Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 07 – Áo Môn lữ ngụ Xuân Hòa Đường thư hoài

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 07 – Áo Môn lữ ngụ Xuân Hòa Đường thư hoài

Phiên âm (*)

Bạch vân hoàng diệp lưỡng du du,

Bách cảm liệu nhân thảm đạm thu.

Thiên nhược hữu tình ưng cộng lão,

Địa như vô hận diệc sinh sầu.

Tiêu tiêu cổ mộc sơn xuyên lạc,

Cổn cổn trường giang trú dạ lưu.

Vị bốc tha niên như nguyện phủ,

Kỷ hồi trù trướng độc đăng lâu.


Dịch nghĩa: Đất khách Áo Môn trọ ở Xuân Hòa Đường viết tả nỗi lòng

Mây trắng lá vàng cùng man mác,

Trăm mối cảm trêu ghẹo người mùa thu thảm đạm.

Trời nếu hữu tình nên cùng già,

Đất nếu không có hận cũng sinh sầu.

Rào rào lá cây cổ rụng xuống núi sông,

Cuồn cuộn sông dài chảy suốt đêm ngày.

Chưa biết năm khác có như nguyện hay không,

Mấy phen bồi hồi một mình lên lầu.


Hoài Anh dịch thơ

Lá vàng mây trắng chơi vơi,

Thu sang trăm mối cảm hoài gợi trêu.

Trời hữu tình, nên già theo,

Đất không hận, bỗng sinh sầu, lạ thay!

Rào rào lá đổ nghìn cây,

Sông dài cuồn cuộn đêm ngày liên miên.

Năm sau biết có như nguyền,

Mấy phen buồn, một mình lên trên lầu.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 03 – Đồng Trần Tuấn, Hà Bính Xích Hạ chu trung tạp vịnh

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 03 – Đồng Trần Tuấn, Hà Bính Xích Hạ chu trung tạp vịnh

Phiên âm (*)

Phiêu bồng (1), đoạn ngạnh (2) cộng du du,

Không đới nam quan (3) vạn lý sầu.

Tráng sĩ tự năng thù quốc trái,

Trượng phu thùy khẳng vị thân mưu.

Phiến tâm vị đạt môn trùng toản,

Nhất sự vô thành lệ ấm lưu.

Cục tích tiền đồ thiên địa trách,

Đế hôn đồ vọng bão kỳ du.


Dịch nghĩa: Cùng hai bạn Trần Tuấn, Hà Bình chơi thuyền trên sông xích hạ, có bài tạp vịnh

Gió thổi cỏ bồng, nước trôi cành gãy, man mác thay cái cảnh phiêu lưu,

Trùm đầu cái mũ phương nam, mà vẫn đeo sầu ở nơi quan san muôn dặm.

Tráng sĩ bền gan cần phải đền bồi nợ nước,

Trượng phu lập chí nào nghĩ đến việc riêng mình.

Cửa vua mấy lần khóa thâm nghiêm, tấm lòng thành chưa hay thấu tới.

Nước mắt biết bao phen sùi sụt, một việc gì cũng chẳng làm xong.

Cúi mình chùn bước trên đường đi, trời đất sao mà chật hẹp,

Đầy dạ biết bao mư kế, nhưng chỉ biết để mắt trông về nơi đế khuyết, xiết nỗi mong chờ.


Chú thích

(1): Phiêu bồng: trích trong câu  Phong tống phiêu bồng, nghĩa là gió thổi cỏ tranh, vì nhẹ thổi đi rất xa.

(2): Đoạn ngạnh: Chiến quốc sách chép “Cành đào gạy bị nước sông trôi đi, không biết trôi dạt đến đâu là chừng.

(3): Nam quan: (lối mũ phương nam) tức là nước Sở thời chiến quốc.


Hoài Anh dịch thơ: 

Cành đào gãy, cỏ bồng trôi,

Tha hương, quan tái xa xôi những sầu.

Luôn vì nợ nước lo âu,

Trượng phu lập chí nghĩ đâu riêng mình.

Cửa vua chưa thấu lòng thành,

Chẳng tròn một việc, lệ đành thầm rơi.

Làm sao hẹp thế, đất trời?

Mong chờ, mắt chỉ ngóng nơi đế đình.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Tác phẩm

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử
Khu lăng mộ Ngô Nhơn Tĩnh tại Tp. Hồ Chí Minh

Ngô Nhơn Tĩnh – Tác phẩm

Ngô Nhơn Tĩnh học giỏi, thơ hay. Khi đi sứ được người Nhà Thanh khen tài văn chương. Ngô là học trò của Võ Trường Toản, ông cùng với Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định được người đương thời xưng tặng là ba nhà thơ lớn đất Gia Định (Gia Định Tam gia) trong nhóm Bình Dương thi xã.

Sự nghiệp văn thơ của ông để lại có:

  • Thập Anh đường thi tập (in khắc 1811) gồm 81 bài thơ chữ Hán, chủ yếu làm trong dịp đi sứ.
  • Thập Anh văn tập, gồm 187 bài kinh nghĩa lấy đề tài trong Kinh Thi, Kinh Thư, được soạn làm tài liệu cho người học đi thi (theo Nho học).
  • Gia Định tam gia thi tập, chung với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định.
  • Hoan Châu phong thổ ký (Hoan Châu xưa, ngày nay là Nghệ An) soạn chung với Bùi Dương Lịch (1774-1814). Nội dung sách viết về phong tục, nhân vật, diên cách của 12 huyện thuộc đất Hoan Châu xưa (Nghệ An ngày nay). Kế đến viết về danh thắng, núi sông, cổ tích, đến miếu xứ Hoan Châu xưa. Đây có thể được xem là một trong những tác phẩm về địa phương chí Nghệ An sớm nhất.
  • Ông là người hiệu đính sách Hoàng Việt nhất thống địa chí của Lê Quang Định.

Đăng tác phẩm tại dienvan.space

Tôi vẫn chưa có được toàn bộ các tác phẩm của Ngô Nhơn Tĩnh. Tôi sẽ đăng lần lượt theo tiêu chí “có bào nhiêu đăng bấy nhiêu” để phổ biến rộng rãi hơn đến bạn đọc gần xa.

Mục lục tất cả các tác phẩm của Ngô Nhơn Tĩnh.

Chúc độc giả có khoảng thời gian thú vị qua những áng văn thơ xưa.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử
Khu lăng mộ Ngô Nhơn Tĩnh tại Tp. Hồ Chí Minh

Ngô Nhơn Tĩnh – Tiểu sử

Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm nào không rõ (*), tự Nhữ Sơn. Nguyên tổ phụ là người Quảng Đông sang đất Gia Định. Đến đời Ngô Ngơn Tĩnh, cầu học với Võ Trường Toản. Ông cùng ra giúp nước một lượt với hai bạn đồng học là Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức. Ban đầu Ngô lãnh chức Hàn lâm viện Thị Độc.

Năm Mậu Ngọ (1798), Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường bàn nghị phải sai người sang Nhà Thanh để dò la tin tức vua Lê Chiêu Thống.

Hai người dâng biểu nói:

Ngô phẩm hạnh ngay thẳng, học vấn giỏi giang, đáng được chức tuyển ấy”.

Ngô được thăng chức Binh bộ Hữu tham tri, đi sứ, lãnh quốc thư, ngồi thuyền buôn qua tới Quảng Đông. Đoàn sứ nghe tin vua Lê đã băng thì trở về liền. Qua lần đi sứ này, ông tỏ rõ là người biết việc, xử thế đúng mực, hiểu rõ đối phương. Do đó, mặc dù thời gian ông đi sứ ngắn nhưng ông đã hoàn tất mỹ mãn mọi công việc.

Năm Canh Thân (1800), Ngô theo Nguyễn vương ra cứu thành Qui Nhơn. Ngô cùng với Nguyễn Kỳ Kế coi về việc binh lương. sau đó ông được lãnh coi việc chính trị Phú Yên, thâu tiền và lúa để cung cấp quân nhu.

Năm Gia Long thứ nhứt, Nhâm Tuất (1802), Ngô được cử làm giáp phó sứ, cùng với Chánh sứ là Trịnh Hoài Đức và phó sứ là Hoàng Ngọc Uẩn đi sứ Nhà Thanh. Sứ bộ ngồi hai chiếc thuyền “Bạch Yến” và “Huyền Hạc” từ cửa Thuận An (Huế) ra đi. Đến giữa biển thì bị bão nên tới tháng 7 sứ đoàn mới tới Hổ Môn quan.

Tổng đốc Lưỡng Quảng dâng sớ tấu, vua Thanh liền truyền bảo sứ đoàn theo đường Quảng Tây mà lên kinh.

Vừa tới Quảng Tây thì gặp sứ bộ của Lê Quang Định phụng chỉ sang cầu phong. Hai phái đoàn cùng ở lại tỉnh Quảng Tây chờ mạng lệnh vua Thanh.

Đến tháng 4 năm Quý Hợi (1803), thuyền sứ mới rời Quảng Tây mà lần lên kinh, vào chầu vua Gia Khánh.

Xuân năm Giáp Tý (1804), hai đoàn sứ bộ mới làm xong nhiệm vụ mà trở về. Trong khi tiếp xúc với sứ thần nhà Thanh, Ngô Nhơn Tĩnh đã thể hiện sự thông minh và tài trí khôn khéo của mình. Ngoài tài ứng đối, bình tĩnh đấu kế để giữ gìn quốc thể, ông còn dùng thơ văn thuyết phục vua quan nhà Thanh, bắt họ phải thực hiện những điều cam kết với ta. Bấy giờ, Ngô Nhơn Tĩnh vẫn giữ chức Binh bộ Hữu tham tri như cũ.

Năm Gia Long thứ 6, Đinh Mão (1807), Ngô Nhơn Tĩnh lại sung chức Chánh sứ cùng với Phó sứ Trần Công Đàn đem ấn sắc vào Nam, tới thành La Bích mà phong cho Nặc Ong Chân làm vua Chân Lạp.

Năm Gia Long thứ 10, Tân Tị (1811), Ngô Nhơn Tĩnh lãnh chức Hiệp trấn Nghệ An. Thấy dân tình thảm khổ, Ngô Nhơn Tĩnh dâng sớ xin về kinh bệ kiến mà tấu vua rõ. Vua phê chuẩn lời Ngô xin. Ngô cùng Đốc học Nghệ An là Bùi Dương Lịch soạn quyển Nghệ An phong phổ ký.

Năm Gia Long thứ 11, Nhâm Thân (1812), Ngô thăng chức Thượng thư bộ Công, lãnh chức Hiệp trấn thành Gia Định, cùng Tham tri bộ Hộ Lê Viết Nghĩa phụng mạng đi kiểm soát tiền lương và văn án các dinh.


Năm Gia Long thứ 12, Quý Dậu (1813), Ngô cùng tổng trấn Lê Văn Duyệt đem quân đưa vua Chân Lạp là Nặc Ong Chanh về nước. Họ họp cùng Xiêm La (Thái Lan ngày nay) để bàn việc Chân Lạp. Đến khi Ngô về, có người gièm pha rằng Ngô ăn của lót. Tuy không có bằng cớ gì song quan Tổng trấn cũng cứ tâu về triều. Vua Gia Long hình như không bằng lòng, nhưng bỏ qua.

Ngô vô cùng đau khổ và uất hận về sự vu oan này. Những kẻ lâu nay ghen ghét tài năng, đức độ và công lao đã tìm cách hại ông.  Ngô biết vậy nhưng không có cách nào để minh oan. Đêm ngày lo nghĩ, buồn bực mà không biết giải bày với ai. Ngô chỉ biết ngậm ngùi than thở “trách người đi thêu dệt, khiến mình phải oan”. Từ đó, Ngô buồn bã đến thành bệnh.

Mùa xuân năm Quý Dậu (1813) thì Ngô bệnh nặng mà mất, táng tại xã Chí Hòa (Gia Định).

Ngô Nhơn Tĩnh có một con trai là Ngô Quốc Thoại.


Năm Bính Tý (1936), vì nhà cầm quyền cần nơi xây cất nhà ga, nên Hội Đình Minh Hương Gia Thạnh đã di dời mộ phần của ông về làng Tân Hóa, tổng Tân Phong Trung, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định. Nay là đường Lũy Bán Bích, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm Giáp Thân (2004), để tôn vinh một nhà thơ lớn của đất Gia Định năm xưa, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã di dời và an trí mộ phần của ông trong khuôn viên chùa Giác Lâm, trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình. Lăng mộ ông được liệt vào hàng Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp Quốc gia…


(*): Có tài liệu chép Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm 1760 hoặc 1761 và mất năm 1816.

Related Images: