Nguyễn Chánh Sắt – Lòng người nham hiểm – Phần 14 – Kết

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết năm 1926 – những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c – t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Lòng người nham hiểm - Phần 14 - KếtLòng người nham hiểm – Phần 14 – Kết

Vào nhà còn đang mừng rỡ chuyện trò, kẻ hỏi thăm việc nầy người hỏi thăm việc khác. Bỗng đâu lại thấy một người phắc-tơ ngoài cửa bước vào đem lại một cái dây thép nữa. Ông phán ký tên lãnh rồi mở ra coi, té ra là của một ông bạn ở Bạc Liêu đánh lên cho ông hay rằng chiều bữa ấy chuyến xe lửa chót bà huyện sẽ lên Sài Gòn.

Ôi! Điều đâu cũng lạ, mừng lại dập dồn.

Nực cười Con Tạo lá lay,

Khi tan, khi hiệp, rất dày công phu!

Mới được tin cha, lại thêm tin mẹ. Hai chị em Thu Cúc mừng quýnh mừng quíu, mừng quá đỗi mừng; bèn thưa với mẹ nuôi, xin nán lại đến chiều mai đặng đón rước bà thân sanh lão mẫu. Bà phủ cũng vui lòng mà nói rằng:

– À phải đa con, vậy để chiều nay ba mẹ con mình ra ga, rước chị rồi sẽ về Tây Ninh, kẻo bỏ nhà không có ai coi; rồi sáng mốt hai chị em con sẽ trở xuống mà đón anh với anh Phan cũng được.

Chiều bữa ấy lối sáu giờ rưỡi, Hoàng Hữu Chí mắc đi thăm anh em, còn bà phủ với chị em Thu Cúc đem ô tô ra ga mà đón bà huyện. Khi xe lửa về tới ga, bà huyện trên xe bước xuống, thình lình so lại thấy hai đứa con gái mình đây, vòng vàng chuỗi hột nhởn nhơ, nét mặt tươi cười đứng với một bà nào lạ mặt; bà ngỡ là trong giấc chiêm bao, bà đương nhìn sững, chưa biết nói làm sao. Kế nghe hai cô ấy miệng kêu má, má; chơn chạy lại gần, bà cứ nhìn trân, thật là không biết ai xui ai khiến mà được như vầy, khóc lỡ khóc, mà cười cũng lỡ cười; không nói chi được hết.

Hai chị em Thu Cúc liền nắm tay mẹ dắt lại gần chỉ bà phủ mà thuật sơ các việc cho mẹ mình nghe. Chừng ấy hai bà mới chào nhau, chuyện trò mừng rỡ, bà huyện rất cảm tình bà phủ có lòng nhân hậu mà chiếu cố hai trẻ từ ấy đến nay. Rồi đó bà phủ liền hối sốp phơ quày xe trở về nhà ông phán.

Hoàng Hữu Chí thấy xe về tới, cũng vội vã chạy ra chào mừng bà huyện, rồi hiệp lại một đoàn từ giả vợ chồng ông phán trở về Tây Ninh, qua mười hai giờ khuya mới tới.

Sáng ra bữa sau, Thu Cúc xem nhựt báo, thấy có đăng một khoản nói rằng Hội Xổ số đã xổ rồi, bao nhiêu số trúng cũng có đăng trong tờ báo ấy. Thu Cúc liền kêu Xuân Lan, bảo mở trong bóp lấy số của mình mua, đem ra dò thử coi trúng trặc.

Ai ngờ là:

Khi nên trời cũng chìu người!

Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai.

Cho nên khi Thu Cúc vừa giở sổ ra mà dò, thì thấy số của mình được trúng độc đắc là một vạn đồng; chị em đều mừng rỡ, bà phủ với bà huyện cũng mừng. Thật là cuộc đời dời đổi, thiên địa tuần hoàn, hết thạnh tới suy, suy rồi lại thạnh.

Qua bữa sau Thu Cúc với Xuân Lan bèn thưa cho hai bà mẹ hay, rồi mướn một cái xe ô tô đi xuống Sài Gòn, trước là đón rước cha, sau là đến nhà Băng mà lãnh tiền trúng số.

Khi xe xuống tới Sài Gòn rồi cũng cứ ghé nhà ông phán Ngãi. Ông bèn nói cho chị em Thu Cúc hay rằng:

– Nầy hai cháu, hôm nay sẽ có tới hai chiếc tàu lớn đến một lượt, chiếc Porthos thì ở bên Tây qua, còn chiếc Orénoque thì ở Bắc kỳ lại; cả hai cũng đều vào tới Cấp (Vũng Tàu), đã báo tin rồi, chiều nay đúng một giờ, có khi hai chiếc cũng vào tới Sài Gòn một lượt. Vậy nếu hai cháu có đi đón anh huyện thì phải coi chừng cái danh hiệu tàu kẻo lộn, phải đón chiếc Orénoque thì mới khỏi lầm; mà hay hơn là cho chú đi với cho vui.

Hai chị em nghe nói rất mừng, bèn nhơn lúc tàu chưa tới bến, đi trước xuống nhà Băng lãnh tiền trúng số cho xong, rồi trở về nhà ông phán nghỉ ngơi mà chờ tàu tới.

Gần một giờ chiều, hai chị em bèn sửa soạn, rồi hiệp với ông phán lên xe ô tô chạy qua cảng nhà Rồng, kiếm chỗ đậu xe mà đợi. Lúc bấy giờ, tại bến tàu thiên hạ lao xao, kẻ đón rước anh em, người đón cha mẹ bà con, chẳng biết số nào mà kể cho xiết được.

Còn đang mơ ước ngóng trông, bỗng thấy xa xa, nơi ngoài mấy khúc quanh, khói tỏa đen sì, ấy là khói tàu đò đã vào gần tới bến; những khách trên cầu, lại lại qua qua, kẻ ngóng tàu bên Tây, người trông tàu ngoài Bắc.

Một lát đã thấy hai chiếc tàu ló mũi, chiếc trước chiếc sau, hai chiếc nối nhau, ríu rít dựa vào cầu rất nên êm ái.

Hại chị em Thu Cúc và ông phán Ngãi đứng ngó lên tàu, thấy quan huyện với Phan công, hai ông đứng kế nhau, thì mừng vui chẳng xiết. Còn trên tàu quan huyện trông xuống thấy hai đứa con, trong lòng ông cũng vô cùng hớn hở. Khi tàu ghé yên rồi, hai ông xách va ly dắt nhau xuống cầu, bắt tay ông phán chào mừng, rồi quay lại vuốt ve hai con, lòng mừng phấn khởi; song vì chỗ đông người, nên không lẽ hỏi qua gia sự. Cha con còn đương mừng rỡ, chưa kịp nói chi; bỗng nghe ông Phan Mẫn Đạt nói lớn lên rằng:

– Ủa! Cơ khổ! Thằng Chấn của tôi nó cũng về tới kia cà!

Vừa nói vừa chỉ bên chiếc tàu Porthos. Ai nấy cũng ngó theo, thấy trên chiếc tàu ấy có một người trai tơ trắng, diện mạo khôi ngô, hình dung tuấn nhã; đứng ngó Phan công một hồi rồi cũng kêu rằng:

– Ủa cha! Con đã về tới đây nầy cha.

Ôi! Tạo hóa khéo xui, tình cờ mà gặp, bên nầy một cặp, bên ấy ba người, cha cha con con, nói nói cười cười; thật cái sự vui mừng nầy, ký giả không có tài nào mà tả ra cho rõ được.

Còn Phan Quốc Chấn với Thu Cúc mà thấy nhau đây, ký giả chẳng cần tả ra, chớ khán quan cũng chẳng rõ ràng:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài;

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

Rồi đó, hai người cha, ba người con và một ông bạn, liền đề huề dắt nhau lên ô tô, chạy về nhà ông phán, Thu Cúc bèn đem hết đầu đuôi các việc của chị em mình và bà phủ mà thuật rõ lại cho quan huyện nghe, Phan Quốc Chấn cũng đem việc bà phủ gởi mười hai ngàn quan tiền tây mà giúp thêm học phí cho mình, nhờ có tấm lòng hào hiệp của bà nên mới được công thành danh toại; đầu đuôi gốc ngọn thuật hết một hồi, Phan, Nguyễn hai ông nghe nói cũng ngùi ngùi, hết sức cám ơn bà phủ.

Chuyện trò mừng rỡ một hồi, rồi mới đứng dậy giã từ ông phán mà lên xe, bảo sốp phơ chạy thẳng lên trường Nguyễn Phan Long ghé vào xin phép và rước luôn Trọng Liêm về chơi ít bữa.

Quan huyện cám cảnh vô cùng, ông càng thấy mấy đứa con của ông đã được bà phủ châu toàn tử tế chừng nào thì ông lại càng cảm tình bà phủ chừng nấy. Rước Trọng Liêm rồi liền hối sốp phơ chạy thẳng về Tây Ninh.

Đây xin nhắc sơ lại việc Hoàng Hữu Chí, ban đầu thì chàng nhứt định, chẳng thèm cưới con gái nhà giàu; sau vì mắc nạn mà phải thọ ơn bà phủ, cám nghĩa Xuân Lan, chừng ấy mới biết trong đám con gái nhà giàu, cũng có kẻ vầy người khác.

Lại thêm thấy Phan Quốc Chấn là bạn thiết của mình, cũng là rể nhà bà; nên chàng cũng vui lòng vào đó mà chèo xuôi cho mát mái.

Ngày ấy Hoàng Hữu Chí cũng ở tại nhà bà phủ mà chờ tin. Thoạt nghe tiếng kèn ô tô, cả nhà đều mừng rỡ, rủ nhau ra trước ngõ ngóng trông. Xe vừa ngừng bánh, ôi thôi! Kẻ dưới đất, người trên xe, nói nói cười cười, mừng nhau chi xiết.

Khi vào nhà ai nấy đều ngồi yên, Phan Quốc Chấn và Hoàng Hữu Chí liền bước ra tạ ơn bà phủ. Bà cười và dạy hai trẻ ngồi, rồi day qua nói với Phan công và vợ chồng quan huyện rằng:

– Ơn trời phò hộ, phụ tử đoàn tiên; vậy thì ngày nay việc hôn nhơn của trẻ, cũng nên sớm liệu cho rồi; vả lại cặp lớn đó thì vốn của hai anh định trước, còn cặp nhỏ nầy là của tôi mới định sau đây; vậy xin anh chị liệu tính lẽ nào, cho trẻ con nó nhờ phước.

Quan huyện bèn đáp rằng:

– Cái lòng nhân hậu của chị mà đối với trẻ con, từ xưa đến nay, chẳng có ai được vậy bao giờ, mỗi chị cũng đều để ý châu toàn, chẳng hề bỏ qua một mảy, tôi và mẹ nó đây tuy là thân sanh của chúng nó mặc dầu, chớ cũng không sao bì kịp. Còn mấy chị em chúng nó mà đối với cái ân trọng đức dầy của chị đây, thật là thiên cao địa hậu, tái tạo chi ân, thế thì chẳng biết kiếp nào mà chúng nó đền bồi cho được. Huống chi việc hôn nhơn là việc trọng trong đạo nhơn luân, mà chị định cho bốn trẻ cũng vừa chừng, thì vợ chồng tôi cũng vui lòng, lẽ đâu còn dám cãi. Nhưng tôi còn lo một nỗi gia nghiệp chưa yên, vậy xin để cho tôi trở về cố lý ít ngày, đặng lo phục hồi cựu nghiệp đâu đó xong xuôi, rồi tôi sẽ trở lại đây mà định hôn cho bốn trẻ, cũng chẳng muộn chi, xin chị với anh Phan an dạ.

Bà phủ nghe nói rất vui lòng, mà thật bà vui lòng hơn hết. Nghĩ vì bà giúp đâu nên đó, kết quả được nhiều việc rất hay, giúp họ Phan thì họ Phan đã thành danh, mà cứu họ Hoàng thì họ Hoàng lại khỏi nạn, ấy rõ ràng là: Cường qua hườn đắc qua, chưởng đậu hườn đắc đắc đậu.

Một nhà phước hậu, kiết triệu tới liền liền, ấy cũng vì lòng nhân hậu của bà thật là vô lượng vô biên, nên bà mới được hưởng vô cùng hạnh phước.

Từ đây cha con, chồng vợ, bậu bạn, chị em, một cửa sum vầy, ngàn năm phước ấm.

Ất Sửu niên, Mộ Xuân 1926

Nguyễn Chánh Sắt

Tự Bá Nghiêm.

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Lòng người nham hiểm – Phần 13

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết năm 1926 – những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c – t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Lòng người nham hiểm - Phần 13Lòng người nham hiểm – Phần 13

Đúng tám giờ, nghe tiếng chuông reo, hai tên lính tập tra lưỡi lê vào súng sáng lòa; thật là nghi vệ trên Tòa, ngày xử Đại hình rất có vẻ oai nghiêm, những kẻ gian manh xem thấy phải lạnh mình mà kinh hồn hoảng vía.

Cách chừng năm phút, lại nghe tiếng chuông reo. Thầy Đội hô bọt-tê-ấm vang rân, lính bồng súng lên nghe khua lốp rốp. Nội cả Tòa tự quan chí dân, thảy đều đứng dậy. Kế thấy ba ông quan Tòa áo đỏ bước ra ngồi giữa, bốn ông Hội đồng thẩm án ngồi kế hai bên; bên hữu là quan thay mặt cho quan Chưởng lý đề hình, bên tả thì quan Lục sự. Ngay chính giữa có để một cái bàn, ấy là chỗ của một thầy Thông ngôn với một Trưởng tòa ngồi đó.

Phía trước có hai dãy ghế, các quan Thầy kiện phân ra ngồi hai bên. Còn mấy dãy ghế phía sau, bên tả thì phạm nhơn, bên hữu thì người đi coi, ngồi chen lấn nhau chật nứt. Khi ai nấy ngồi xuống lặng trang, xảy nghe thầy Thông cầm sổ hô danh từng người: Chánh Kỳ, Hương quản, tên lính X. và tám tên dân làng, đều có đến hầu đủ mặt. Kêu tên nội vụ xong vụ rồi, Tòa liền dạy kêu chánh phạm là Hoàng Hữu Chí lên mà hỏi rằng:

– Vậy chớ lời của chú khai tại phòng quan Bồi thẩm đó có quả ý như vậy chăng? Chú còn kêu nài gì nữa chăng?

Hoàng Hữu Chí bẩm rằng:

– Nội lời của tôi khai nơi phòng quan Bồi thẩm là đủ việc của tôi, thật tôi chẳng còn kêu nài điều chi nữa hết; tôi chỉ xin quan lớn lấy công bình mà minh đoán cho tôi nhờ đó thôi.

Quan tòa liền dậy kêu thủ cáo là Cẩm Lệ mà hỏi. Cẩm Lệ ra đứng giữa Tòa mà hơi giận còn lùng, liền bước tới quỳ lạy quan Tòa mà bẩm rằng:

– Bẩm lạy quan lớn, (vừa nói vừa chỉ tạc mặc Lê Xuân Kỳ), vụ nầy đầu dây mối nhợ cũng tại thằng khốn nạn Lê Xuân Kỳ nầy, nó đồ mưu thiết kế mà hãm hại người ngay; nó lại xúi giục tôi làm điều tàn nhẫn, táng tận thiên lương, phao vu cho người vô cớ mà thọ khuất. Nay ra đến giữa Tòa rồi, thật cái lương tâm của tôi nó cắn rứt, xốn xang khó chịu, nên tôi phải tỏ thật hết cho quan lớn nghe.

Rồi đó nàng bèn đọc hết, ba bảy hai mươi mốt, đầu đuôi gốc ngọn, nhứt nhứt mỗi khi việc khai rõ hết một hồi, rồi lại lạy quan Tòa mà nói rằng:

– Lời thật tình tôi đã khai hết giữa Tòa, ngửa nhờ lượng quan trên, dầu giết dầu tha, tôi cũng cam bụng chịu.

Cẩm Lệ khai dứt lời thì nội cả Tòa, tự quan chí dân, ai nấy đều sửng sốt. Quan Tòa liền dạy đòi Hoàng Hữu Chí lên mà hỏi lại, Hoàng Hữu Chí bước lên cúi đầu chào bái các quan Tòa rồi bẩm rằng:

– Những lời của cô Cẩm Lệ khai giữa Tòa này giờ đó đều thật quả y như vậy, tôi chẳng có lời nào mà còn kêu nài chi nữa, cúi xin quan lớn minh đoán cho tôi nhờ.

Lúc ấy các quan xem thấy Hoàng Hữu Chí đương ở nơi một cái địa vị rất khốn cùng, áo quần xơ vải mà mặt mày đầy đặn, diện mạo đáng thương; lại thêm lời nói rất chơn thành; thật rõ ràng là người trung hậu, bực hiền lương, bị phao vu nên nỗi. Liền dạy chàng lui xuống ngồi chờ, để hỏi hết chứng cớ xong rồi sẽ xử.

Đòi Lê Xuân Kỳ lên đứng giữa Tòa, tuy là mặc một bộ đồ u hoe hàng tít so thẳng thớm, chơn mang giày ăn phóng láng đen, thì mặc dầu; mà mặt dài cằm nhọn, gia dĩ trống ngực đánh lia, mặt mày tái ngắt (vì bợm ta nghe lời khai của Cẩm Lệ thì biết gian mưu bại lộ, nên sợ thất thanh tài nào mà mặt mày không tái ngắt). Cho nên lúc nầy dầu mà bợm ta có cái lưỡi bén tợ gươm trường, miệng xuôi như suối chảy đi nữa, cũng khó đem ra mà dùng được; nên đứng nói lớ quớ một hồi, chừng rốt cuộc rồi cũng phải tàng đầu lộ vĩ (dấu đầu lòi đuôi).

Quan Tòa dạy bợm ta lui xuống, rồi đòi hết mấy tên chứng là Hương quản, lính X. và tám tên dân làng lên mà hỏi. Ban đầu chúng nó còn chối cãi, mà ba mươi đời cái thứ gian, dẫu có cượng cầu mà chối cãi thế nào, cũng chẳng cượng qua cho khỏi lý. Bởi vậy cho nên, chừng rốt cuộc rồi chúng nó bị quan Tòa chận nghẹt nên phải khai thật rằng:

“Ngày … Tháng … có thầy thông Lê Xuân Kỳ ngồi tại nhà Hương quản mỗ, lại cũng có tên lính X. tại đó, kêu anh em tôi lại mà mướn mỗi người là hai đồng bạc, dặn chúng tôi từ mười hai giờ khuya ngày ấy, phải ở gần lối đó; hễ nghe cô Cẩm Lệ la làng thì áp vào mà bắt thầy Hoàng Hữu Chí. Thầy Kỳ lại còn hứa với chúng tôi rằng ngày nào Tòa xử xong, kêu án thầy giáo Chí rồi thì thẩy sẽ cho thêm anh em tôi mỗi người là năm đồng nữa. Lúc ấy chúng tôi cũng thấy thầy đưa bạc cho Hương quản mỗ và tên lính X. nữa, song cái số bao nhiêu thì chúng tôi không thấy rõ; ấy là lời khai thật ngay, xin quan lớn châm chế cho chúng tôi nhờ.”

Quan Tòa liền dạy chúng nó lui xuống. Kế đó quan Thầy kiện liền ra đứng giữa mà biện giải sơ sịa vài lời, tỏ ý xin quan Tòa tha Hoàng Hữu Chí là người vô tội, và xin buộc Lê Xuân Kỳ, Cẩm Lệ và nội bọn về tội phao vu cho người lương thiện. Đâu đó xong rồi, quan thay mặt cho quan Chưởng lý bèn đứng dậy mà tuyên bố giữa công chúng rằng:

– Vả Tòa là chỗ cầm cân tội phước, ấy là chỗ chí công chí chánh, cầm mực công bình mà thưởng thiện phạt ác. Hoàng Hữu Chí là người lương thiện, bị phao vu mà chức phận phải hư, danh giá phải hỏng. Nay tôi xin tòa hãy lấy điều công lý, mở lượng nhơn hà, tha bổng và phục hồi cựu chức cho chàng mà thương người vô tội. Còn Cẩm Lệ với Lê Xuân Kỳ và nội bọn, thảy đều đồng ác tương tế mà hãm hại người lành, ấy cũng đồng tội liên can, nên tôi cũng xin Tòa bắt hết giam tra rồi luận tội mà phạt chúng nó một cách cho nặng nề, đặng để làm gương cho kẻ khác.

Ngài nói dứt lời rồi, các quan Tòa liền bãi hội, hiệp với các quan Hội đồng thẩm án, lui vào phòng thầm mà nghị án. Ngoài nầy thiên hạ xôn xao, kẻ nói vầy người nói khác, ai ai cũng cho là một việc rất phi thường thật là kim cổ kỳ quan, thuở nay chưa từng thấy.

Lúc nầy hai mẹ con bà phủ mừng rỡ vô cùng, song trong lòng cũng còn hơi phập phồng, chưa biết sao mà dám chắc. Kế thấy quan Thầy kiện của bà bước lại nói cho bà biết rằng chắc là Tòa sẽ tha bổng Hoàng Hữu Chí. Chừng ấy bà mới thật mừng, song cũng còn nhóng trông coi Tòa xử về bọn Cẩm Lệ lẽ nào cho rõ.

Duy có cô Xuân Lan, trong lòng khấp khởi mừng thầm, song còn chưa dám nói cho ai biết được. Một chặp lại nghe chuông đổ, ai nấy đều trở vào đặng nghe lịnh Tòa xử đoán lẽ nào cho biết. Các quan điều ra ngồi y chỗ cũ. Quan Tòa liền đọc án một hồi. Kế thầy Thông ra đứng giữa Tòa mà tuyên bố lên rằng:

– Nay Tòa xét vì Hoàng Hữu Chí là người vô tội mà bị hàm oan, nên dạy tha bổng cho thầy và phục hồi cựu chức. Còn Cẩm Lệ với Lê Xuân Kỳ và nội bọn đều phải giam lại nhà chờ tra hỏi cho phân minh rồi sau sẽ xử.

Liền nội hồi đó, lính Sơn đầm câu hết nội bọn đem giam vào khám. Lúc nầy bà phủ mừng rỡ vô cùng, song bà lấy làm lạ quá, không hiểu tại sao mà Cẩm Lệ lại trở lòng với Lê Xuân Kỳ mà khai thật hết ra như vậy. Cùng đó Thu Cúc mới mỉm cười và thuật hết lại cho bà nghe rằng:

– Con xin lỗi cùng má, nguyên đó là tại hai chị em con rõ biết được Cẩm Lệ và Lê Xuân Kỳ đã tư tình với nhau, Cẩm Lệ lại có cho Lê Xuân Kỳ một chiếc nhẫn, nên em con phải liều danh giá dụng trí gạt Lê Xuân Kỳ mà lấy cho được chiếc nhẫn ấy. Rồi cứ làm màu bỡn trợn trừng liếc với Lê Xuân Kỳ trước mặt Cẩm Lệ mãi cho nó đổ ghen ra; mà hễ nó đổ ghen ra rồi thì thế nào chúng nó cũng phải sanh ác cảm; chừng ấy nó mới oán hận nhau. Rồi mình lại thừa dịp ấy chờ đến bữa nay, lúc Tòa gần xử, lại đem chiếc nhẫn của nó đã cho tình nhân nó, mà tình nhân nó lại đem cho người thương khác; trêu ghẹo ra trước mắt nó cho nó ngó thấy rồi là như tuồng khinh khi kiêu hãnh, thị nó như không vậy; thế thì cái ghen cái tức, cái oán, cái cừu nầy, dầu giết được nó cũng giết mà không gớm tay; huống chi là đến Tòa mà khai thật cho Lê Xuân Kỳ ở tù cho lại gan, cho bõ ghét thì có khó chi mà không dán. Nay chúng đã trúng kế của chị em con rồi, lại cứu được thầy Hoàng Hữu Chí rồi, nên con phải chịu lỗi cùng má về tội chị em con đã dấu nhẹm mà không cho má hay, xin má dung thứ cho chị em con nhờ.

Bà phủ nghe nói ngơ ngẩn hồi lâu, lại thấy Xuân Lan đang đứng xa xa ngó, chúm chím miệng cười. Bà liền giơ tay lên ngoắc lia ngoắc lịa và kêu rằng:

– Xuân Lan! Lại đây con.

Xuân Lan nghe kêu chạy lại cúi đầu, bà liền với xuống kéo đại lên xe vò lia vò lịa, rồi rưng rưng nước mắt mà nói rằng:

– Thật chị em con tệ quá! Có vậy thì cho má hay, để chi cho má không biết mà giận con, mắng nhiếc đuổi xua làm cho thân con tức tưởi, ở đậu ở bạc với người ta hổm tới nay, tội nghiệp thì thôi đa.

Rồi bà lại cười và lau nước mắt mà nói nữa rằng:

– Trời ơi! Mẹ có dè đâu mà chị em con tuổi mới có bây lớn mà khôn ngoan lanh lợi, mưu trí quá Khổng Minh như vầy. Thôi, kêu thầy giáo, dặn thẩy lấy giấy tờ rồi lên xe đây mà về với mẹ con mình luôn thể con.

Lúc bấy giờ, thiên hạ đều đồn chuyền với nhau rằng: “Có hai cô con gái của bà phủ lối 17, 18 tuổi gì đó mà thông minh quá, lại thêm mưu trí cao sâu, biết dụng kế mà cứu người ngay cho khỏi họa.”

Vì vậy ai ai cũng muốn tranh nhau xúm coi cho biết hai chị em cô ấy ra thế nào mà khôn ngoan như vậy.

Ôi thôi! Ban đầu còn ít, sau xít ra đông, đứng vây chung quanh, làm cho xe của bà không cục cựa gì được hết.

Lúc đang lộn xộn, bỗng thấy thằng bồi của ông phán Ngãi sai lên kiếm bà mà báo tin lành cho bà hay rằng ông phán mới được dây thép của Phan, Nguyễn hai ông đánh về cho hay rằng đã xuống chiếc tàu Orénoque mà trở về Sài Gòn, nay đã tới Tourane (Cửa Hàn) rồi, còn hai ngày nữa sẽ tới Sài Gòn, dây thép ấy ở Tourane đánh lại. Vừa được tin nầy, hai chị em Thu Cúc mừng rỡ xiết bao.

Thật là: Mừng nầy còn có mừng nào cho hơn!

Còn đang mừng rỡ, nói nói cười cười, kế thấy Hoàng Hữu Chí đã lãnh giấy rồi trở ra, bước thẳng đến trước xe mà xá bà phủ với hai cô. Rồi dùng lời trung hậu mà tạ ơn bà với chị em cô Thu Cúc.

Rồi đó bà liền mời Hoàng Hữu Chí lên xe ngồi bên cạnh sốp phơ, rồi bà dạy sốp phơ chạy lên đường Thuận Kiều ghé nhà ông phán Ngãi.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Lòng người nham hiểm – Phần 12

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết năm 1926 – những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c – t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Lòng người nham hiểm - Phần 12Lòng người nham hiểm – Phần 12

Lê Xuân Kỳ về nhà lấy làm mãn nguyện, dương dương đắc ý, trông cho mau tới ngày Tòa xử, đặng coi cho biết Hoàng Hữu Chí bị án mấy năm, suy tới nghĩ lui, lấy làm đắc kế.

Còn Xuân Lan khi về tới nhà thì bà phủ thức dậy đã lâu, bèn hỏi nàng đi đâu, thì nàng kiếm điều che trước đậy sau mà nói cho qua chuyện. Tuy là khuất lấp được bà, nhưng mà, từ đó bà đã sanh lòng nghi ngại.

Đêm ấy Xuân Lan chờ cho bà an giấc, rồi mới nhỏ to mà thuật lại hết cho chị nghe, lại lấy chiếc nhẫn ra mà khoe và lấy làm đắc kế. Thu Cúc thấy kế đã thành trong lòng mừng lắm, song cũng dặn em phải cẩn thận cái mưu thần, mựa đừng sơ lậu.

Chẳng dè, cái mưu thì kín nhẹm, còn chuyện kia thì thúng khó úp voi, một miệng kín chín mười miệng hở. Từ ngày Xuân Lan trò chuyện với Lê Xuân Kỳ tại quán Tư Quăn, thiên hạ đồn rùm, thấu tới tai bà phủ. Bà liền tức giận bồi hồi, trách sao nàng lại tư tình với đứa nghịch.

Nhưng mà, bà tuy giận vậy song bà không la hét như kẻ tầm thường, cứ lấy điều đại nghĩa mà thống trách âm thầm vậy thôi, chớ người ngoài không ai nhe được. Thu Cúc cũng giả ý rầy em, mắng nhiếc Xuân Lan là đồ hư chạ. Bà phủ nghĩ tới chừng nào thì bà lại càng ứa gan chừng nấy. Bà bèn nhứt định đuổi nàng, chớ không thèm nuôi chứa trong nhà thứ đồ hư như vậy nữa.

(Lời bàn: Bà phủ giận lắm, đuổi cũng phải lắm!

Điều thứ nhứt là con gái trong hạng danh gia mà làm điều nhục nhã, hư danh mất nết, thật là tội ác quán dinh.

Điều thứ hai là nhè đứa nghịch mà tư tình, rất phản đối với cái chủ nghĩa của bà, lẽ nào bà không giận?

Bà giận phải! Bà giận nhằm! Ai là người không giận?

Nhưng nghĩ cho đến mấy cái điều đáng giận đó, rồi mới đáng sợ, đáng thương đáng kính, đáng vì cô Xuân Lan là một nàng con gái thiếu niên, đào tơ liễu yếu mà tâm chí rất cao, vì nghĩa cứu người mà phải liều danh giá.

Thật khổ tâm thay!

Mà cũng đáng thương đáng kính thay!!)

Khi Xuân Lan bị bà phủ đuổi rồi, thì cũng làm màu khóc lóc, gói áo quần, lạy mẹ và chị xách gói ra đi, bà phủ cũng ngùi ngùi, song vì giận quá nên cũng làm lơ, để nàng đi cho rảnh. Còn Xuân Lan khi ra khỏi nhà rồi, chẳng cho ai biết là mình đi đâu, lén lén xách gói đi thẳng lại nhà bà Sáu Thiện mà ở nhờ.

Nàng lấy ra năm đồng bạc trao cho bà Sáu, bảo đi mua gạo và những đồ vật cần dùng, nàng lại dặn dò đừng cho ai biết có nàng ở đậu trong nhà, ý nàng có ý e sợ cho Lê Xuân Kỳ biết được rồi ăn quen mà mò tới.

Thật là: Cực kỳ khôn ngoan, cực kỳ tinh tế.

(Nguyên bà Sáu Thiện nầy, trước kia vẫn có nấu ăn cho bà phủ, cho nên hai đàng mới biết được nhau. Bà nầy cũng có một đứa con gái chừng 15, 16 tuổi, chớ chẳng có con trai, ngày chí tối chỉ lo mua gánh bán bưng mà độ nhựt, có hai mẹ con hủ hỉ với nhau). Xuân Lan ở đỡ tại nơi nhà nầy cũng là an phận.

Việc lôi thôi như vậy, lẽ nào Cẩm Lệ lại không hay, tiếng đồn nghe đã nhiều ngày, nàng ta mới nổi ghen, bèn đón Lê Xuân Kỳ mà hỏi. Còn Lê Xuân Kỳ từ ngày mà được trò chuyện với Xuân Lan rồi thì cặp con mắt của chàng, nhìn Cẩm Lệ như nhìn Chung Vô Diệm.

Ấy là:

Tằng kinh Thương Hải nan vi thủy,

Trừ khước Vu San bất thị vân (1).

Mà xưa nay những lời nói của đờn bà ghen tuông, thì có lời nào là không xóc óc?

Bởi vậy cho nên Lê Xuân Kỳ cũng nổi giận nói đi nói lại nhiều tiếng sân si, nhưng cũng còn dùng thẳng với nàng, nên phải kiếm lời chối ngược chối xuôi, rằng đó là lời đồn huyễn.

Tuy là chàng kiếm lời mà chối sướt cho qua, nhưng mà từ đó hai đàng đã sanh ác cảm rồi. Bởi vậy cho nên Cẩm Lệ về nhà càng nhớ tới chừng nào, thì lại càng oán giận Lê Xuân Kỳ chừng nấy. Nàng nhơn đó mà nhớ lại cái điều tàn nhẫn của bợm ta xúi mình âm mưu hãm hại, làm cho Hoàng Hữu Chí bị giam từ ấy đến nay, thì cái lương tâm của nàng lại hối hận vô cùng. Ngặt vì việc đã lỡ ra rồi, nên phải ôm ấp trong lòng, cũng chẳng dám nói ra cho ai biết.

Ngày giờ thấm thoát, Tòa Đại hình hội xử đã gần kỳ, Cẩm Lệ với Lê Xuân Kỳ, Hương quản, một tên lính tuần và tám tên dân làng thảy đều được trát Tòa đòi, đến ngày mười tám tháng mười tây, bảy giờ ban mai, phải tự đến Tòa Đại hình Sài Gòn mà hầu về vụ xử Hoàng Hữu Chí.

Lật bật đến ngày mười bảy, nội bọn đều quá giang xe ô tô đưa bộ hành đặng đi Sài Gòn.

Khi bọn ấy lên xe vừa mới ngồi lên, bỗng thấy Xuân Lan ở đâu cũng lơn tơn xách dù lên xe lựa chỗ ngồi ngang đối diện với Lê Xuân Kỳ, đặng cố ý trừng liếc trêu ghẹo mà khêu gan Cẩm Lệ.

(Nguyên Cẩm Lệ có lòng ghen sẵn, nay thấy tình cảnh như vầy thì gan dạ nào mà chẳng nổi tam bành; ngặt bởi trên xe vì có nhiều người, phần thì mình với Lê Xuân Kỳ cũng không phải là thật vợ chồng, cho nên nàng ta cảm nộ bất cảm ngôn; chỉ cứ háy nguýt nhúng trề mà chịu trận).

Khi xe đến Sài Gòn rồi, Xuân Lan liền kêu xe kéo bước lên, lại còn làm bộ nháy nhó Lê Xuân Kỳ, dường như chỉ chỗ ở của mình mà dặn Lê Xuân Kỳ lại đó vậy; nàng cứ cố ý khêu gan Cẩm Lệ cho thật nổi ôn rồi mới hối xe kéo bảo đi, chỉ đường ch nó kéo lại nhà chị em bạn học của mình mà nghỉ đó một đêm, đặng mai sang lên tòa rồi sẽ ra tay thủ đoạn.

Thật báo hại cho Lê Xuân Kỳ, hèn lâu mới xuống Sài Gòn, mà trọn một đêm ấy ngụ tại nhà Nam Việt khách lầu ở nơi đường Kinh Lấp, bị Cẩm Lệ nổi ghen, cứ theo cằn nhằn mãi, lại thêm ràng rịt, theo giữ khít ghim, không đi đâu được hết.

Còn bà phủ Ân biết việc thì việc của ai, mà tội nghiệp cho bà, khi nghe được tin ấy thì trong lòng bà hồi hộp, lo sợ chẳng cùng; không biết Hoàng Hữu Chí sẽ được tha chăng; hay là bị kêu án ít hay nhiều, lâu hay mau, lo tới lo lui, lấy làm rối trí, liền kêu Thu Cúc, hối sửa sang hành lý cho sẵn sàng, rồi mướn một cái ô tô dặn sốp phơ sang mai chừng lối ba giờ khuya, đem xe lại cho đúng giờ, đặng hai mẹ con bà đi xuống Sài Gòn mà coi Tòa xử.

Sớm mai ngày mười tám, trong khoảng từ sáu giờ rưỡi cho tới bảy giờ, thiên hạ ồ ạt, tựu trước cửa Tòa đặng chờ cho tới giờ mà coi xử; kẻ thì vì chồng, hoặc vì cha, người thì vì con, hoặc vì em vì cháu mà nô nức trước cửa Tòa đông quá đỗi đông, lũ bảy đoàn ba, rất náo nhiệt. Còn các quan Thầy kiện thì hoặc ba ông một chòm, hoặc hai ông một cặp, đi tới đi lui, chuyện vãn cùng nhau mà chờ giờ xử.

Lúc ấy hai mẹ con bà phủ còn ngồi ô tô, đậu trước cửa Tòa; duy có bọn Cẩm Lệ với Lê Xuân Kỳ thì ngồi tại chỗ ghế xanh (ban) mà nghỉ cẳng. Còn một mình Xuân Lan đã đến trước bao giờ, thấy bọn ấy ngồi tại ghế xanh, bèn làm bộ nháy nhó Lê Xuân Kỳ, rồi cứ đi qua đi lại trước mặt Cẩm Lệ, tay thì cầm chiếc nhẫn đưa lên đưa xuống mà coi, còn tay thì rút khan mù soa ra, làm bộ chùi lau cái hột xoàn cho sáng.

Cẩm Lệ xem thấy phát nghi, liền với kéo bàn tay của Lê Xuân Kỳ lên mà coi, không thấy đeo chiếc nhẫn. Máu ghen tuôn trào, tay chơn run rẩy, liền hỏi một cách rất gắt gao rằng:

– Vậy chớ chiếc nhẫn ở đâu? Xuống tới Sài Gòn là chốn kinh thành sao không đeo lại cất?

Lê Xuân Kỳ kiếm chuyện dấu quanh dấu quẩn mà dấu chẳng qua. Còn Xuân Lan thấy vậy lại càng cứ theo trêu ghẹo chiếc nhẫn trước mặt hoài. Cẩm Lệ đả quả quyết của mình, bèn nổi giận xung thiên, liền chỉ Lê Xuân Kỳ mà mắng rằng:

– Mi là đồ khốn nạn, quả là loài nhơn diện thú tâm, để lát nữa đây rồi mi sẽ coi tao, muốn vậy tao cho vậy.

Lúc bấy giờ, Lê Xuân Kỳ tưởng Cẩm Lệ nổi ghen mà sanh hỗn, lời hăm lát nữa đó là nói để lát nữa hầu Tòa rồi ra đường ắt sẽ chửi mắng níu kéo gì đây. (Chẳng những Lê Xuân Kỳ tưởng vậy, cùng những người đi coi Tòa xử bữa ấy cũng đều tưởng vậy mà thôi!

Tưởng khi chư khán quan, ai đọc truyện nầy mà đọc tới đây, thế tốt cũng là tưởng vậy chớ gì!)

Có dè đâu mà lại sẽ có chuyện ly kỳ, thật rất phi thường, xuất nhơn ý ngoại.


(1) Đã từng qua biển Thương Hải rồi thì chẳng còn cho nước ở biển nào là nước.

Đã lên núi Vu San rồi thì chẳng có thấy mây nào mà phải là mây.

Nghĩa là Lê Xuân Kỳ thấy cái vẻ đẹp của Xuân Lan rồi thì chẳng còn biết ai là đẹp hơn nàng nữa được.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Lòng người nham hiểm – Phần 11

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết năm 1926 – những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c – t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Lòng người nham hiểm - Phần 11Lòng người nham hiểm – Phần 11

Bà phủ hay được tin ấy, liền lấy bạc bỏ lưng, phú thác nhà cửa cho Xuân Lan, dắt Thu Cúc theo làm thông ngôn, mướn xe hơi đưa hại mẹ con bà xuống Sài Gòn tìm nhà quan thầy kiện mà lo cho Hoàng Hữu Chí, bà năn nỉ với ngài xin ráng bào chữa dùm đặng cứu người vô cô mà thọ khuất.

Bà lại nhơn hỏi thăm luôn cho biết ngày nào tòa đại hình xử vụ Hoàng Hữu Chí. Quan thầy kiện bèn nói cho bà hay rằng ngày 18 tháng Octobre là ngày tòa đại hình hội xử, ngài lại hứa với bà rằng ngài sẽ ráng hết sức lòng tìm cho ra cớ, để biện giải mà lấy danh, bà hãy an lòng không sao mà ngại.

Rồi đó bà liền đóng tất số bạc cho quan thầy kiện và từ giã mà ra, bà lại nhơn tiện, bảo xe đưa hai mẹ con bà lên đường Thuận Kiều đặng bà thăm vợ chồng ông phán Ngãi là người quen lớn với vợ chồng bà tự bấy lâu nay.

Khi xe bà phủ vừa ngừng nơi trước cửa, thì vợ chồng ông phán đang trong nhà, xem thấy mừng rỡ chạy ra chào hỏi lăng xăng, hối trẻ xách cái quả cẩn của bà vô nhà, trầu nước khuyên mời và cầm luôn bà ở đó dùng cơm. Nhơn thấy Thu Cúc cốt cách phương phi, nết na đằm thắm thì hỏi rằng:

– Ủa! Con cháu đây là con của ai vậy chị phủ?

(Vì hai vợ chồng ông phán vẫn biết bà phủ không có con cái chi, mà nay thấy có một cô gái cực kỳ xinh đẹp, nề nết đáng thương mà đi theo bà đây, nên mới lấy làm lạ mà hỏi thăm cho biết).

Bà phủ bèn đem hết lai lịch của hai chị em Thu Cúc và Xuân Lan đầu đuôi sự tích từ ngày bà gặp và đem hết cả ba chị em về mà nuôi làm con, hai gái thì ở nhà sớm trưa hủ hỉ với bà, còn một trai thì bà đóng tiền cho ở học tại trường Nguyễn Phan Long Sài Gòn, cùng những việc gởi bạc giúp thêm học phí cho Phan Quốc Chấn bên Tây và việc Hoàng Hữu Chí mắc nạn mà bà phải đi lo, trước sau các việc bà thuật hết một hồi cho hai vợ chồng ông phán Ngãi nghe.

Hai vợ chồng ông phán nghe rõ đầu đuôi thì lấy làm khen ngợi bà phủ là người độ lượng khoan nhơn, thật là một người trọng nghĩa khinh tài, nữ trung hào kiệt. Rồi đó ông phán lại chỉ Thu Cúc mà nói với bà phủ rằng:

– Tưởng cháu đây là con ai, té ra nó là con của anh huyện Nguyễn Trọng Luân. Cơ khổ! Vậy mà tôi quên phứt nó đi chớ, vì lúc ảnh còn ở Sài Gòn thì nó còn nhỏ xíu, phần thì chị em nó mắc ở trong Nữ học đường, tôi tới chơi với ảnh hoài mà ít hay thấy nó, rồi từ hồi ảnh về trển tới nay, cũng bốn, năm năm gì đó, bây giờ cháu đã lớn đại, nên tôi không nhớ được. Tưởng là chị nói ai kia, chớ ông già nó và anh Phan Mẫn Đạt đều là anh em bạn học với tôi hồi buổi nhỏ. Đây nè! …

Vừa nói vừa bước lại kéo cái hộc tủ lấy ra một bức thơ mà khoe với hai mẹ con bà phủ và nói rằng:

– Nầy là thơ của anh huyện, ông già của cháu đây, mới gởi về cho tôi hai ba bữa rầy mà cho tôi hay rằng ảnh với anh Phan bây giờ đương làm chủ bút cho một Tòa báo Quốc văn tại Bắc kỳ và ảnh có cậy tôi gởi thơ lên Vinh An Hà mà hỏi thăm dùm tin của mấy cháu, tôi chưa kịp viết, mà cũng may sao hôm nay chị lại dắt cháu đến đây, ấy quả là lòng trời xui khiến đó.

Thu Cúc nghe được tin tức của cha mình thì khấp khởi mừng thầm, bèn liếc mắt xem coi thấy bức thơ ông phán đương cầm trên tay nhìn đã rõ ràng thật quả là bút tích của cha mình, không sai một nét trong lòng mừng quá đỗi mừng.

Thật là:

Khi nên trời cũng chìu người,

Mừng nầy dầu được vàng mười chẳng hơn.

Lúc ấy bà phủ cũng vui lòng, lấy làm toại chí, bà lại hối Thu Cúc viết thơ gởi liền ra Bắc mà thăm cha nàng nội trong ngày ấy. Thu Cúc liền hỏi ông phán xin giấy viết thơ, tỏ hết đầu đuôi gốc ngọn nhứt nhứt các việc từ ngày cha mình ra đi cho đến bây giờ, rồi niêm phong tử tế, lại hỏi thăm ông phán cho biết chỗ ở của cha mình mà đề bao thơ rồi đem bỏ thùng mà gởi đi liền nội trong ngày ấy.

Hai mẹ con nghỉ ngơi tại đó cho đến ba giờ chiều, rồi mới giã từ vợ chồng ông phán, bước lên ô tô, bảo sốp phơ chạy lên đường Lagrand de la Liraye đặng ghé vào trường Nguyễn Phan Long mà thăm em nàng là Nguyễn Trọng Liêm trong giây phút rồi mới chạy thẳng về Tây Ninh.

Về tới nhà rồi Thu Cúc bèn thuật việc nhờ mẹ dắt mình ghé nhà ông phán Ngãi, nên mới biết được tin tức của cha mình và luôn dịp mình đã gởi thơ ra Bắc mà thăm cha và cho cha mình biết các việc trong này rồi. Xuân Lan nghe nói mừng quá đỗi mừng.

Lần hồi ngày tháng như thoi, mới đó mà đã gần tới ngày Tòa xử.

Ngày kia Xuân Lan đi chợ về, cũng vừa gặp Lê Xuân Kỳ đương buổi đi làm việc. Hai đàn cũng niềm nở chào hỏi nhau như mọi bữa. Xuân Lan xem trước nhắm sau, liệu chừng chẳng thấy có ai, bèn nói nhỏ rằng:

– Trưa nay đúng mười hai giờ, em xin mời thầy đến tại quán của dì Tư Quăn cho em hỏi thăm thầy một chuyện.

Lê Xuân Kỳ mừng quýnh dường như tiếp được đơn chiếu của vua. Liền trả lời rằng:

– Tôi rất sẵn lòng, xin cô đừng thất tín.

Xuân Lan gật đầu, miệng cười chúm chím, rồi đi thẳng về nhà. Lê Xuân Kỳ lòng mừng khấp khởi, vào đến bu-rô (bureau) trọn một buổi sáng mai, không viết lách gì được hết, cứ dòm chừng đồng hồ hoài.

Mà thật cái đồng hồ bữa ấy tệ quá! Độc thật! Ác thật!

Trông hoài mà sao không thấy tới giờ, nó làm như hình liệt máy rồi vậy, cứ đứng trân một chỗ, trông mãi mà cũng không thấy nó đi. Trông hoài trông hủy, trông hết sức trông, trong lòng nóng nảy, ngồi đứng không yên. Thình lình vùng nghe tiếng trống tan bầu, dường như tù được tin tha bổng. Lúc bấy giờ, Lê Xuân Kỳ mừng quá đỗi mừng, vội vàng xách nón ra về.

Về tới nhà không kịp thay đồ, cứ việc hối đứa ở dọn cơm, ăn hối ăn hả ba hột, coi chừng đồng hồ, thấy đã mười một giờ ba khắc. Bèn sắm sửa đi liền, tuốt lại quán Tư Quăn là nơi ước hẹn.

Còn Xuân Lan khi cơm nước xong xuôi, chờ cho bà phủ nghỉ trưa, mới nói cho Thu Cúc hay, rồi lẻn ra ngả sau tuốt lại quán Tư Quăn là chỗ đem mồi mà nhử cá.

Khi đến nơi vừa bước chơn vào, thấy Lê Xuân Kỳ đã tới hồi nào, đương ngồi chờ đó. Xuân Lan bước tới, xẻn lẻn trăm bề, trong lòng hồi hộp, chơn bước ngập ngừng; vì nàng là gái đương xuân, hễ thấy trai thì khép nép. Còn Lê Xuân Kỳ mà thấy Xuân Lan, thì nào có khác chi là mèo thấy mỡ; nhưng bởi biết nàng là gái nết na đoan chánh, cho nên lòng cũng kiêng dè, chớ không dám bốc hốt như con gái nhà tầm thường kia vậy.

Bèn mở giọng rằng:

– Bấy lâu tôi nghe cô là con nhà thi lễ, ngôn hạnh lưỡng toàn, thật tôi lấy làm ái mộ, nên tôi muốn tính cuộc trăm năm, mới cậy người đến nói, không dè mà bà thân mẫu của cô lại không chịu gả, nên tôi lấy làm uất ức bấy lâu. Ai ngờ cô lại có lòng đoái thương, thì cái ơn tri kỷ nầy tôi phải tạc dạ ghi xương, song tôi chẳng biết tính lẽ nào cho lưỡng toàn kỳ mỹ, nhờ cô dạy bảo cho tôi.

Xuân Lan lúc bấy giờ, đương đối diện với cừu nhân mà phải làm màu vui vẻ, thì trong lòng hổ thẹn, muôn đắng ngàn cay; thật rất khổ lắm thay! Song vì muốn cho nên việc, nên phải ráng bấm gan mà làm mặt dạn mày dày, dằn lòng nhẫn nhục, nét tươi cười mà nói rằng:

– Bấy lâu em vẫn biết thầy là người trung hậu quân tử, phẩm hạnh đoan trang, thật em cũng hết lòng ái mộ, may sao thầy cũng có lòng thương tưởng cậy mai đến nói em đã đôi ba phen, ngặt vì bà phủ là mẹ nuôi của em, ý không chịu gả, lại muốn để mà gả em cho Hoàng Hữu Chí là một đứa xấc xược lại kiêu căng, thật là đáng ghét, nên em không biết liệu làm sao, vì em đã thọ ơn bà, em không dám cãi. May đâu lại khiến cho nó làm điều nhục nhã mà phải bị tù, thật em mừng quá. Vậy nếu như thầy có lòng thương tưởng đến em, thì xin ráng chịu phiền chờ đợi một ít lâu, chẳng vài ba tháng nữa ông thân sanh của em ở Bắc mà về đây, chừng ấy nếu thầy cậy người đến nói, ắt ổng gả liền, vì bình sanh ổng cưng em lắm, hễ em ưng chỗ nào thì ổng ưng theo chỗ nấy. Nay em mà ước hẹn với thầy đến đây là có ý tỏ bày tâm sự của em. Vậy nếu như thầy quả thật có lòng thương tưởng đến em mà tính cuộc trăm năm kết tóc, thì em xin thầy hãy cho em một vật quí báu chi đặng để mà làm tin, được như vậy thì em mới tin hẳn lòng thầy, dầu cho đến mấy năm em cũng an lòng mà chờ đợi vậy.

Xuân Lan vừa nói vừa cố ý ngó chừng chiếc nhẫn của Lê Xuân Kỳ đương đeo trong tay mãi. Lê Xuân Kỳ hội ý, biết Xuân Lan muốn chiếc nhẫn của mình, ngặt vì chiếc nhẫn ấy là của Cẩm Lệ tặng cho, để làm dấu tích, không lẽ mà mình lại đem ra mà cho người khác. Ban đầu hãy còn do dự, tấn thối lưỡng nan, sau bị thần ái tình nó giục riết, phần thì tâm hồn thất phách đã phưởng phất theo Xuân Lan, cho nên bợm ta chẳng còn chủ trương gì nữa hết, liền cởi phứt chiếc nhẫn trong tay trao cho Xuân Lan mà nói rằng:

– Này là cái núm ruột của tôi đây, ngặt vì tôi quá yêu nó, nên tôi phải cát ái (1), để tặng cho cô làm tin, mai sau dầu sở nguyện đặng thành (2), thì lời ước hẹn xin cô chớ phụ.

Xuân Lan ngửa tay vói lấy chiếc nhẫn rồi nói rằng:

– Như vầy thì em mới dám tin được lòng thầy, vậy từ đây, non xanh chẳng mất, nước biếc hãy còn, một tấm lòng son, ngàn năm chẳng lợt. Nhưng em còn một điều nầy nữa thật rất nên khó buộc, xin thầy dung thứ cho em, và mẹ nuôi của em là bà phủ, tánh tình gắt gờm lắm, em sợ e không được cùng thầy giáp mặt cho thường, điều ấy em xin thầy chớ ngại. Vậy em đi nãy giờ cũng đã lâu rồi, xin để cho em về, kẻo má em thức dậy ắt là khó lắm.

Lê Xuân Kỳ coi lại đồng hồ, thấy đã hai giờ, cũng gần tới giờ phải đi làm việc rồi, cực chẳng đã nên phải đinh ninh vài lời, rồi phân tay nhau ai về nhà nấy. (Mưu kế của Xuân Lan đến đây, thế là xong việc).


(1) Cát ái: là cắt cục yêu ra.

(2) Sở nguyện đặng thành: là ý va ước trông cho Tòa kêu án Hoàng Hữu Chí.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Lòng người nham hiểm – Phần 10

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết năm 1926 – những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c – t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Lòng người nham hiểm - Phần 10Lòng người nham hiểm – Phần 10

Đêm ấy lối bảy giờ, bà ngồi xe kéo đến nhà thầy thông. Nguyên thầy thông nầy vẫn cũng biết bà là người đạo đức

Nên có lòng kính trọng đã lâu, khi thấy bà bước vào thì vội vàng chào hỏi lăng xăng, lại hối bồi rót nước bưng ra mời bà rồi hỏi rằng:

– Chẳng hay bà có việc chi mà đến nhà cháu tăm tối như vầy?

Bà phủ bèn tỏ thật việc mình muốn đến hỏi thăm về vụ thầy giáo Chí quá, vì tôi biết thẩy tuổi tuy còn nhỏ mà ăn nói dễ thương; từ ngày thẩy đổi lại đây tới nay, thật thẩy chẳng biết mích lòng một thằng con nít. Không biết thẩy có thù oán chi với thông Kỳ hay không mà sanh ra việc lăng nhăng như vậy?

– Thật chuyến nầy tôi sợ cho thẩy ắt gỡ không ra rồi đa bà. Vì theo lời khai của thẩy thì thẩy nói rằng thầy Lê Xuân Kỳ mời thẩy lại nhà tình nhân là Cẩm Lệ mà ăn cơm; thẩy vô ý ơ hồ, không dè bọn kia âm mưu toan rập với nhau, sắp đặt sẵn trước bao giờ mà gạt thẩy, cầm thẩy ở lại cho khuya rồi phao vu cho thẩy những đều vô liêm sĩ vậy vậy …

Còn con Cẩm Lệ thì nó khai quả quyết rằng nó là gái mồ côi, một mình ở nhà, đương ngủ nửa đêm, bị thầy giáo Chí cạy cửa lẻn vào, mong toan cưỡng bức, ép uổng gái tơ, muốn vùi hoa dập liễu, lại hăm dọa đòi chém đòi đâm nữa là khác. Hỏi Lê Xuân Kỳ thì va khai rằng đêm ấy va ngủ ở nhà va, cách nhà Cẩm Lệ hơn năm trăm thước; va cũng không quen biết chi với thầy giáo Chí mà mời thẩy ăn cơm, mà nếu có mời ăn cơm thì mới thẳng về nhà của va, chớ Cẩm Lệ là gái chưa chồng, lại cũng chẳng phải bà con thân thích chi với va, thì có lý nào mà va lại được mời khách tới ăn cơm nơi nhà Cẩm Lệ.

Hỏi chứng là Hương quản và một tên lính tuần với tám tên dân làng, thì chúng nó đều khai có một rập với nhau rằng đêm ấy lối mười một giờ khuya, chúng nó đương đi tuần đường cũng gần lối đó, thình lình nghe tiếng Cẩm Lệ la làng, bèn rủ nhau chạy tới, thấy trong nhà Cẩm Lệ đèn đuốc tối thui, tong cửa áp vào nổi đèn lên thì thấy Cẩm Lệ miệng còn la làng mà hai tay thì níu thầy giáo Chí nhủng nhẳng gần lối cửa buồng, nên chúng nó phải bắt thầy và lấy khai rồi giải nạp.

Đó! Bà nghĩ mà coi, bên thầy giáo thì chứng cớ không ngơ, còn phía bên bọn Cẩm Lệ thì đông, mà họ xúm nhau chúng khẩu đồng từ thì chết tươi thầy giáo rồi còn gì! Cha chả! Khó quá! Chuyến nầy tôi sợ thẩy gỡ không nổi đa bà.

Và nói vừa chắt lưỡi lắc đầu, lại với lấy một điếu thuốc, quẹt lửa lên đốt hút phì phà vài hơi rồi lại nói rằng:

– Bây giờ mà muốn lo cho thẩy thì phải mướn quan Thầy kiện bào chữa mới xong; chớ việc nầy tuy coi su sơ như vậy, mà nữa đây chắc sẽ giải cho tới đại hình lận đa bà.

Bà phủ nghe rõ đầu đuôi, mặt mày buồn nghiến, liền đứng dậy tạ ơn và từ giã thầy thông rồi lên xe kéo quay quả về nhà thuật lại cho chị em Thu Cúc với Xuân Lan nghe. Thu Cúc nghe rõ trước sau rồi ngồi làm thinh và suy nghĩ một mình, hồi lâu mới hội ý, liền kêu bà phủ mà nói rằng:

– Nè má! Phải rồi đa má! Thật quả thầy Hoàng Hữu Chí đã lầm mưu độc của bọn nầy rồi đa má. Vì con vẫn có nghe danh Lê Xuân Kỳ là một đứa tham tài háo sắc, phản phúc tiểu nhân, mà nó lại có tư tình với con Cẩm Lệ đã lâu. Còn thầy Hoàng Hữu Chí nầy là một người khí khái, tánh tình cang trực, hay quí trọng người quân tử, mà khinh bạc đứa tiểu nhân. Mỗi khi đàm luận với ai, thì thẩy thường dùng nghĩa chánh từ nghiêm, chẳng chịu bợ bưng, không hay vì nể, bởi vậy mà hay mích lòng những kẻ tiểu nhân, cho nên ngày nay mới sanh họa. Vì lời xưa có nói: “Khinh bạc chi thái thi ư quân tử tắc láng ngô đước: thi ư tiểu nhân tắc sát ngô nhân” (1). Mà thật rõ ràng như vậy đó.

Bà phủ nghe Thu Cúc luận mấy lời, bà cũng cho là phải, bèn nói với chị em Thu Cúc rằng:

– Việc nầy cũng tại nó cậy nói em con, mà má không chịu gả, phần thì nó thấy Hoàng Hữu Chí thường hay lai vãng nhà ta, nên nó mới sanh lòng đố kị mà di oán qua cho Hoàng Hữu Chí. Nay thấy Hoàng Hữu Chí mà mắc họa đây, gốc cũng bởi nhà mình mà ra. Vậy thì má cũng phải liều tốn ít trăm và mướn thầy kiện cho đại tài mà cứu thẩy, chớ phép sao bây giờ.

Còn đang bàn luận với nhau, bỗng nghe đồng hồ đã ngỏ mười giờ bà phủ bèn đi nghỉ. Đêm ấy hai chị em Thu Cúc với Xuân Lan, cùng nhau luận luận bàn bàn, lo tới tính lui, trót một hai giờ mà lo cũng chưa ra chuyện. Một chặp lâu Xuân Lan mới nói với Thu Cúc rằng:

– Nè chị! Lấy thêm lời của má luận với chị em mình hồi nãy đó, thì té ra thầy Hoàng Hữu Chí mà  bị hoạn họa đây là gốc bởi nơi em mà ra. Thế thì em không nỡ điềm nhiên tọa thị mà để vậy cho đành, nên em muốn liều cái thân danh, chịu mang lấy tiếng nhơ trọn một lúc mà cứu Hoàng Hữu Chí cho được vẹn toàn, chẳng hay ý chị thế nào xin nói cho em rõ với.

Thu Cúc hỏi:

– Em muốn dùng cách nào đặng cứu thẩy mà phải liều mất cái thân danh vậy em.

Xuân Lan liền kề tai nói nhỏ với Thu Cúc một hồi rồi lại nói rằng:

– Làm như vậy … như vậy … đó, thì cứu thẩy mới được.

Thu Cúc nghe rõ rồi mỉm cười vỗ vai Xuân Lan mà khen rằng:

– Cái kế của em tính đó dầu cho Phạm Lãi tái sanh cũng không hơn được, vả nó là đứa háo sắc, nếu em dùng kế đó ắt nó phải mang rồi, em cứ thi hành liền đi, mựa đừng dụ dự, song em phải cẩn thận cho lắm mới được đa em.

Xuân Lan lại nói:

– Mưu bất khả chúng (2) cho nên lời em nói ra thì nó lọt vào tai chị mà thôi, chớ em há đi dại gì lại nói với ai hay sao mà chị phòng dặn vậy, chí như mà ở nhà đây, chị em mình cũng phải giấu luôn, nếu chừng nào mà thấy em làm như vậy … như vậy … mà má có tưởng em là đồ mất nết, thì mặc tình quở trách đuổi xua, em cũng cam tâm mà chịu, miễn làm sao mưu kết đạt thành mà cứu người là đủ.

Thu Cúc gật đầu khen phải. Rồi đó hai chị em lại rủ rỉ nhỏ to với nhau một hồi rất lâu, sắp đặt rập rang đâu đó xong xuôi thì đồng hồ đã gõ một giờ khuya rồi. Chừng ấy hai chị em mới tắt đèn rủ nhau đi nghỉ.

Từ đó mỗi buổi sớm mai, cô Xuân Lan thường đi chợ, đầu cổ cô ngó vẻn vang, hình dung cô xem rất đẹp, bữa thì cổ mặc cẩm nhung đen, bữa thì cổ đổi áo sa ten màu tím sẫm, cổ cô đeo ba sợi dây chuyền, hai cườm tay cô lại đeo hai xâu chuỗi hột, ngón tay cô như mũi viết, cổ tay cô tròn xoe, nước da cô trắng đỏ, nét mặt cô sáng rỡ như một đóa phù dung. Cái vẻ đẹp của cô thật là tuyệt thế vô song, lục tỉnh ta cũng ít có.

(Phàm viết sách mà dùng cách tả chơn phải tả ra cho rõ mà xem, chớ từ xưa đến nay những cô gái nào có phước mà được có cái vẻ đẹp thiên nhiên rồi, dầu cho ăn mặc cách nào, thức gì, thì cái vẻ tự nhiên cũng xinh đẹp.)

Khi ra tới chợ rồi thì cô cứ cố ý mua bươn, mua bả, mua hối, mua hả cho rồi, đặng lựa cho đúng giờ của Lê Xuân Kỳ đi làm việc, mà về cho kịp, cho hai đàng gặp nhau, cô lại làm màu nét mặt tươi cười, chào hỏi một cách niềm nở.

(Húy chao ôi! Một cái nét cười của một ả mỹ nhân, dễ gì mà có, dễ gì mà mua cho được).

Ban đầu hễ gặp nhau thì bất quá chào hỏi sơ qua vậy thôi, vậy mà còn làm cho Lê Xuân Kỳ thần tinh phải điên đảo thay!

Huống chi sau lần lân cô lại làm ra tuồng mi lai nhãn khứ, thì Lê Xuân Kỳ tài nào mà không đến ngất cả người.

Thường bữa cũng thường gặp nhau như vậy, mà ngày nào cô cũng cố ý làm mồi trêu ngươi như vậy, làm cho tâm hồn thất phách của Lê Xuân Kỳ đều phải dật dờ dật dưỡi bay bổng theo cô, duy ức có một điều là không biết làm sao cho được gần cô mà tỏ bày tâm sự.

Nhưng mãi lần lữa như vậy mà đã trót tháng ngoài, kế nghe tòa đã giải Hoàng Hữu Chí về Sài Gòn đặng chờ ngày đại hình hội xử.


(1) Đem cái thói khinh bạc mà đối với người quân tử ắt mất được của ta, đối với kẻ tiểu nhân ắt giết thân ta.

(2) Mưu chẳng nên dòng: vì mưu mà tính với nhiều người e không kín nhẹm.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Lòng người nham hiểm – Phần 09

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết năm 1926 – những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c – t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Lòng người nham hiểm - Phần 09Lòng người nham hiểm – Phần 09

Bữa kia nhằm ngày thứ bảy, Lê Xuân Kỳ đến thăm Hoàng Hữu Chí và mời Hoàng Hữu Chí đến nhà tình nhân của mình mà dùng một bữa cơm chiều đặng đàm đạo chơi. Nguyên Hoàng Hữu Chí là người tinh tế, tính hay cẩn thận lắm, thuở nay ít ai nghe mời rủ mà chịu đi đâu bao giờ, và bấy lâu ít ưa Lê Xuân Kỳ cho lắm, nhưng vì nghe Lê Xuân Kỳ thường hay khoe khoang Cẩm Lệ cái sắc tài đầy đủ, ngôn hạnh đoan trang, mà nhứt là nghề nấu ăn khéo lắm nên cũng dùng dịp ấy đến chơi cho biết, mà đó cũng là cái phần Hoàng Hữu Chí phải mắc cái nạn lao tù vài tháng, nên khiến cho chàng ta hứa chịu.

Lê Xuân Kỳ mừng rỡ vô cùng, bèn dặn dò xin đừng thất tín, rồi từ giã ra về, đi thẳng qua nhà mà cho Cẩm Lệ hay đặng có toan tính với nhau sắp đặt lới rập cho sẵn sàng mà chờ Hoàng Hữu Chí.

Chiều bữa ấy lối sáu giờ, Hoàng Hữu Chí vừa bước đến nơi, Lê Xuân Kỳ làm bộ mừng rỡ chạy ra bắt tay mời vào chuyện vãn lăng xăng, rồi lại kêu mình ơi, mình hỡi, mà nói rằng:

– Thầy giáo đã lại rồi đây nè mình ơi!

Cẩm Lệ ở trong nhà sau bước ra chào hỏi sơ sài, rồi xin kiếu vì mắc lo đồ ăn sau bếp.

Ngoài nầy Lê Xuân Kỳ cứ ân cần mời Hoàng Hữu Chí uống vài ly khai vị (apéritif) đặng có dùng cơm cho ngon bữa, uống rượu và kiếm chuyện dông dài mà nói cầm chừng, vì bợm ta nói gạt Hoàng Hữu Chí có mời đôi ba ông bạn đồng liêu, nên phải uống rượu nói chuyện cầm chừng mà chờ khách.

Đó là bợm ta cố ý làm bữa ăn trễ cho khuya, cho tiện bề hạ thủ.

(Viết tới đây ký giả cũng bắt ghê bắt gớm cho cái lòng nham hiểm của người đời, càng thấy chừng nào càng thêm chán ngán).

Trời một ngày một khuya mà không thấy ai hết. Lê Xuân Kỳ làm bộ xăng văng xéo véo, chạy ra chạy vào mà ngó chừng hoài, dường như trông ai lắm vậy. Đồng hồ gần gõ tám giờ rồi mới làm bộ giận dữ mà nói rằng:

– Thật mấy anh nầy khốn nạn quá! Đi, không đi gì cũng cho người ta biết, có lý nào đã hứa đi rồi để cho người ta chờ gần trối chết. Thôi thây kệ, họ có tới trễ thì họ uống rượu khan cho họ biết chừng.

Nói rồi liền nắm tay Hoàng Hữu Chí dắt lại bàn ăn và nói rằng:

– Trễ quá rồi, tôi đói bụng lắm, thôi, hai anh em mình đi ăn, chớ ai hơi sức đâu mà chờ họ nữa.

Rồi đó hai người ngồi lại ăn uống chuyện trò với nhau. Lê Xuân Kỳ cố ý kiếm chuyện minh minh mông mông, ngông ngông nghênh nghênh mà nói mãi chớ không chịu dứt. Hoàng Hữu Chí coi chừng đồng hồ, thấy đã chin giờ rưỡi rồi, một lát lại thấy mười giờ. Có nhiều khi muốn dợm đứng dậy kiếu về, mà bị Lê Xuân Kỳ cứ ngồi nói chuyện dông dông dài dài mà cầm lại mãi.

Gần mười một giờ khuya, Hoàng Hữu Chí nhứt định kiếu về. Lê Xuân Kỳ liệu chừng giờ ấy cũng vừa buổi ra tay rồi, bèn giả chước nói với Hoàng Hữu Chí rằng:

– Bây giờ trời cũng khuya rồi, vậy để tôi đóng bớt cửa giùm cho cổ, rồi tôi cũng di về, tiện đường tôi xin đưa thầy về nhà luôn thể.

Đã đôi ba phen Hoàng Hữu Chí muốn dứt ra mà về một mình, song bị Lê Xuân Kỳ ân cần cầm cọng quá, nên không nỡ phật ý.

(Thường người quân tử mà mắc kế đứa tiểu nhân, thì cũng vì có một cái lòng không nỡ mà thôi). Lúc nầy chén bác cổ bàn thì Cẩm Lệ đã dọn dẹp hết rồi. Khi Lê Xuân Kỳ đóng cửa xong rồi lại giả ý nói rằng:

– Xin thầy chịu phiền chờ tôi một chút, tôi đi tiểu tiện, tôi trở vô liền, rồi mình sẽ đi về với nhau.

Nói rồi liền tằng hắng một tiếng bèn bước rảo ra ngoài tìm đường mà dông mất. Hoàng Hữu Chí ơ hờ, không dè là kế. Trong nầy Cẩm Lệ nghe tằng hắng và thấy Lê Xuân Kỳ đi rồi thì hội ý, liền bước ra làm bộ sợ gió, khép cửa lại, rồi quày trở vô, xuất kỳ bất ý, tay chụp níu Hoàng Hữu Chí, còn miệng thì thổi đèn và la làng inh ỏi. Hoàng Hữu Chí thất kinh, miệng thì kêu Lê Xuân Kỳ, còn tay thì gỡ Cẩm Lệ ra đặng có giải vây mà chạy.

Ai ngờ Lê Xuân Kỳ đâu không thấy, lại thấy nào là hương quản, nào là lính tuần, nào là dân làng hơn trót mười người, kẻ đòn tay, người thước nách, ào vô áp bắt Hoàng Hữu Chí, rồi hối đốt đèn lên đặng có mở đàng tra vấn. Hương quản làm bộ nhìn coi rồi giả ý lấy làm lạ mà nói rằng:

– Ủa! Thầy giáo đây mà! Trời đất ôi! Thầy làm cái gì mà lạ vậy thầy? Nhà người ta là con gái côi cút có một mình, đêm hôm tăm tối, thầy lẻn vào đây chi vậy.

Hoàng Hữu Chí cứ đem việc Lê Xuân Kỳ mời mình ăn cơm mà thuật lại, mà có ai chịu tin cho. Hương quản nói:

– Thầy nói sao khó nghe quá! Vả thầy Lê Xuân Kỳ có nhà có cửa, cách đây cũng chẳng bao xa, nếu thẩy muốn đãi thầy thì mời về nhà thẩy mà đãi, chớ ở đây là nhà của Cẩm nương, có bà con thân thích gì với thẩy mà thẩy mời thầy lại đây ăn cơm, vậy chớ thẩy ở đâu, sao không thấy, có phải là tình ngay mà lý gian chăng?

Hỏi Cẩm Lệ thì Cẩm Lệ cứ khai quyết rằng:

– Tôi đang ngủ nửa đêm, không biết thẩy cạy cửa mà vô hồi nào, ý muốn gian dâm, tôi không chịu, thẩy lại hăm dọa đòi giết tôi, nên tôi sợ mà la làng. Thẩy muốn thoát chạy, bị tôi níu kéo nhủng nhẳng, may nhờ mấy ông tới kịp, chớ không thì ắt thẩy đã giết tôi rồi.

(Nguyên Lê Xuân Kỳ đã mướn bọn nầy mà sắp đặt trước rồi, cho nên Hoàng Hữu Chí dầu có cái lưỡi bén như gươm đi nữa, cũng không cãi cho qua được.)

Hương quản làm bộ ngay thẳng mà nói rằng:

– Cô nầy khai vậy, thầy nọ khai vầy, chưa biết ai ngay ai gian, phận tôi làm làng, cứ việc công khai, giải nạp tới quan, chừng ấy hai đàng, mặc dầu đối nại.

Nói rồi liền hối dân còng Hoàng Hữu Chí lại. Ban đầu Hoàng Hữu Chí còn vùng vẫy không chịu cho còng, sau thấy chúng nó đông quá, liệu cự không lại, mà còn e nếu mình cự với chúng nó đây thì ắt chúng nó sẽ làm nhục mình, chi bằng tùy thời nhẫn nại, chờ đến chỗ công lý sẽ hay. Bởi như vậy nên cũng dằn lòng mà để cho bọn đầu trâu mặt ngựa, mặc dầu còng trói.

Thiệt là:

Rồng nằm nước cạn tôm lớn mặt,

Cọp xuống đất bằng chó ngoắc đuôi.

Liền đó, Hương quản dạy dân dắt Hoàng Hữu Chí đem về giam đỡ tại bót làng. Sáng ra bữa sau mới làm phúc bẩm rồi hiệp với khai báo hai đàng và chứng cớ mà giải hết nội vụ đến quan Biện lý.

Quan Biện lý liền tra hỏi tên họ cha mẹ, quê quán, tổng làng, tên tuổi và chức nghiệp xong xuôi, dạy giam Hoàng Hữu Chí rồi giao hết giấy tờ nội vụ cho quan Bồi thẩm mở đàng tra vấn.

Ngày ấy thiên hạ lao nhao lố nhố, xậm xì, xậm xịt đồn rùm rằng:

– Đêm hôm qua thầy giáo Hoàng Hữu Chí lén đến cạy cửa vào nhà Cẩm Lệ, cố ý cưỡng dâm sao đó, bị làng bắt giải, tòa đã giam rồi.

Nghe được tin chẳng lành ấy nội nhà bà phủ, cả ba mẹ con đều lấy làm lạ, dường như sét đánh vào tai, suy tới nghĩ lui, bàn qua tính lại rằng:

– Không lẽ, một người học thức như vậy, tánh tình như vậy mà lại làm điều nhục nhã, vô liêm sĩ, bất lương tâm?

Rồi lại nghĩ rằng:

– Mà cũng không lẽ, chó đâu có sủa lỗ không? Nếu không vậy thì đêm hôm khuya khoắt, ma dắt lối quỉ đem đường hay sao mà đi đâu đó cho người ta bắt vậy?

Lúc ấy bà phủ lấy làm bối rối, vì bấy lâu bà thấy tánh tình và thái độ của Hoàng Hữu Chí mà thương, nên bà quyết ý muốn gả Xuân Lan cho chàng, song chưa kịp tính mà nay lại sanh ra việc luân thường đồi bại như vậy, làm cho bà thất vọng. Bèn tính để hỏi thăm và dọ nghe lại thử coi cho biết chơn giả lẽ nào rồi sẽ liệu.

Còn Hoàng Hữu Chí bị giam trong khám, cứ ngồi lặng thinh, trầm tư mặc tưởng, suy nghĩ một mình. Nghĩ tới cái mưu gian của Lê Xuân Kỳ thật là quá độc, chừng ấy mới biết lòng người nham hiểm. nghĩ lại mà rùng mình.

Bèn nói thầm rằng: “Hèn chi người ta nói: Bất phách hổ sanh tam cá khẩu, chi chủng nhân hoài tưởng dạng tâm (Chẳng sợ cọp sanh ba cái miệng, chỉ sợ người ở hai lòng.) Thật là lời ấy không lầm. Một mình suy tới nghĩ lui, mới biết cái đường đời nó gay go là thế. Tuy vậy chớ chàng ta chẳng hề núng tấc lòng, vì tự biết cho mình hẳn thật là vàng mười, càng nung nấu chừng nào thì càng tốt càng tươi, không sờn không rúng.

Dầu cho sấm sét búa rìu,

Cũng đem vàng đá mà liều với thân.

Song ngồi mà nghĩ lại từ ngày ta lên đất Tây Ninh đến nay, chẳng có một người biết được lòng ta, duy có một mình bà phủ Ân biết ta mà yêu vì kính trọng đó thôi, thế thì bà phủ nầy tức là tri kỷ của ta đó.

Đến như cái việc hàm oan của ta đây, mặc tình thế tục nghị luận lăng xăng, dầu họ có đề quyết cho ta đi nữa, ta cũng chẳng sờn, ta chỉ phú cho cao xanh soi xét. Ta lo là lo có một mình bà phủ mà thôi, vì sợ e bà cũng lấy theo phụ nữ thường tình mà ức độ cho ta rằng quả có làm điều cang danh phạm nghĩa ấy, thì rất uổng cho cái lòng tốt của bà yêu vì kính trọng ta tự bấy lâu nay.

Vậy thì ta phải tạm kính vài hàng gởi ra mà tố trần cái điều oan khuất của ta cho bà rõ, đặng cho bà minh được cái tâm tích của ta, dầu có thác cũng đành nhắm mắt. Nghĩ rồi bèn hỏi lính gác khám, mượn một cây viết chì và xin một chút giấy viết thảo vài hàng như vầy:

“ Một ngày tri ngộ, muôn kiếp ghi xương;

Tai họa phi thường, cao xanh soi xét;

Tình đời thương ghét, cháu để ngoài tai;

Cháu một xin bà, biết cho là đủ.

Phạm nhân, Hoàng Hữu Chí bái thượng”.

Viết rồi xếp lại, cậy người lính gác, chờ lúc mãn phiên, xin đem ra dùm trao cho bà phủ.

Khi bà phủ được thơ, liền lấy ra một đồng bạc mà cho tên lính đem thơ. Tên lính tạ ơn đi rồi, bà mới kêu hai cô con ra, dạy ngồi bên cạnh, rồi mới mở bức thơ ra mà xem chung với nhau. Bà xem thơ, suy nghĩ hồi lâu mới nói với hai cô con rằng:

– Thầy giáo thẩy nói như vầy thì má cũng bán tin bán nghi quá đi con, vậy sẵn thầy thông đứng bàn cửa quan Bồi thẩm này với má cũng có quen. Thôi, để tối nay má đi lại nhà thẩy mà hỏi thăm thử coi, lời khai báo thể nào và việc dữ lành cho biết.

Hai cô con cũng lấy làm phải.


Còn tiếp

Related Images: