễ nghĩa nho văn lưu tồn. (100)

Tô Châu, Kim Dự, tiếng đồn,

Xanh quanh chơn núi hương thôn ở đầy.

Trồng tiêu làm rẫy tháng ngày,

Dân nhờ huê lợi sum vầy đủ tiêu.

Hòn Chông tiêu biết bao nhiêu,

Kẻ lui người tới dập dìu người ta.

Nhơn dân trù mật cửa nhà,

Sanh phương nghệ nghiệp trẻ già đều siêng.

Các làng chùa miễu khuôn viên,

Tang hôn thù tạc theo miền thú quê. (110)

Tàu đi Xiêm thổi xúp-lê,

Bộ hành chực sẵn đề huề xuống đi.

Cao hoàng thuở ấy lắm khi,

Hòn Chông Phúc Quấc lưu ly ra vào.

Có hồi quân sĩ khát khao,

Ăn rau đỡ đói miệng nào biết ngon.

Thị Huyễn có lòng tôi con,

Chở đầy ghe gạo ra hòn hiến công.

Ngày nay Phú Quốc thạnh sung,

Cù lao giữa biển dân đông vô hồi. (120)

Huyền tinh lại với đầu mồi,

Sắm ghe đi biển mắt lồi lái cao.

Long Giêng hương với Yến sào,

Mực tươi mắm ruốt vẹm ngao thiếu gì.

Tục hay ăn ở phải nghì,

Vãng lai thù tạc nhiều khi hết lòng.

Cây dương chẳng có ai trồng,

Mọc khơi mé biển điệp trùng dinh dư.

Hòn Phú Quấc chỗ kheo khư,

Xứ không trộm cướp dân cư thái bình. (130)

Nhớ xưa đương cuộc chiến chinh,

Ông Nguyễn Trung Trực tung hoành đã lâu.

Trước nơi Nhựt Tảo đốt tàu,

Sau nơi Rạch Giá đánh nhầu hoảng kinh.

Thương thay mấy lúc tan tành,

Rồi ra Phú Quốc ẩn danh tiềm tàng.

Lâm cơ túng thế phải hàng,

Phép công xử tại Kiên Giang bất chầy.

Bại thành nào kể dở hay,

Đã liều một chết rủi may cho rồi. (140)

Cửa Dương sóng bổ dập dìu,

Cám người nghĩa khí gặp hồi điệu linh.

Cổ Công, Cổ Cúc, xanh quanh,

Hòn Tràm giáp giái chỗ ranh Xiêm Là.

Đặt làm Thương chánh một tòa,

Quan quân dinh dãy cửa nhà phân minh.

Ghe buôn đến đó tạm đình,

Ghé vào đóng thuế công bình rồi đi.

Tàu đò tháng đặng vài kỳ,

Hải Tân một chỗ phải thì thạnh sung. (150)

Hà Tiên ít ruộng nhiều giống,

Người xài lúa gạo phải dùng các nơi.

Non nhơn nước trí thảnh thơi,

Thơ bài ngâm vịnh thú chơi thanh nhàn.

Hải Nam tàu cũng năng sang,

Bán qua mua lại hóa hàng thường xuyên.

Trường quan qui củ khuôn viên,

Chữ nhu cũng có trường riêng của mình. (158)


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Liên Phong – Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 – 21

Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm được sáng tác những năm cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Trong những năm này, chữ quốc còn sơ khai nên cách dùng từ và hành văn có khác so với hiện đại.

Chúng tôi có chỉnh sửa vài “lỗi chính tả” và giữ nguyên các từ cổ cũng như cách hành văn, ngắt câu của tác phẩm.

Bản in gốc 1909, định dạng pdf


Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 21Cuốn 2 – 21: Rạch Giá

Rạch Giá phong cảnh thi:

Vui tình hứng cảnh xứ Kiên Giang,

Dâu bể đổi đời khéo sửa sang.

Chánh bố đường, lầu đài tráng lệ,

Vĩnh Thanh Vân phố xá nghiêm trang.

Chôn bùn ngọn bút ngời màu chữ,

Giằm các trành gươm lố cốt gan.

Hòn đất hòn tre non nước tạc,

Ghe phen giúp đỡ đức Cao hoàng.


Rạch Giá nguyên huyện Kiên Giang,

Thuộc Hà Tiên tỉnh rừng hoang tư bề.

Xưa kia hiu quạnh xứ quê,

Bây giờ thành phố chỉnh tề sửa sang.

Bố đường cao rộng nghiêm trang,

Ngó ra kề biển thanh quan đẹp tình.

Nhà chợ một nóc thinh thinh,

Cầu đường sạch sẽ châu thành vẻn vang.

Vĩnh Thanh Vân xã một làng,

Chánh thôn sở tại kĩ cang đâu dằng. (10)

Nhờ quan chánh bố La Răng,

Qui mô sắp đặt bổn căng vững vàng.

Hớn Thổ sáu mươi chín làng,

Mà bề lịch tốt là làng Thanh Vân.

An-nam không có đình thần,

Theo Mên theo Khách lo phần cúng chung.

Bởi vì người ở mới đông,

Lễ nghi phép tắc chưa thông đủ điều.

Chùa Bà hương hỏa dập dìu,

Chùa Ông Bắc Đế biết nhiêu tôn sùng. (20)

Chùa Ông Bổn, với Chùa Ông,

Các Chùa Phật Thổ các giồng xanh quanh.

Vĩnh Thanh Vân, cảnh đẹp xinh,

Bởi Trần Chánh Chiếu công trình sửa sang.

Bốn năm làm xã gian nan,

Gốc nguyên chức trước đứng bàn thông ngọn.

Tánh người lanh lợi khéo khôn,

Xuất thân trợ sự nội thôn châu thành.

Mở mang sắp đặt cải canh,

Phố phường chợ búa phân minh tư bề. (30)

Đâu đâu thảy có luật lề,

Dân du lính tập chẳng hề dám ngang.

Sổ thẩu sổ xuất kĩ càng,

Nhà dân số hiệu rõ ràng không sai.

Vinh thăng Tri phủ văn dai,

Quốc gia ân hậu lâu dài hiển vinh.

Nối làm chủ bút nhựt trình,

Với ông Huyện Trụ kinh dinh sắp bày.

Phò trì phong hóa rất hay,

Gọi là Nông cổ tháng ngày công lao. (40)

Thánh hiền tào phách bì mao,

Còn trong đạo vị chút  nào cũng may.

Kiếm tìm sự tích xưa nay,

Chuyện chi hữu ích in rày để coi.

Tay cầm ban quản một ngòi,

Nôm na dấu để gương soi đành rành.

Người xưa khoa mục học hành,

Ông Tuần phủ Đạt triều đình chuộng yêu.

Phú thi ngâm vịnh rất nhiều,

Tác thành môn đệ người đều lớn khôn. (50)

Nay còn để dấu khương tôn,

Văn chương lễ nghĩa thập tồn nhị tam.

Lâm tuyền ẩn dật tự cam,

Tánh thầy Nhiêu Chánh không kham theo đời.

Mấy năm chẳng chịu dạy người,

Dần dần tiêu mất hết mười phần nhu.

Càng ngày kinh sử hoang vu,

Song mà phong tục tạc thù tương đôn.

Tập thành phong hóa các thôn,

Ruột gan khẳng khái lưu tồn hiếu trung. (60)

Kiên Giang ngoài biển trong đồng,

Trải xem thổ sản đồ dùng biết bao.

Cá Thu cá Cháy cá Cào,

Mực tươi khô gộc con hàu con đuông.

Cá đồng rạch trữ luôn luôn,

Nghề riêng mắm ruốt ngàn muôn bạc tiền.

Làm ăn đất tốt nước hiền,

Gạo thơm trắng dẻo có liền cả năm.

Dưa Môn bán cũng tiền trăm,

Mùa ong sáp mật đi thăm đầy rùng. (70)

Sân chim thay đổi không chừng,

Tại nơi Cái Lớn trong rừng lạ thay.

Hoặc là chỗ đó năm nay,

Lai niên chỗ khác gần rày một bên.

Giữa rừng dây choại kẹo lền,

Chim bay đáp xuống hóa nên sân bằng.

Người ta khéo kiếm làm ăn,

Lớp phơi lòng thịt lớp căng mỡ dầu.

Mà chim chẳng chịu đi đâu,

Mỗi năm mỗi bị tróc câu một lần. (80)

Đã hay vật dĩ dưỡng dân,

Dưỡng mà không đủ cứu bần trợ nguy.

Nỡ nào giết hết tông chi,

Tưởng nghề sanh lý cứu bần trợ nguy.

Lâu nay mấy chú hại chim,

Thường khi ngó thấy liêm diêm nghèo hoài.

Chiếu bông khổ vắn khổ dài,

Dệt ba bốn hạng cũng tài trong tay.

Xứ Rạch Giá, các thứ cây,

Tràm Nhum Kè Giá nhẩy đầy rừng hoang. (90)

Ruộng khai khẩn đất cả ngàn,

Ruộng đâu kinh đó sẵn sàng người ta.

Cái Bé, Cái Lớn, thẳng qua,

Dân cư theo xóm đều là nghiệp nông.

Ngặt vì nước biển mặn nồng,

Cây trái khó trồng người ở chưa đông.

Xáng đào kinh rạch đều thông,

Ngày sau đây cũng thạnh sung như thường.

Thổ Châu là xóm hiền lương,

Tục kêu Hòn Đất nhiều vườn trồng tiêu. (100)

Cà ràng trách trả quá nhiều,

Làm rồi đốt trấu  hầm đều đem ra.

Không như đất sét của ta,

Đất coi xốp bở làm đà quá mau.

Bán cùng thiên hạ đâu đâu,

Dân nhờ huê lợi bền lâu xây dùng.

Thuở Cao hoàng đế Gia Long,

Lắm khi trú tấc ruổi dung lánh nàn.

Sử xanh còn chép rỡ ràng,

Ngọn rau tấc đất thấy càng cảm thâm. (110)

Hòn Tre hình tợ rùa nằm,

Quan Tây mới khẩn mấy năm lập vườn.

Cũng là khôn khéo lo lường,

Hao công tốn của lập đường về sau.

Nay đà cây trái tốt mầu,

Dần dần hoa lợi góp thâu đặng nhờ.

Thon von giữa biển cõi bờ,

Siêng thời gầy dựng tư cơ chỉnh tề.

Tốt thay phong cảnh Hòn Tre,

Kiên Giang ngoại án xa che diện tiền. (120)

Có cái hang, ở tả biên,

Rộng hơn mười trượng miệng viên hẹp hòi.

Đứng ngoài nhắm nhía mà coi,

Có một cái mái hẳn hòi quá to.

Cớ sao đem lọt nó vô,

Chẳng hay khi trước lớp mô để đời.

Sóc Mên xóm ở các nơi,

Dân đều nghề nghiệp thảnh thơi trong nhà.

Chùa Mên thờ Phật các tòa,

Lễ nghi tập tục như là Trà Vinh. (130)

Trời cho đất nước hiền lành,

Trên bờ dưới biển dinh sanh dễ dàng.

Nhà giàu tiền của muôn vàn,

Nhà nghèo cũng đủ rảnh rang không cầu.

Mé ngoài giáp đến Cà Mau,

Mé trong giáp đến địa đầu Hà Tiên.

Phía Tây giáp lại Long Xuyên,

Cả trong toàn hạt ruộng liền với kinh.

Học trường sĩ tử linh tinh,

Một trong Rạch Giá châu thành thạnh sung. (140)

Bởi thầy Đốc Thiện có công,

Sớm khuya dạy dỗ đồng mông tấc tình.

Có con gái, biết học hành,

Dạy nơi trường gái cũng vinh phận nhàn.

Người trong son phấn điểm trang,

Nhờ cha dạy dỗ danh sang mỹ miều.

Sách đèn gắng sức mơi chiều,

Văn phòng tứ bửu thiệt nhiều thú xinh.

Kiên Giang huyện nhỏ có danh,

Ở theo mé biển đất bình rộng thinh. (150)

Diện tiền hải thủy minh minh,

Bãi cồn bốn phía ghe khinh bị chìm.

Thường khi buôn bán trong Xiêm,

Trời thanh biển lặng thuận êm khá lời.

Tàu hải Nam thường tới chơi,

Chở đồ tạp hóa tạnh trời năng qua.

Thứ Năm, thứ Sáu, thứ Ba,

Thư Tư, thứ Nhứt, với là thứ Hai.

Bảy, Tám, Chín, Mười quá dài,

Tên mười cửa biển đi hoài vòng nong. (160)

Nhà dân rải rác cũng đông,

Giáp Bạc Liêu hạt minh mông biển rừng.

Phía bên Rạch Giá có phần,

Phía Cà Mau phủ có chừng hạng ranh.

Ngày nay lúa ruộng thâu thành,

Cần Thơ thứ nhứt nhị đành Kiên Giang.

Bấy năm khai phá đất hoang,

Đào kinh mở rạch ngổn ngang tư bề.

Nên ra đất tốt ê hề,

Đất đâu lúa đó phủ phê nhẩy tràng. (170)

Mấy ông hào hộ lắm trang,

Ăn chơi gan ruột giàu càng lịch thanh. (172)


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Liên Phong – Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 – 20

Vài lời từ người đánh máy

Tác phẩm được sáng tác những năm cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Trong những năm này, chữ quốc còn sơ khai nên cách dùng từ và hành văn có khác so với hiện đại.

Chúng tôi có chỉnh sửa vài “lỗi chính tả” và giữ nguyên các từ cổ cũng như cách hành văn, ngắt câu của tác phẩm.

Bản in gốc 1909, định dạng pdf


Nguyễn Liên Phong - Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca 1909 - 20Cuốn 2 – 20: Long Xuyên

Long Xuyên phong cảnh thi:

Ngùi xem phong cảnh xứ Long Xuyên,

Cám thuở Cao hoàng vận đảo điên.

Hồn núi Thoại Sơn kinh Lạc Dục,

Cù lao Ông Chưởng miễu linh thiên.

Cỏ hoa chim cá mừng non nước,

Chàm đậu tằm tơ đỡ xóm riềng.

Làng tổng nơi nơi đều mỹ tục,

Tâ cần tập tánh tánh càng siêng.


Long Xuyên thuộc phủ tuy biên,

Cựu trào có đặt Tây Xuyên huyện đường.

Vàm đặt Tấn Thủ phân cương,

Lúc Tây Sơn loạn quân thường giữ canh.

Tân trào thiết lập châu thành,

Kêu Long Xuyên hạt đành rành mới sau.

Đất nhiều điên điển cỏ lau,

Qua mùa nước gập ở đâu trôi đầy.

Cù lao Giêng cảnh lịch thay,

Dinh Châu chữ đặt chỗ rày đẹp xinh. (10)

Nhà thờ cao vọi thinh thinh,

Nhơn dân trù mật vui tình ấm no.

Có ông Linh mục siêng lo,

Mỗi tuần dạy đỗ xem lò luật kinh.

Các bà Phước, phận hiền lành,

Phụ công phụ hạnh tu hành chẳng sai.

Tằm tơ nghề nghiệp hôm mai,

Lợi trong thổ sản gái trai đều nhờ.

Ruộng là căn bổn tư cơ,

Rẫy trồng bông trái cõi bờ sáng trưng. (20)

Đất ưa giống lúa Tham Đưng,

Mình cao chịu nước nặng cân khá tiền.

Bắp khoai dưa  mía các miền,

Dân cư đạo ngoại tánh siêng năng thường.

Vẻn vang có chỗ học trường,

Trẻ con đèn sách khiêm nhường nết na.

Tàu đò lớn nhỏ lại qua,

Bộ hành lên xuống vào ra dễ dàng.

Các cù lao, các xóm làng,

Lao Giêng thứ nhứt lịch sang tiếng còn. (30)

Thốt Nốt ngang qua Tra Mòn,

Miễu chùa tế tự vuông tròn lễ nghi.

Tang hôn phải đạo nhơn nghì,

Gốc xưa văn học phú thi lưu tồn.

Trà Mòn bí rợ tiếng đồn,

Lấp Vò trứng vịt đã ngon lại nhiều.

Ghe đi buôn bán dập dìu,

Tới hai xứ ấy thảy đều có mua.

Thủ Chiếu Sai xứ quê mùa,

Nhà dân đông đảo miễu chùa nghiêm trang. (40)

Trại cưa dãy dọc dãy ngang,

Chuyên nghề ươm dệt cả làng thói siêng.

Nam phụ nội thôn Tú Điền,

Đều là biết dệt nghề riêng trong nhà.

Xanh quanh mấy chỗ gần xa,

Mua hàng Chợ Thủ tiếng đà thuở nay.

Trời sanh phong thổ cũng hay,

Trên tơ lụa đú dưới cây ván nhiều.

Công ngôn dung hạnh mỹ miều,

Gái hay thêu dệt người đều thanh thao. (50)

Sông Lễ Công, chỗ cù lao,

Miễu quan Chưởng Lễ thuở nào lưu lai.

Đông Nai cũng có miễu ngài,

Nam Vang Châu Đốc lại hai chỗ thờ.

Coi ra hiển hích bây giờ,

Cù lao Ông Chưởng tư cơ đứng đầu.

Nguyễn Hữu Cảnh Lễ Thành hầu,

Sắc phong thượng đảnh thần đâu ví tày.

Nhớn ơn khai quốc nặng dày,

Vua ban tiền bạc dựng gầy miễu cơ. (60)

Xóm làng bồi bổ đến giờ,

Thần linh bảo hộ cõi bờ vững an.

Thường niên tế tự kĩ càng,

Nghi văn trần thiết đoan trang kỉnh thành.

Bể dâu mấy lúc cải canh,

Công thần khai quốc quân danh đời đời.

Rẫy trồng chàm đậu khắp nơi,

Ruộng nhiều giống lúa tiếng thời Tham Đưng.

Rạch ngòi cá mắm làm ăn,

Cá vồ với cá trèn răng ngon thường. (70)

Khá khen các chức bổn thương,

Quốc vương thủy thổ chạnh thương bồi hồi.

Nhớ xưa sự tích ngùi ngùi,

Cao hoàng tìm để chúa tôi ra vào.

Đồn quân thứ, tại Vàm Nao,

Gặp cơn ly loạn xiết bao nạn nhà.

Vàm Nao chữ đặt Hồi Hoa,

Chỗ nhằm mũi nước chảy qua quanh vòng.

Sông Sau sông Trước hai dòng,

Phân ra hai ngã ngoài trong vận đào. (80)

Các ngả gần, chảy nhập vào,

Tục kêu là xứ Vàm nao rõ ràng.

Vực sâu như hố như hang,

Trưởng sanh cá mập tiềm tàng họa ương.

Nay tàu lên xuống đi thường,

Lại thêm cồn nổi hẹp đường Vàm Nao.

Bấy lâu an ổn ba đào,

Còn kình bặt dấu âm hao đến rày.

Rẫy trồng chàm mía nhặt dày,

Khoai dưa bắp đậu ngó đầy nơi nơi. (90)

Làm ăn nghề nghiệp thảnh thơi,

Cả năm vừa cũng sự đời đủ tiêu.

Đốc vàng thượng hạ dập dìu,

Miễu chùa nhà cửa xứ nhiều chỗ linh.

Trên bờ rẫy ruộng thâu thành,

Dưới sông cá mắm dinh sanh cội nền.

Cá Linh từ đó sắp lên,

Bước qua mùa nắng kẹo lền bực sông.

Dầu cá Linh, lò nấu cùng,

Tối thì nổi lửa theo vòng giang biên. (100)

Vợt xúc lên bỏ nấu liền,

Ghe buôn thấy cũng giải phiền tâm trung.

Long Xuyên mùa nước ngập cùng,

Tục dân buôn bán dưới sông nhà bè.

Phường dinh vô thấu nhà quê,

Cất nhà sàn ở kém bề vẻn vang.

Công đường bên niếc bên phang,

Lầu đài cao thấp thanh quan các tòa.

Tàu đò lục tỉnh ghé qua,

Bộ hành cũng có đờn bà đờn ông. (110)

Tàu đi Rạch Giá chực trông,

Chiếc thì của khách chiếc trong hãng mình.

Dân Mên các sóc linh tinh,

Ở theo có xóm ngoài minh mông đồng.

Có ông Quản hạt Hội đồng,

Tên Trần Bá Diệp mẫn thông tiếng đồn.

Trước làm tòa bố Thông ngôn,

Tánh hay kiến gnhi4a xã thôn phục tình.

Huỳnh đường ông Nguyễn Hà Thanh,

Vinh thăng Tri phủ hiển danh xứ mình. (120)

Nghĩa phương giáo huấn gia đình,

Chuộng yêu đạo thánh ngâm bình phú thi.

Tuổi đà bảy chục chưa suy,

Cũng là phải mặt tu mi lão thành.

Làng Mỹ Thạnh Ngô Văn Sanh,

Gốc nhà nhơn đức lịch thanh phú hào.

Làm Hiệp quản, thuở Cựu trào,

Sau làm Tổng việc Tân trào có danh.

Vợ chồng tánh ở hiền lành,

Lúa tiền thường giúp dân tình làm ăn. (130)

Trời cho nhờ hưởng phước thần,

Ông bà khi thác tuổi chừng tám mươi.

Sanh con cháu thảy nên người,

Hội đồng Cai tổng rạng ngời khôi tiên.

Đời Gia Long, thập thất niên,

Ông Bảo hộ Thoại phụng truyền chỉ sai.

Đào kinh Lạc Dục rất dài,

Ngang qua Núi Sập trong ngoài giao thông.

Rồi vừa một tháng nhơn công,

Giáp vô Rạch Giá thương nông đều nhờ. (140)

Hườn thành hạng đạo tư cơ,

Họa đồ với sớ chung tờ tâu dưng.

Vua khen công khó nhọc nhằn,

Cho tên Núi Sập kêu rằng Thoại Sơn.

Vinh như Ông Thoại chi hơn,

Danh tiếng không sờn nơi miệng người ta.

Trào Minh Mạng năm thứ ba,

Thoại Hầu xuất của cất ra miễu thần.

Bên triền Núi Sập gần gàn,

Dựng bia đá lớn tự trần công lao. (150)

Ngày nay xáng lại thêm đào,

Càng sâu rộng nữa càng vào ra đông.

Hai bên đất trống minh mông,

Bên đồng Núi Sập bên đồng Ba Thê.

Tuy là Núi Sập chỗ quê,

Học trường điển xá đủ bề nghiêm trang.

Trên cao có cái nhà quan,

Lính thường canh gác lịch sang để đời.

Khi nào thừa hứng dạo chơi,

CÁc quan tới đó sẵn nơi nghỉ ngồi. (160)

Ba Thê ruộng đất vô hồi,

Ở xen Hớn, Thổ tài bồi chưa sung.

Đất liền tứ hướng không không,

Giáp lên Châu Đốc với đồng Kiên Giang.

Tám tổng sáu mươi xã làng,

Dân thường lạc nghiệp tục an thanh nhàn. (166)


Còn tiếp

Related Images: