Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 19: Kết

Vài lời từ người biên soạn

Tôi chưa tìm được Nguyên bản in kèm theo sách thuốc Nhị Thiên Đường năm 1920. Bản đánh máy trên trang này dựa theo Bản in của Nhà xuất bản Long An, phát hành 1989. Theo Lời giới thiệu từ Nhà xuất bản thì Bản in này giữ theo Nguyên bản 1920.

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.


Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 19: KếtHồi 19: Đoàn viên một cửa

Đây nhắc lại việc nàng Trịnh Phương Lan, từ ngày cha con gặp nhau rồi, thì nàng cứ chăm lo phận sự làm con, thần tỉnh mộ khan, chẳng hề sai sót, lại thêm nữ công nữ hạnh cũng hoàn toàn, bao nhiêu tôi trai tớ gái trong nhà, mỗi khi sai khiến việc chi, thì nàng dùng lời ngọt tiếng êm mà dạy bảo. Vì vậy mà tự trong nhà cho tới xóm giềng, thảy đều yêu trọng. Gặp lúc thảnh thơi, nàng lại đem cái lòng nghĩa Thị Phụng mà thuật lại cho cha nàng nghe. Bởi đó cho nên ông Trịnh Thế Xương mới đem lòng thương yêu tin cậy Thị Phụng, đãi như con cháu ruột thịt trong nhà, lại thường châu cấp bạc tiền để Thị Phụng đem về cho mẹ nàng dưỡng thân và cho em nàng vào trường mà học.

Cách vài tháng sau, Trịnh Thế Xương coi được ngày lành, bèn viết thơ cho Trần Trọng Nghĩa hay, rồi dọn dẹp cửa nhà, mời hết làng xóm, thân thích họ hàng mà định chữ Vu Qui cho con gái.

Bên kia, Trần Trọng Nghĩa khi được tin lành, cũng xin phép được một tuần qua Tân Châu cưới vợ.

Đến ngày, Trịnh Thế Xương dọn dẹp nhà cửa trang hoàng, họ đương hai đàng đông đủ. Trịnh Thế Xương ra đứng giữa trung đường, lâm râm khấn vái tổ tiên, rồi cho Trần – Trịnh hai họ làm lễ động phòng huê chúc.

Làm lễ xong, liền dọn cỗ bàn, hai họ ăn uống chuyện vãn, vầy đến xế qua mới mãn tiệc.

Đêm ấy Trần Trọng Nghĩa với Trịnh Phương Lan, vợ chồng vầy hiệp, tình tự với nhau, nhơn nhắc lại những ngày đâu đâu, nhắc tới chừng nào càng mến càng yêu, tình thân ái càng thêm khắng khít.

Từ đây duyên mặn tình nồng, hết lối biệt ly, mừng hồi sum hiệp.

Một đêm kia, Trịnh Phương Lan nhơn lúc thảnh thơi bèn nói với chồng:

– Thầy ôi! Đôi ta mà gặp gỡ nhau đây, ấy cũng là duyên kỳ ngộ. Nay vợ chồng ta hương lửa đà bén duyên, thì đã an phận rồi; song còn một con nghĩa tỳ của tôi là Thị Phụng, thiệt là một đứa tín nghĩa đáng thương, ta cũng nên kiếm chỗ cho nó gởi phận trao duyên, cho yên thân nó.

Trần Trọng Nghĩa nghe lời nhơn hậu của vợ phân như vậy thì cũng vui lòng, bèn suy nghĩ một hồi rồi gật đầu mỉm cười và nói rằng:

– Có vậy cũng may, vậy để tôi tính như vầy, cô nó liệu coi có được cùng chăng? Cô nó thì có một đứa nghĩa tỳ, còn tôi đây lại có một thằng nghĩa bộc; ta nên tác hiệp cho hai đứa ăn ở với nhau, được như vậy thì chúng nó đã gần với ta, ngày sau ta cũng lo gầy dựng cơ nghiệp cửa nhà cho nó; chẳng hay cô nó ý nghĩ thế nào?

Trịnh Phương Lan nghe nói rất mừng:

Sáng ra bữa sau, vợ chồng bèn đem việc mình bàn tính mà thưa lại cho cha nghe. Trịnh Thế Xương vui lòng, liền cho người đi mời mẹ Thị Phụng là bà Năm Thọ ra mà tỏ việc mình muốn cưới Thị Phụng cho thằng hai Mốc. Bà Năm Thọ cũng đành. Trịnh Thế Xương bèn cho đi mời một ông hương chức trong làng và ông Cai bộ đến, dọn tiệc đãi đằng rồi xin làm hôn thú.

Đêm ấy, ông Trịnh Thế Xương dậy nấu chè xôi, lại nói bà Năm Thọ đứng vái tổ tiên, rồi cho hai trẻ giao bôi hiệp cẩn.

Từ đó, hai vợ chồng thằng Mốc đã được ấm no; chồng thì quản suất tôi trai, còn vợ thì hành tớ gái, như hai vị quản gia; vợ chồng Trịnh Phương Lan lại đãi như em ruột trong nhà.

Ngày kia rảnh việc, Trịnh Thế Xương bèn nói với Trần Trọng Nghĩa rằng:

– Cha tuổi tác đã già, gần đất xa trời ngày nào chưa biết; sự nghiệp nầy cha phú thác cho vợ chồng con, vậy thì con cũng nên xin thôi việc sở cho rồi, đặng về mà săn sóc việc nhà, chớ một tháng lương cũng chẳng bao nhiêu mà con phải bị bó buộc vào lòn ra cúi.

Trịnh Phương Lan cũng kiếm lời chánh đáng mà khuyên chồng. Trần Trọng Nghĩa thế phải xuôi theo, liền gởi đơn xin từ chức.

Từ đó, cha con chồng vợ sum hiệp một nhà, con thảo rể hiền, trên hòa dưới thuận.

——————————— Kết ——————————-

Related Images:

 

Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 18

Vài lời từ người biên soạn

Tôi chưa tìm được Nguyên bản in kèm theo sách thuốc Nhị Thiên Đường năm 1920. Bản đánh máy trên trang này dựa theo Bản in của Nhà xuất bản Long An, phát hành 1989. Theo Lời giới thiệu từ Nhà xuất bản thì Bản in này giữ theo Nguyên bản 1920.

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.


Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 18Hồi 18: Gian giảo trời chẳng dung

Đây nói qua việc Triệu Bất Thanh, từ khi ăn cắp được 1 ngàn đồng bạc của cậu mình rồi chẳng mấy ngày đà thua sạch! Từ đó tới sau, không ai hay biết chi hết. Đến khi Trịnh Thế Xương nhìn được Thị Quế là Trịnh Phương Lan thiệt mà đem về, thì bợm ta lấy làm hối hận chẳng cùng, lại bị lương tâm cắn rứt, ăn ngủ chẳng yên. Ngày kia, hắn vùng thưa thiệt cho cậu là Trịnh Thế Xương hay rằng: 1 ngàn đồng bạc mất lúc nọ là mình ăn cắp, mà nay đã thua cờ bạc hết rồi. Trịnh Thế Xương nổi giận liền mời làng đến làm tờ từ, lại cho 2 trăm đồng bạc, đuổi ra khỏi cửa.

Triệu Bất Thanh lãnh bạc, cuốn gói ra đi, tuốt lên Nam Vang, theo cờ bạc ít ngày đà sạch túi; đến sau trôi nổi tới Biển Hồ, rồi không biết chết sống lẽ nào mà biệt tích. (Rồi đời hết một mạng).

Nói về Đào Phi Đáng khi thoát thân tuốt qua Châu Đốc, quyết tìm Lâm Trí Viễn mà kết cuộc gió trăng như cũ; chẳng dè qua đến nơi hỏi thăm dì Tư bán cá thì dì nói Lâm Trí Viễn đã lên Sài Gòn vào trường lớn mà học rồi. Chị ta sẵn tiền cũng quá giang tàu đò tuốt lên Sài Gòn mà tìm Lâm Trí Viễn. Ai ngờ kiếm trọn một tuần mà không ra tông tích.

 Ngày kia nhằm ngày chúa nhựt, học trò các trường đều được ra chơi. Đào Phi Đáng theo đón hỏi thăm, té ra nghe nói Lâm Trí Viễn bị đau bịnh trái trời, mới chết cách hai, ba ngày trước. (Rồi đời hết hai mạng).

Chừng đó Đào Phi Đáng mới ngả lòng, chẳng còn trông tìm kiếm chi ai nữa hết, bèn tính mướn một căn phố tại đường mới mà ở.

Từ đây ả mặc sức quến gió rủ trăng, ngựa quen đường cũ, đánh cho chết cái nết cũng chẳng chừa: sớm mận, tối đào; mai nhành chim, chiều lá gió.

Ngán thay! Cái kiếp má hồng.

Hại thay! Mắc phải vào vòng trần ai.

Lật bật chẳng mấy lâu, bao nhiêu vòng vàng chuỗi hột bị điếm đàng lột hết sạch trơn. Mà ba mươi đời cái giống bất lương, hễ chừng hết kiếp thì tai hại dập dồn, lưới trời khó trốn. Bởi đó cho nên lụi đụi ít ngày rồi phải sa vào chốn lầu xanh, lại bị lấy chứng ác sang, chẳng mấy ngày mà bỏ mạng. (Rồi đời hết ba mạng).


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 17

Vài lời từ người biên soạn

Tôi chưa tìm được Nguyên bản in kèm theo sách thuốc Nhị Thiên Đường năm 1920. Bản đánh máy trên trang này dựa theo Bản in của Nhà xuất bản Long An, phát hành 1989. Theo Lời giới thiệu từ Nhà xuất bản thì Bản in này giữ theo Nguyên bản 1920.

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.


Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 17Hồi 17: Tính việc trăm năm

Đêm ấy trời cũng gần khuya, quan khách đều về hết. Trịnh Thế Xương bèn mời Trần Trọng Nghĩa vào nhà trong, hối gia đinh nấu nước, lại dạy bỏ trà Diệc Thái mà đãi Trần Trọng Nghĩa. (Vì ổng biết Trần Trọng Nghĩa tánh ưa trà ngon).

Khi đương uống trà, Trịnh Thế Xương ngó Trần Trọng Nghĩa rồi mỉm cười mà nói rằng:

– Tôi có ý mời thầy qua đây chơi đặng tôi tỏ một điều tâm sự với thầy, may nhờ thầy chẳng bỏ bụng tôi mà qua tới đây, thiệt ơn rất trọng. Tôi chẳng nói giấu chi thầy, tôi đây tuổi đã tri thiên, sanh có một mình Trịnh Phương Lan là gái, mẹ nó mất sớm, tưởng có cha con hủ hỉ với nhau, chẳng dè gặp lúc rủi ro mà làm cho con tôi phải thất lạc hơn mười mấy năm trời, tôi cũng tưởng chẳng còn chi mà trông gặp được con tôi. May nhờ ơn trời phò hộ, lại gặp thầy là người nghĩa khí thâm trọng, hết lòng chẩn cứu, ra tay tế độ vớt người trầm luân, cho nên ngày nay cha con tôi mới được trùng phùng. Cái ơn trọng đức dày của thầy đây, tôi không biết lấy chi mà đền đáp cho vừa, vậy tôi xin lỗi với thầy, mà tỏ thiệt cùng thầy; thoảng như thầy chẳng chê nó là gái bỉ lận, thì tôi nguyện gả nó cho thầy, phòng sau nó sửa tráp bưng khăn cho thầy, mà đền ơn tái tạo. Chẳng hay thầy nghĩ thế nào?

Trần Trọng Nghĩa nghe nói, dường như trúng tim đen, song cũng tỏ ý khiêm nhượng, nghiêng mình chắp tay xá mà thưa rằng:

– Vả phận tôi côi cút, may nhờ phước ấm của tiên nhơn, nên mới hưởng được chút mùi học thức. Lẽ làm người, hễ thấy nghĩa thì phải làm, chớ tôi đâu dám kể ơn cùng lịnh ái! Huống chi tôi với cô Hai, trước đã có lời ước nguyện, lấy tình bằng hữu mà đãi nhau. Nay bác thương mà dạy vậy, thì tôi cũng đội ơn, song chưa biết ý cô Hai định liệu lẽ nào, tôi đâu dám quyết.

Trịnh Thế Xương hiểu ý, gật đầu rồi kêu Trịnh Phương Lan ra, nói rằng:

– Cha sanh có một mình con là gái, nay cha cũng đã già yếu rồi, nên phải lo định bề gia thất cho con, phòng sau cha có nhắm mắt đi rồi, thì con sẵn có đôi bạn mà giữ gìn cơ nghiệp. Nay sẵn có thầy thông đây là một người trung hậu quân tử, lại là ân nhơn của con, nếu cha gả được con cho thầy thông nầy thì một là tròn ơn tròn nghĩa cho con, hai là chẳng uổng cái công cha sanh con và cũng chẳng phụ tấm lòng cha ước nguyện. Ý con thế nào, con cứ nói thiệt cho cha nghe, mựa đừng nghi ngại.

Trịnh Phương Lan nghe nói thì xúc động tâm tình, rưng rưng nước mắt, quì xuống lạy cha:

– Thân con vô phước, bị rủi ro mà phải làm nô lệ mười mấy năm trời, tưởng kiếp nầy không thấy được mặt cha, dè đâu mà trời còn vãn hộ, khiến cho con gặp được thầy thông nầy là người háo nghĩa, đã mấy phen cứu con khỏi nạn mà chẳng hề sanh một mảy lòng tà, chớ chẳng phải như kẻ thường nhơn, thấy gái tơ lạc nạn, cô độc một mình mà hiếp bức việc trăng trăng gió gió, ấy là một người bình lễ quân tử đáng kính đáng khen. Nay con lạy cha, xin thứ tội cho con tỏ thiệt một đôi lời, bởi con thấy người hiền lương phương chánh, nên đã lâu rồi, con vẫn có lòng trộm dấu thầm yêu; song con có nguyện cùng trời rằng: nếu con không gặp được cha thì con thề quyết chung thân bất giá. Bởi đó cho nên từ ấy nhẫn nay, con chỉ lấy tình bằng hữu mà đãi thầy thông vậy thôi; không dè mà khi nên trời cũng chìu người, ngày nay cha con ta đã được đoàn viên, trời lại còn khiến lòng cha cũng thương thầy thông mà dạy con như vậy, thì một là con chẳng cãi lịnh cha, hai là lời ước nguyện của con đã được toại, ba là việc chung thân của con về sau ắt được chỗ cậy trông, bốn là con cũng được đền bồi ơn tái tạo!

Nói tới đó Phương Lan vùng giựt mình có ý thẹn thầm, nàng ngó chừng Trần Trọng Nghĩa rồi xẻn lẻn làm thinh, chẳng nói một lời chi nữa.

Trịnh Thế Xương mừng rỡ vô cùng, bèn nói:

– Thôi, con hãy đi nghỉ đi, để cha nói chuyện với thầy thông giây lát.

Phương Lan lui vào phòng rồi, Trịnh Thế Xương liền day lại nói với Trần Trọng Nghĩa:

– Thầy mắc làm việc quan, ít khi xin phép được, vậy sẵn mai nầy là ngày Thiên hỉ, tôi cho mời làng xóm đặng làm Lễ Sơ vấn cho rồi.

Trọng Nghĩa liền đứng dậy lạy Trịnh Thế Xương:

– Bác thương tôi mà tính vậy, chớ tôi qua đây thình lình, ngỡ là qua thăm bác mà thôi, nếu bác tính gấp như vầy thì lễ vật tôi sợ e sắm không kịp chăng.

Trịnh Thế Xương cười:

– Việc ấy thầy chớ lo, để tôi tính cho.

Nói rồi, ông liền hối gia đinh trải nệm giăng mùng nơi nhà trước cho Trần Trọng Nghĩa nghỉ ngơi.

Sáng ra bữa sau, Trịnh Thế Xương dậy dọn nhà cửa để trang hoàng, lại cho mời hết làng xóm, bà con thân thích, họ hàng tựu đến rất đông, rồi ra đứng giữa mà nói rằng:

– Con gái tôi là Trịnh Phương Lan, lúc nó mới 6 tuổi, rủi bị hỏa tai mà cha con cách biệt đã hơn mười mấy năm trời, lưu lạc xứ người làm thân nô lệ; may nhờ thầy thông dây thép là Trần Trọng Nghĩa, ba phen chẩn cứu, cho nên cha con tôi mới được trùng phùng, nay tôi chẳng biết lấy chi mà đền đáp cho vừa, nên tôi tính gả nó cho thầy, cho tròn ơn tròn nghĩa. Vả lại, thầy thông nầy là người trung hậu đáng khen, còn nhà tôi thì cơ nghiệp dư muôn; tôi thì tuổi tác càng ngày càng lớn, nếu có con như vậy mà được rể như vầy, dầu có thác tôi cũng vui lòng nhắm mắt. Huống chi mình là phận cha mẹ, câu “nam hôn nữ giá” phải sớm lo; vậy sẵn hôm nay đây là ngày Thiên hỉ, rất được ngày giá thú nghinh hôn, nên tôi mời các ông đến đây mà chứng Lễ Sơ vấn cho con tôi, xin các ông cạn chén cùng tôi mà mừng giùm cho đôi trẻ.

Trịnh Thế Xương vừa dứt lời, ai nấy đều vỗ tay khen rộ. Rồi chủ khách chuyện vãn vui vầy, chén tạc chén thù, đến xế qua mới mãn tiệc.

Trần Trọng Nghĩa ở chơi vài ngày, rồi từ giã cha vợ, trở về Châu Đốc.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 16

Vài lời từ người biên soạn

Tôi chưa tìm được Nguyên bản in kèm theo sách thuốc Nhị Thiên Đường năm 1920. Bản đánh máy trên trang này dựa theo Bản in của Nhà xuất bản Long An, phát hành 1989. Theo Lời giới thiệu từ Nhà xuất bản thì Bản in này giữ theo Nguyên bản 1920.

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.


Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 16Hồi 16: Gian mưu bại lộ

Cha con Trịnh Phương Lan từ giã bà Năm Thọ, hối bạn chèo thẳng về nhà.

Khi họ đến nhà, bao nhiêu tôi trai tớ gái thấy có Thị Quế về theo thì mừng rỡ chẳng cùng, bèn kêu mà nói chuyện lần với nhau rằng:

– Ông đã kiếm được cô Ba đem về kia cà!

Xóm giềng nghe đặng tin ấy, rủ nhau chạy đến hỏi thăm, chuyện vãn rum nhà, nói nói cười cười rất nên vui vẻ.

Nói về ông Trịnh Thế Xương là một người tánh tình thuần hậu, cử chỉ khoan hòa, cho nên tuy đã biết mình lầm mưu gian trá của Đào Phi Đáng thì mặc dầu, song cũng còn không nỡ hở môi mà gấp nói lời chi tới nàng.

Còn Đào Phi Đáng tuy chưa nghe Trịnh Thế Xương rỉ tới điều chi, song thấy ổng tìm được Thị Quế đem về thì trong lòng đà nghi lự. Lại thêm nghe Thị Phụng xì xầm to nhỏ với sắp đầy tớ trong nhà thì biết cái gian mưu của mình đà bại lộ. Ả bèn ở miết trong phòng, lẳng lặng làm thinh, tính thế thoát thân cho khuất mắt.

Đêm ấy vừa lúc canh ba, Đào Phi Đáng nghe chừng trong nhà ai nấy đều ngủ hết, bèn mở rương lấy hết áo quần, vòng vàng chuỗi hột gì đều túm lạo một gói, rồi lỏn ra ngõ sau mà dông mất.

Còn ông Trịnh Thế Xương, đêm ấy tuy đã vô mùng, song nỗi mừng phụ tử trùng phùng, cho nên nằm thổn thức còn chưa an giấc, lúc trống canh vừa điểm ba dùi, vùng nghe bên phòng Phi Đáng có tiếng mở rương, chập lâu lại nghe có tiếng động nơi cửa phía sau cọt kẹt. Ông ta phát nghi, liền ngồi dậy lén bước tới phòng Phi Đáng nom coi. Té ra vừa đến nơi thì thấy phòng không mở hoác, bóng người vắng hoe. Ông ta lại bước luôn ra cửa sau; thấy cửa mở, lại mau bước ra ngoài ngó thấy dạng nàng xách gói xung xăng đi thoát, chừng ấy Trịnh Thế Xương đã hiểu ý, bèn đứng ngó theo và mỉm cười một mình rồi trở vào đóng cửa lại mà nghỉ.

(Đọc tới đây, chắc sao khán quan cũng lấy làm lạ, vì Đào Phi Đáng đi trốn đây tất nhiên nàng cũng ăn cắp quần áo bạc tiền mà đem theo chớ lẽ nào không! Phải ông Trịnh Thế Xương không hay thì chẳng nói làm chi, chớ ổng đã hay rồi, sao ổng không bắt nàng, mà lột đồ lại; lại đứng mà cười rồi để cho nàng đi thong thả như vậy?

Thế thường thì vậy, chớ ông Trịnh Thế Xương vốn là người độ lượng khoan hồng, nay ổng tìm được con ruột của ổng rồi, dầu hao tốn bao nhiêu ổng cũng chẳng tiếc. Vả lại, tiền bạc của ổng thì ổng cất trong rương, chìa khóa ổng giữ mình không ai lấy được. Nếu Đào Phi Đáng có trốn đi mà lấy hết đồ trang sức đem theo thì bất quá lối năm bảy trăm, một ngàn, cũng chưa đến đỗi. Huống chi nàng biết thân mà lánh trước thì ổng lại khỏi phiền lòng cực dạ đuổi xua, nên hư cũng phú cho trời, ấy là bổn tánh người nhân hậu quân tử đó.)

Sáng ra bữa sau, Trịnh Thế Xương bèn dạy tôi tớ trong nhà sắm sửa cỗ bàn, rồi cho mời làng xóm tới, trước là làm tờ cớ về việc Đào Phi Đáng trốn, sau là làm lễ khánh hạ phụ tử trùng phùng cho luôn cuộc.

Lúc ấy, nào gà vịt, nào heo bò, đãi luôn ba ngày. Làng xóm bà con ai ai cũng vui lòng toại chí.

Trời vừa xế qua, quan khách còn đông, kế thấy gia đinh chạy về thưa rằng:

– Thưa ông, tôi đi mời ông Hương Chánh xóm trong, tôi thấy có một chiếc đò ở bên Châu Đốc đưa qua gần tới, ở dưới đò có một thầy thông giống in thầy thông mà tôi với ông có gặp giữa kinh hôm nọ, nên tôi lật đật chạy về cho ông hay trước.

Trịnh Thế Xương nghe nói rất mừng, bèn nói với khách rằng:

– May quá! Nếu vậy thì thầy thông dây thép bên tỉnh, là người có đại ân với con gái tôi, hôm nay ngày lễ nên thầy qua chơi, vì hôm trước thầy có hứa với tôi.

Nói rồi, ông liền kiếu khách, dắt theo vài đứa gia đinh tuốt xuống bến đò, đứng đó ngóng trông.

Đò vừa ghé bến, Trịnh Thế Xương nhìn quả là Trần Trọng Nghĩa, mừng rỡ vô cùng, liền hối gia đinh xuống vác va ly lên rồi mời luôn Trần Trọng Nghĩa lên nhà, trình diện cho mọi người đều biết. Lúc ấy Trịnh Phương Lan đang ở nơi nhà dưới, coi sóc chỉ biểu cho sắp tớ gái nấu ăn, nghe Thị Phụng chạy vào cho hay rằng có Trần Trọng Nghĩa qua, trong lòng cũng mừng thầm, bèn bước lên nhà trên, mừng rỡ hỏi chào, rồi nàng cũng trở xuống nhà dưới cứ lo việc bếp núc.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 15

Vài lời từ người biên soạn

Tôi chưa tìm được Nguyên bản in kèm theo sách thuốc Nhị Thiên Đường năm 1920. Bản đánh máy trên trang này dựa theo Bản in của Nhà xuất bản Long An, phát hành 1989. Theo Lời giới thiệu từ Nhà xuất bản thì Bản in này giữ theo Nguyên bản 1920.

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.


Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 15Hồi 15: Phụ tử trùng phùng

Khi cứu được Chăng Cà Mum rồi, Trần Trọng Nghĩa vừa tính muốn giao Thạch Quít cho làng, đặng giải hắn qua tòa mà buộc tội. Dè đâu trời cũng chiều người, bỗng thấy một chiếc ghe bầu chèo tới, trong ghe có tiếng kêu rằng:

– Ủa thầy thông! Ủa con!

Trần Trọng Nghĩa và Chăng Cà Mum giựt mình ngó lại, té ra là ông Trịnh Thế Xương. Nguyên ông Trịnh Thế Xương từ ngày Thị Quế (Chăng Cà Mum) đi rồi thì buồn bực nhớ thương nên tính qua Châu Đốc, trước thăm thầy thông dây thép là Trần Trọng Nghĩa cho giải khuây, sau là nói cho Trọng Nghĩa hay luôn thể. Ai dè việc cũng tấu xảo, nên đi đến đó mà gặp nhau, ấy cũng là lòng trời xui khiến! Trịnh Thế Xương liền hối bạn ngừng ghe lại đậu cập với chiếc ghe cui, rồi lật đật bước qua chào hỏi Trần Trọng Nghĩa. Ông day lại hỏi Chăng Cà Mum rằng:

– Con đi đâu mấy bữa rày mà làm cho cha thương nhớ buồn rầu, quên ăn, bỏ ngủ vậy con?

Nói bấy nhiêu đó rồi ông ròng khóc. Chăng Cà Mum cũng khóc chan hòa, chẳng nói được một lời chi hết.

Trần Trọng Nghĩa thấy vậy cũng động tình mà rưng rưng nước mắt, rồi mới thế cho Chăng Cà Mum mà thuật hết các việc cho Trịnh Thế Xương nghe. Trịnh Thế Xương nghe rõ đầu đuôi thì giận lắm, bèn hỏi Thạch Quít rằng:

– Đang giữa thanh thiên bạch nhựt, sao mi dám cả gan đến gạt mà chở con gái tao đi, để tao mời làng mà giải mi qua tòa cho mi ở tù cho đáng số!

Thạch Quít bèn nói:

– Tôi không gạt mà chở con ai hết thảy. Nguyên con nầy là con nuôi của cha tôi. Hồi trước, có người ở bên Tân Châu chở nó qua Xà Tôn mà bán cho cha tôi, hồi nó mới có sáu tuổi, nghe nói tên nó là con Lan, còn tên Chăng Cà Mum là tên của cha tôi đặt. Khi nó lớn rồi, cha tôi muốn cưới nó cho tôi, ai dè nó bỏ mà trốn đi đã mấy tháng rồi, nay tôi gặp được nên bắt nó về, chớ tôi có bắt con ai ở đâu mà ông nói vậy!

Trịnh Thế Xương nghe nói tên Lan thì sửng sốt, sẵn cái áo của Chăng Cà Mum vì bị vùng vẫy khi nãy mà rách một đường, Trịnh Thế Xương liền vạch ra mà coi, thì thấy rõ ràng cái bớt son đỏ lòm nơi vai bên trái. Trịnh Thế Xương lại càng sửng sốt hơn nữa, ông bèn hỏi Chăng Cà Mum lai lịch từ bé đến chừ. Chăng Cà Mum liền thuật hết từ lúc mới lên 6 tuổi là lúc lửa cháy chợ, bị chúng bắt chở mình đi bán cho đến ngày nay, đầu đuôi gốc ngọn thuật hết một hồi.

Trịnh Thế Xương nghe rõ trước sau, liền ôm con mà khóc. Trần Trọng Nghĩa cũng sững sờ, không biết trời đâu đất đâu mà vớ!

Trịnh Thế Xương bèn day lại nói với Trần Trọng Nhĩa:

– Nếu lấy theo lai lịch của tên nầy vừa nói đó, và điều con tôi nó thuật rõ lại nãy giờ đây; lại thêm dấu tích trong mình nó cũng đã rõ ràng, thì con nầy thiệt là con ruột của tôi. Tên nó là Trịnh Phương Lan chớ chẳng phải Thị Quế mà cũng không phải Chăng Cà Mum nào sốt! Nhưng có một điều nó làm cho tôi rất hồ nghi, không biết làm sao mà hiểu cho ra được, vì con Hai ở nhà hiện bây giờ đó, nó cũng xưng tên nó là Trịnh Phương Lan, bên vai trái của nó cũng có cái bớt son như con tôi đây vậy, bởi đó cho nên lúc nọ tôi mới nhìn nó là con. Song từ ngày tôi đem nó về nhà tới nay, thì tôi thấy các cử chỉ và việc cư xử của nó dường như chẳng phải của con nhà lương thiện, nên cũng hồ nghi. Đến nay tôi nhìn được con gái tôi đây, còn nó đó, thiệt tôi không hiểu làm sao mà …

Trịnh Thế Xương nói chưa dứt lời, bỗng nghe Thị Phụng cất tiếng:

– Tôi nghe nói nãy giờ đây thì cô nầy quả thiệt là cô Hai rồi, chớ như cô Hai ở nhà thì rõ ràng là cô Hai giả, chẳng còn nghi ngờ chi nữa hết!

Trịnh Thế Xương hỏi:

– Sao mà con dám chắc nó là con Hai giả?

Thị Phụng đáp:

– Số là mỗi bữa, cổ thường bắt tôi nấu nước thơm cho cổ tắm; lại bắt tôi kỳ mài cho cổ. Không hiểu làm sao mà tôi thấy cái bớt son của cổ càng ngày càng lu, cách mấy bữa rày nó đà bay mất hết, nên tôi chắc đó là cái bớt vẽ, chớ không phải là cái bớt tự nhiên; song tôi chưa kịp thưa cho ông hay. Nay sẵn dịp nầy, tôi phải nói cho ông liệu.

Trịnh Thế Xương nghe nói, gật đầu suy nghĩ một hồi rồi day lại Trần Trọng Nghĩa:

– Nếu vậy thì tôi đã lầm quân gian trá rồi. Vậy tôi xin mời thầy theo tôi thẳng về Tân Châu mà chơi một bữa, chí như tên Cao Miên nầy, tuy là nó có tội gạt người, song cha con nó cũng có công hoạn dưỡng con tôi mười mấy năm nay; huống chi nay nhờ trời mà cha con tôi đã được trùng phùng, thì cũng nên dung thứ nó một phen mà làm phước.

Trần Trọng Nghĩa nói:

– Nếu bác có lòng độ lượng khoan hồng, thì đó cũng là một điều ân đức để lại cho cháu con muôn thuở đó. Chỉ như việc bác mời cháu theo với bác, thì cháu khó mà vâng lời, vì công sự buộc ràng, không lẽ bỏ mà đi chơi cho được!

Chàng vừa nói vừa lấy đồng hồ ra coi thì đã một giờ rưỡi chiều rồi, liền vội vã đứng dậy từ tạ Trịnh Thế Xương và Trịnh Phương Lan (1) mà nói rằng:

– Vậy xin bác hãy đem cô hai về bển, vì đã gần tới giờ làm việc của tôi rồi nên tôi phải trở về Châu Đốc mới đặng. Còn chừng vài bữa nữa tới đây đã là ngày lễ, mấy thầy đã được nghỉ ba ngày, chừng đó tôi xin phép ông sếp của tôi, rồi tôi sẽ qua Tân Châu mà thăm bác.

Trịnh Thế Xương nói:

– Vậy thì xin hãy đừng quên, đến ngày ấy tôi trông thầy lắm đa!

Trần Trọng Nghĩa dạ dạ vâng lời, rồi từ giã hai cha con, thót lên ngựa chạy dông về Châu Đốc.

Trọng Nghĩa đi rồi thì Trịnh Thế Xương liền hối bạn mở trói cho Thạch Quít mà tha ngay, rồi chở con trở về Tân Châu. Đi tới làng Phú Hội Đại, Trịnh Phương Lan bèn nói với cha, xin ghé lại nhà cho bà Năm Thọ là bà già Thị Phụng hay, lại nói thằng Bưởi còn ở bên nhà thầy Trần Trọng Nghĩa, vài bữa nữa thầy qua Tân Châu, thầy sẽ đem nó về theo, trả lại cho bà.


(1) Từ đây quả thiệt là Trịnh Phương Lan rồi, chớ chẳng còn kêu Chăng Cà Mum hoặc Thị Quế nữa.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 14

Vài lời từ người biên soạn

Tôi chưa tìm được Nguyên bản in kèm theo sách thuốc Nhị Thiên Đường năm 1920. Bản đánh máy trên trang này dựa theo Bản in của Nhà xuất bản Long An, phát hành 1989. Theo Lời giới thiệu từ Nhà xuất bản thì Bản in này giữ theo Nguyên bản 1920.

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.


Nguyễn Chánh Sắt – Nghĩa hiệp kỳ duyên (Chăng Cà Mum) – Hồi 14Hồi 14: Oan gia còn bận

Nói về Thị Quế từ bữa lánh thân vô ở đậu nơi nhà mẹ Thị Phụng là bà Năm Thọ, nàng tính mượn người đem tin cho Trần Trọng Nghĩa hay, song sợ lậu nên còn dùng dằng chưa dám. May đâu bà Năm Thọ lại còn một đứa con trai là em Thị Phụng, được chừng 14, 15 tuổi, tên là thằng Bưởi. Thị Quế bèn năn nỉ với bà Năm Thọ, mượn thằng Bưởi đem thơ qua Châu Đốc, tìm đến nhà dây thép mà giao cho thầy thông Trần Trọng Nghĩa.

Đêm ấy bàn tính xong rồi, Thị Quế viết thơ sẵn sàng, chờ trời hừng sáng cho thằng Bưởi đi qua Châu Đốc.

Chẳng dè Thạch Quít từ ngày Chăng Cà Mum đào tẩu, thì hắn đi tìm kiếm khắp nơi, mướn ghe và mướn ba người bạn Annam, giả đi bán thuốc, đụng làng nào hắn cũng lội tới.

Ngày ấy hắn đi ngang qua đó, thình lình liếc thấy dạng Chăng Cà Mum, bèn làm thinh đi bán nơi khác, chờ cho trời tối, trở lại rình núp ngoài nghe rõ hết. Hắn liền trở xuống hối bạn chèo ghe vô đến nửa kinh, lựa chỗ vắng vẻ đậu đó chặn đường thằng Bưởi.

Trời vừa hừng sáng, thằng Bưởi thức dậy, chấy ba hột cơm nguội lót lòng rồi lãnh thơ ra đi, vừa tới nửa đường bị Thạch Quít đón bắt. Thằng Bưởi hoảng sợ vừa muốn la làng, Thạch Quít bèn giở cái mác vót lên sáng lòa mà dọa thằng Bưởi.

– Mầy cầm cái giấy gì đó, mầy cho tao coi một chút thì tao thả mầy đi, nếu mầy la làng thì tao chém chết!

Thằng Bưởi thất kinh phải đưa cái thơ ra cho Thạch Quít (nguyên Thạch Quít nầy lúc trước có học tại trường Xà Tôn ba năm, nên nó biết coi chữ quốc ngữ).

Thạch Quít lấy được cái thơ rồi thì mở ra mà coi.

Thơ ấy như vầy:

Phú Hội Đại, ngày … tháng … năm …

Bạn hữu rất yêu dấu ơi!

Kính thăm thầy an hảo, từ ngày tôi mang ơn thầy gởi gắm tôi cho ông Trịnh Thế Xương, thì người cũng hết lòng thương yêu tôi như con ruột, ngặt vì đứa con gái của người lòng dạ rất hiểm sâu, thế ở chẳng yên, nên tôi phải lánh thân, tìm nơi kỳ ngụ. Hiện nay tôi ở tại nhà bà Năm Thọ, gần đình làng Phú Hội Đại, nếu thầy có rảnh thì xin ráng qua đây, rồi tôi sẽ phân hết đầu đuôi cho thầy rõ. Tình dài giấy vắn, xin chớ phụ nhau.

Chăng Cà Mum

Liễm chấm bái thơ.

Thạch Quít xem thơ rồi, liền xếp lại y nguyên trả cho thằng Bưởi, lại biểu nó nói tên cho biết rồi thả nó đi liền.

Nói về Thị Quế, khi cho thằng Bưởi đi rồi thì ở nhà cứ việc trông tin. Trời vừa đúng trưa. xảy thấy một chiếc ghe ba chèo mui phên tử tế, tới đậu ngay dưới bến, kế có một người Annam ở dưới ghe bước lên đi thẳng vào nhà mà hỏi rằng:

– Nhà nầy phải nhà bà Năm Thọ hay không?

Thị Quế nghe, hỏi lại rằng:

– Chú ở đâu mà hỏi thăm nhà dì tôi, thiệt quả là nhà nầy đa, chú hỏi làm chi?

– Có cô Chăng Cà Mum ở đây phải không cô?

– Phải, Chăng Cà Mum là tôi đây.

– Ủa, nói vậy cô đây hay sao? Thầy tôi còn mắc giờ làm việc, thấy thằng Bưởi đem cái thơ của cô qua, nên thầy tôi lật đật hối tôi mướn ghe mau mau qua đây mà rước cô, chớ thầy tôi nói lúc nầy công việc nhiều quá, khó xin phép mà đi đâu cho được, vậy thì xin cô hãy sắm sửa mà đi cho mau, kẻo thầy tôi trông lắm.

– Vậy còn thằng Bưởi ở đâu?

– Dạ, thưa cô, thầy tôi thấy nó đi bộ mệt nhọc, nên biểu nó ở lợi bển chơi vài bữa, rồi thầy tôi sẽ cho nó tiền mà về.

– Vậy chớ thầy thông có gởi thơ từ chi hay không? Còn chú là người nào?

– Dạ, tôi ở giữ ngựa cho thầy tôi, khi thầy tôi được thơ cô thì mừng quá, nên hối tôi mướn ghe đi liền, không kịp viết thơ từ chi hết.

Thị Quế suy nghĩ trong lòng rằng: “Ta sai thằng Bưởi đem thơ thì không có ai hay hết, mà người nầy biết rõ công việc của ta, thì cũng đủ cho ta tin được. Vả lại ta cũng không phải giàu có chi, thì có lý nào mà ai lại mạo nhận đặng gạt ta mà giựt của?” Nghĩ như vậy rồi nàng vội vàng từ giã bà Năm Thọ, xuống ghe ra đi.

Khi ghe vừa tới nửa kinh, nhằm nơi vắng vẻ, thình lình Thạch Quít ở dưới khoang chun lên. Chăng Cà Mum xem thấy thất kinh, vùng la làng. Thạch Quít nhảy a lại, bắt Chăng Cà Mum đè xuống, lấy khăn nhét vào họng và trói lại đặng bỏ xuống khoang chở về Xà Tôn.

Chẳng dè trên bờ có một người trai tơ nhảy đại xuống ghe, đánh đá tưng bừng. Ba người bạn thất kinh nhảy xuống sông lội lên bờ kiếm đường mà trốn. Thạch Quít nổi xung, liền rút cái mác nhảy ra quyết chém người trai tơ ấy. Người ấy lẹ tay hất cái mác văng xuống sông. Thạch Quít nhảy tới đá nhầu. Người ấy cũng tràng qua rồi với nắm giò Thạch Quít giở lên. Thạch Quít thất thế té ngửa. Người ấy liền lấy dây trói lại bỏ đó, rồi mới dở khoang mở trói cho Chăng Cà Mum mà đem lên.

Chăng Cà Mum đang lúc kinh hoàng, nghe có người cứu thì mới tỉnh hồn, chừng xem lại thì té ra người trai tơ cứu mình ấy là Trần Trọng Nghĩa.

Nguyên Trần Trọng Nghĩa lúc còn đương trong giờ làm việc, thấy thằng Bưởi đem thơ qua, thì nóng nảy trong lòng, trông cho mãn giờ hầu, không kịp ăn cơm, tuốt xuống bến đò qua sông, rồi mướn ngựa chạy giông qua làng Phú Hội Đại hỏi thăm nhà bà Năm Thọ tìm vào. Khi chàng đến nơi tỏ thiệt chuyện mình thì bà Năm Thọ lấy làm lạ mà nói rằng:

– Ủa, thầy mới qua đây, vậy sao hồi nãy có một chiếc ghe đến đây, nói rằng ghe của thầy cho qua mà rước cô Ba, nên cổ theo ghe ấy mà đi nãy giờ cũng đã lâu rồi. Vậy chớ thầy đi dọc đường thầy không gặp một chiếc ghe cui nào ba chèo hay sao?

Trọng Nghĩa nói:

– Có, mà tôi không dè, việc nầy cũng đáng nghi lắm chớ phải chơi gì! Vậy tôi, xin dì để cho tôi kiếu, đặng tôi tuốt theo ghe ấy thử coi ghe ai cho biết.

Nói rồi, chàng liền thót lên ngựa cho sải riết theo. Vừa theo kịp chiếc ghe thì nghe tiếng Chăng Cà Mum la làng, chàng vội vã tuốt xuống, nên mới cứu được Chăng Cà Mum khỏi nạn.


Còn tiếp.

Related Images: