Nguyễn Chánh Sắt – Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 12 – Chung

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c-t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Tài mạng tương đố (Cuốn 2) - Phần 12 - ChungTài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 12 – Chung

Thơ như vầy:

“Hanoi, le … 19 …

Monsieur Đỗ Khắc Xương,

Ta là quan No-te ở tại Hà Nội, kính cho thầy hay rằng ông Hoàng Hữu Tâm ở tại Hà Nội, trước khi lâm chung, ông có giao cho ta một số bạc là hai chục ngàn đồng, với một tờ chúc ngôn, ông dặn ta trao lại cho thầy. Ấy vậy, hễ thầy được thơ nầy rồi thì thầy phải lập tức đến tại phòng việc của ta mà lãnh lấy số bạc với tờ chúc ngôn ấy, chớ nên trì hưỡn, ta hết lòng trông đợi tin thầy.

Bấy nhiêu lời cho thầy rõ.

Ký tên …”

Đỗ Khắc Xương đọc dứt thơ rồi, cả nhà đều chưng hửng, không hiểu bởi sao mà ông Hoàng Hữu Tâm khi gần qua đời, lại để bạc mà cho Khắc Xương nhiều như vậy, làm cho ai nấy cũng sững sờ.

Một chặp lâu bà Đoàn thị bèn nói với Đỗ Khắc Xương rằng:

– Hoặc là lúc cha con ra ở ngoài Bắc, có làm việc gì với anh Phán chăng, vậy thì con cũng phải đi ra đó đặng coi cái tờ chúc ngôn của anh Phán thể nào cho biết.

Đỗ Khắc Xương nghe nói có lý, nên phải vâng lời, liền sắm sửa hành lý rồi từ giã hai mẹ (mẹ ruột và mẹ vợ) với vợ và vợ chồng Hạo Nhiên, rồi cũng dắt thằng Hành theo cho có bạn mà đi ra Bắc.

Khi ra tới Hà Nội rồi, bèn tìm đến phòng việc quan No-te, đem cái thơ của No-te gởi cho mình hôm nọ và những giấy tờ chứng chắc rằng mình thiệt là Đỗ Khắc Xương mà trình ra cho quan No-te xem.

Quan No-te liền mời Đỗ Khắc Xương ngồi lại cho ông xem xét giấy tờ kỹ lưỡng, rồi mới đứng dậy đi mở tủ sắt, lấy bạc ra đếm đủ hai chục ngàn đồng với một tờ chúc ngôn, bảo Đỗ Khắc Xương ký tên nhận lãnh rồi giao hết cho chàng.

Đỗ Khắc Xương lãnh bạc xong xuôi rồi, liền mở tờ chúc ngôn ấy ra mà xem, thấy rõ ràng là tuồng chữ của ông Phán Tâm.

Tờ chúc ngôn ấy như vầy:

“Hà Nội, ngày … 19 …

Tôi đứng ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Tâm, Thầu khoán tại Hà Nội, làm tờ chúc ngôn nầy để lại mà cho tên Đỗ Khắc Xương là người ở làng … tổng … tỉnh Mỹ Tho (Nam kỳ) một số bạc là hai chục ngàn đồng.

Nguyên vì trong năm 19 .. tháng … ngày … cha nó là Đỗ Khắc Thới với tôi có tìm được một mỏ đồng tại Sơn La, lúc ấy anh em tôi có giao ước miệng với nhau, quyết chung sức nhau lại mà khai cái mỏ ấy, hễ ngày sau được lợi bao nhiêu thì chia nhau mà hưởng.

Chẳng dè công việc chưa kịp khởi ra mà ông Đỗ Khắc Thới rủi thọ bịnh trở về Nam kỳ rồi qua đời luôn trong ấy.

Từ ấy đến nay trót đã 5 năm, một mình tôi lo mướn dân thợ khai mỏ ấy mà thủ lợi.

Nay tôi tính sổ, khấu trừ hết các khoản chi phí và thuế vụ, thì còn lại một số tiền lời chắc chắc là bốn vạn đồng.

Xét vì ông Đỗ Khắc Thới với tôi là bạn thiết, tuy ông không có công khai, mà ông có công tìm được; tuy không có giấy tờ chi hết, song một lời giao ước với nhau như ghi vô đá, chạm vô đồng, dầu cho muôn đời ngàn kiếp cũng chẳng nên quên; chớ tưởng rằng không ai hay biết, không có bằng cớ chi mà chiếm hưởng lấy một mình, thì còn mặt mũi nào mà dám nhìn nhau nơi chín suối.

Bởi giữ lòng chơn chánh và tín nghĩa với nhau, nên tôi đành chia hai cái số bạc lời 4 vạn ấy ra, để lại cho con tôi một nửa, còn một nửa thì cho con trai ông Đỗ Khắc Thới là Đỗ Khắc Xương cho tròn cái nghĩa vụ, vân vân ….

Hoàng Hữu Tâm ký tờ.”

Đỗ Khắc Xương xem hết tờ chúc ngôn ấy rồi thì trong lòng ngùi ngùi, rất cảm cái lòng khẳng khái và tín nghĩa của ông Hoàng Hữu Tâm. Liền từ tạ quan No-te, rồi dắt thằng Hành đến nhà ông Hoàng Hữu Tâm mà thăm vợ con ông, và xin vào lạy bàn thờ, rồi ra lạy mồ mả của ông để tỏ tấm lòng hoài cảm.

Đâu đấy xong rồi, thầy trò Đỗ Khắc Xương bèn từ tạ vợ con ông Hoàng Hữu Tâm mà trở lại Nam kỳ.

Khi về đến nhà rồi Đỗ Khắc Xương bèn đọc hết tờ chúc ngôn và thuật rõ tấm lòng hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài của ông Hoàng Hữu Tâm lại cho ai nấy nghe; cả nhà đều hết lòng kính phục.

Rồi đó Đỗ Khắc Xương mới bàn tính với Hạo Nhiên, muốn dùng số bạc ấy anh em chung sức với nhau, lập một cuộc buôn bán dừa khô và lúa.

Hai anh em thương lượng với nhau xong rồi mới thưa lại cho hai bà mẹ hay. Hai bà thấy con rể có chí dinh thương như vậy thì cũng có bụng mừng.

Chẳng dè năm ấy khí trời độc địa, thiên hạ hao nhiều, cô của Đỗ Khắc Xương là Đỗ Thị Bườn xuông dịch nặng mà thác. Vợ chồng Đỗ Khắc Xương bèn thưa với mẹ đặng đến mà chịu tang. Đoàn thị thấy dâu con cư xử như vậy thì khen rằng:

– Phải đa con, vợ chồng con biết xử nghĩa như vậy thì phải lắm đa; bề nào cũng là cô ruột của con, nó có ở quấy thì để cho trời, chớ vợ chồng con là cháu, thì phải giữ cho tròn phận cháu.

Đỗ Khắc Xương bèn bảo vợ lo mua sắm lễ vật đặng đem đến mà chịu tang, bởi biết tánh tình của ông dượng rể, nên vợ chồng cũng phải mua vải đem theo mà bịt khăn, chớ để lấy vải của va mà bịt khăn thì chắc là va thót ruột.

Khi tống táng xong rồi mà trở về nhà, đi dọc đàng, Tám Chỉnh bước xớ rớ, rủi sao lại đạp nhằm con rắn; bị nó mổ trúng bàn chơn, Tám Chỉnh vùng la hoảng lên, ai nấy đều thất kinh, bèn xúm nhau lại khiêng cậu ta đem về.

Vừa về tới nhà thì đã nghe đờm kéo lên ồ ồ. Đỗ Khắc Xương liền cho người chạy đi rước ông Tư Sành là thầy thuốc rắn. Ông ấy chạy tới, coi chỗ dấu rắn cắn và lại coi cặp con mắt của Tám Chỉnh, rồi lắc đầu mà nói rằng:

– Đó là rắn hổ đất, mà lại nhằm con rắn chửa, nọc đã nhiều mà độc lắm, trễ quá rồi, cứu không kịp.

Ông Tư Sành nói chưa dứt lời mà Tám Chỉnh đã hồn qui dị lộ.

Nguyên vợ chồng Tám Chỉnh chẳng có con cái chi hết, cho nên khi nhắm mắt rồi, trong nhà chẳng có một ai; Đỗ Khắc Xương bèn thưa với làng, xin phải cho người đi báo bẩm quan Tòa hay; còn một phía thì lo mua sắm quách quan mà tẫn liệm.

Buổi chiều ngày ấy, ước lối 4 giờ, có xe ô tô của quan Lục sự và quan Trưởng tòa xuống tới, có một thầy thông ngôn đi theo. Kêu Xã trưởng, Hương thân, Hương hào đến, dạy kiểm điểm hết sản vật trong nhà mà biên từ món, lại mở tủ bạc ra (1) đếm hết mà coi, thì những gia sản vợ chồng Tám Chỉnh để lại kể biên như sau nầy:

Bạc hiện trong tủ là = 13.223 $ 70

Những giấy nợ cho vay cộng hết là = 9.255 $ 00

Bốn sở vườn đáng giá là = 3.000 $ 00

Năm dây ruộng đáng giá là = 8.000 $ 00

Bàn ghế, ván, tủ, cùng đồ tạp vật đáng giá là = 500 $ 00

Cộng hết được = 33 987 $ 70

(Than ôi! Vợ chồng Phùng Văn Chỉnh với Đỗ Thị Bườn, lúc sanh tiền con cái không ngơ, mà không lo tu nhơn tích đức, để cứ khu khu một lòng vi phú bất nhơn, cho vay đặt nợ, khắc bạc nhà nghèo, năm chí cuối cứ lo thâu liễm, đem về mà dồn dập cho đầy nhóc cái túi tham; lại không dám ăn dám mặc, cứ bo bo làm mọi mà giữ của cho thế gian.

Đến khi hết số mà phải theo quỉ vô thường rồi, thì một xu một điếu cũng chẳng đem theo được, đi lại cũng nắm hai bàn tay không; thế thì cái kiếp phù sanh nầy như bọt nước, như chiêm bao, những kẻ tham lam mà có ráng sức tranh danh đoạt lợi cho lắm đi nữa lại có ích gì!)

Khi quan Lục sự biên xong sản nghiệp của Tám Chỉnh rồi, cộng hết thảy được 33 ngàn, 9 trăm, 7 mươi 8 đồng, 7 cắc (33.878 $ 70). Có mấy ông hương lão ra đứng bẩm với quan Lục sự xin truất trong số bạc ấy ra 2 trăm đồng, để chi phí về việc chôn cất Tám Chỉnh. Quan Lục sự hứa để về bẩm với quan Tòa đã, rồi đó quan Lục sự liền niêm phong lại hết, giao cho làng canh giữ mà chờ lịnh quan Tòa.

Quan Lục sự về rồi, cách qua bữa sau có giấy quan Tòa gởi xuống cho phép làng truất ra 2 trăm đồng bạc mà tống chung Tám Chỉnh, y như lời của mấy ông hương lão đã xin, và dạy làng phải truyền rao cho những người nào mà thiệt là bà con thân thích của Phùng Văn Chỉnh với Đỗ Thị Bườn, thì phải làm khai cho làng thị nhận chắc chắn rồi đem đến Tòa mà xin thừa nhận những sản nghiệp ấy.

Lúc bấy giờ, những người ở trong làng trong xóm, ai mà chẳng biết Đỗ Khắc Xương là cháu ruột của Đỗ Thị Bườn; mà nhứt là mấy ông hương lão lại thường hay tới lui nhắc nhở Khắc Xương, bảo phải làm khai đến Tòa mà xin thừa nhận cái sự nghiệp ấy.

Theo cái thường tình thì ai cũng đều mừng cho Đỗ Khắc Xương. Duy có một mình Đỗ Khắc Xương thì lại nhứt định không thèm lãnh đồng tiến bất nghĩa.

Từ Mộ Trinh thấy vây thì khuyên chồng rằng:

– Đã biết rằng của ấy là của bất nghĩa cũng phải đó chút! Nhưng mà, nếu ta biết lợi dụng của ấy thì ta lại làm cho nó trở ra có nghĩa, chẳng tốt hơn sao! Chớ nếu mình chê mà không lãnh, rồi cũng không ai được lãnh, thì của ấy phải nhập quan; té ra cũng chẳng có ích gì cho ai hết cả. Chi bằng mình lãnh lấy đem về, rồi lựa những giấy nợ; hoặc kêu mấy người thiếu nợ đến mà cho, hoặc đốt hết đi mà làm phước. Còn những vườn đất mà cô với dượng xiết nợ của người nào thì kêu người nấy mà cho họ lại. Còn chỉ tồn lại số bạc bao nhiêu, thì ta coi những con trẻ trong làng, lựa những đứa nào mà có khiếu thông minh, thì ta giúp học phí cho chúng nó sang Tây du học. Ví bằng mà có còn dư nữa, thì ta lại chọn những hội nào mà chuyên lo công ích cho đời, thì ta đem hết mà dâng cho hội ấy chẳng tốt lắm sao? Thầy nó nghĩ mà coi, làm như vậy thì có phải là của bất nghĩa mà mình làm ra việc nghĩa hay không?

Đỗ Khắc Xương nghe lời vợ nói rất hay, rất có lý thú; bèn vỗ vai vợ mà nói rằng:

– Thiệt chị hai nó là đờn ba con gái má chí khí rất cao, có vợ mà được như vầy thì quí biết dường nào!

Bèn lấy giấy viết khai, cho đi mời làng đến thị nhận cho mình và có mấy ông hương lão cũng đứng vào làm chứng chắc chắn rằng mình là cháu ruột của Đỗ Thị Bườn, xin thừa nhận gia tài sự sản của cô mình.

Đâu đấy xong rồi, sáng ra bữa sau Đỗ Khắc Xương bèn đem lá khai ấy với một tờ tông chi tộc phái và một lá khai sanh đến trình với Tòa mà xin thừa nhận của ấy. Tòa xét rõ ràng bằng cớ rồi, liền lên án cho Đỗ Khắc Xương thừa nhận sản nghiệp của Đỗ Thị Bườn và Phùng Văn Chỉnh.

Khi Đỗ Khắc Xương được quản lãnh trọn hết gia tài sự sản của Thị Bườn rồi, bèn thưa lại cho hai bà mẹ hay, và cũng tỏ cái ý kiến của vợ mình cho vợ chồng Hạo Nhiên nghe. Hạo Nhiên với Lệ Dung nghe rõ những việc của vợ chồng Khắc Xương tính làm như vậy thì lấy làm kính phục cái cao nghĩa ấy vô cùng.

Rồi đó Đỗ Khắc Xương bèn dạy gia dịch trong nhà, vật heo vật bò làm thịt, mời hết làng xóm và mấy người thiếu nợ đến mà đãi đằng một bữa, rồi lấy hết giấy nợ đem ra mà đốt ráo. Lại cho kêu những người đã bị cô dượng mình xiết đất đoạt vườn mà trừ nợ thuở nay đó tới, rồi của ai thì cho lại nấy.

Ôi! Lúc bấy giờ, những người thiếu nợ và mấy người bị đoạt đất xiết vườn, thảy đều mừng rỡ và thâm cảm cái lòng khẳng khái của Khắc Xương; bởi đó cho nên, người niệm Phật, kẻ vái trời mà xưng tụng cái lòng hào hiệp và cái chí thanh cao của hai vợ chồng chàng Đỗ.

Còn lại bao nhiêu vườn ruộng, Đỗ Khắc Xương cũng bán hết rồi nhập với số bạc hiện còn trong tủ; đem ra, lớp giúp cho con nhà nghèo sang Tây du học, lớp thì cất nhà trường thêm, rước mấy thầy thất vận về để nuôi dạy những con trẻ mồ côi trong làng, hoặc cho hội nầy, hoặc giúp hội kia.

Lại xin phép quan mà lập một nhà hội Giảng Báo ở trong làng, gởi mua đủ hết các thứ nhựt báo quốc văn trong Nam ngoài Bắc, rồi bốn vợ chồng là Đỗ – Từ, Trần – Nghĩa, cứ luân phiên nhau, hễ mỗi ngày chúa nhựt thì mời hết dân trong làng tựu nhau tại nhà Hội, rồi lựa những bài nào có giá trị, có thể bổ ích được cho quốc dân, thì đọc hết và giảng giải rõ ràng cho ai nấy nghe.

Hễ ngày nào mà giảng giải cho đờn bà và con gái nghe, thì về phần Từ Mộ Trinh với Trần Lệ Dung; còn ngày nào mà giảng giải cho đờn ông và con trai nghe, thì về phần Đỗ Khắc Xương với Nguyễn Hạo Nhiên lãnh lấy. Nhờ vậy mà không đầy một năm, dân trong làng ấy, mười phần đã được mở mang hết tám, chín.

Đỗ Khắc Xương lại xuất bạc riêng của mình ra 4 trăm đồng mà xây hai cái nền mộ cho vợ chồng Tám Chỉnh, đó là chàng ta có ý để hườn cái số bạc của mình vay khi trước, đặng chuộc cái nhà và miếng vườn lại, rồi kêu thợ về sửa lại cho rộng rãi và sạch sẽ hơn, rước hai bà mẹ về ở đó với hai vợ chồng.

Còn cái nhà mua của Tư Hổ mà ở xưa rày đó, cũng cất lại tử tế, để cho hai vợ chồng Nguyễn Hạo Nhiên với Trần Lệ Dung ở.

Từ đó đến sau hai đàng tới lui với nhau như tình ruột thịt; sanh con đẻ cháu đầy nhà, khổ tân cam lai, đoàn viên một cửa.

Nghĩ lại mà coi, Tạo Vật thiệt khéo xây, như vợ chồng Đỗ Thị Bườn, nhà đã giàu có tiền bạc dư muôn, lại còn mong lòng tham quấy; gia tài của cháu ruột mình còn có một miếng đất với một cái nhà, mà cũng cố tình, quyết đoạt cho được mới nghe.

Đến khi nhắm mắt rồi, thì đi lại của cháu cũng giao về cho cháu; thiệt là thiên lý chiêu chương, tham lam mà hà ích?

Từ đây Hiệp phố châu hườn, vật qui cố chủ; Nguyễn, Trần, Từ, Đỗ, sum hiệp một nhà; ấy rõ ràng, hễ tích thiện chi gia, thì ắt được hưởng muôn vàn hạnh phước.


(1) Xin chư độc giả chớ lấy làm lạ rằng: Tủ sắt có khóa chữ mà sao quan Lục sự mở được? Điều ấy chẳng lạ gì, chừng quan mà muốn mở ra cho được, thì thiếu chi cách mở. Tác giả chẳng cần kể lể làm chi cho dông dài, xin miễn nghị.

——————————– Chung ——————————–

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 11

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c-t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Tài mạng tương đố (Cuốn 2) - Phần 11Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 11

Khi xuống tới nơi rồi, bà phủ bèn bảo Mộ Trinh viết một phong thơ gởi lên Cao Bằng cho quan huyện là em của bà mà tỏ những việc như vậy cho ngài hay và từ giã luôn mà trở về Nam kỳ chớ không thế nào mà ở chờ cho chị em gặp mặt được.

(Quan huyện Nguyễn Hữu Thân được thơ, hay rõ công việc như vậy thì giận thằng cháu vợ là Đào Duy Thạc vô cùng. Đến sau khi ngài mãn nhậm mà trở về Bắc Ninh, thấy Đào Duy Thạc vì bị đánh lúc nọ mà đã ra thân què trẹt có đi đâu thì phải lết mà đi; tội ác của hắn đã đền rồi, nên ngài cũng chẳng biết nói làm sao, phải bỏ qua cho hắn; ấy là việc sau).

Đây nhắc lại mẹ con bà phủ, khi gởi thơ cho em rồi thì bà lại đi vào nhà Băng lãnh hết số bạc của bà gởi ra, lo mua đồ hàng nhiễu, lược, the, để đem về Nam mà bán. Còn Nguyễn Hạo Nhiên thì lo đi hỏi thăm tin tức của Đỗ Khắc Xương; té ra nghe nói năm nọ chàng ra có vài tháng, rồi cha con dắt nhau đi tàu mà về Nam kỳ là nội lúc đó rồi; lại nhơn đi đường biển, nên không ghé được mà cho Hạo Nhiên hay. Bởi đó cho nên Hạo Nhiên không rõ âm hao, nên mới đi phóng chừng, thời may lại gặp mà cứu hai chị em khỏi nạn; ấy rõ ràng là cũng tại lòng trời, chớ không phải việc ngẫu nhiên mà được vậy.

Rồi đó Hạo Nhiên bèn thưa cùng bà phủ, xin đi đường bộ mà về trước vài ngày, đặng lo thu xếp việc nhà rồi ở tại Qui Nhơn mà chờ tàu vô tới đó, chàng sẽ tháp tùng một chuyến tàu mà về theo trong Nam kỳ, đặng có tìm kiếm bạn lành là Đỗ Khắc Xương luôn thể.

Khi Hạo Nhiên đi rồi, ba mẹ con bà phủ còn phải ở lại Hà Nội hơn trót một tuần mà chờ tàu; đồ đạc mua chác đâu đó xong xuôi, hỏi thăm ngày tàu chạy đã chắc chắn rồi mới đề huề đem đồ ra xe lửa đi xuống Hải Phòng rồi mới mướn cu li chở ngay xuống tàu.

Sáng ra bữa sau, lối 4 giờ khuya, tàu mới lấy neo, may nhờ trời êm gió thuận, tàu chạy thẳng thét hai ngày một đêm mới vào tới Cửa Hàn, tàu gieo neo đậu đó mà lấy thơ và nghỉ máy vài giờ, rồi mới lấy neo mà chạy; ước độ chừng 6, 7 giờ nữa mới tới Qui Nhơn.

Tàu tới cửa Qui Nhơn, gieo neo đậu lại rồi, Nguyễn Hạo Nhiên ở dưới ghe bầu xách đồ hành lý bước lên, lại có đem theo một tên gia nhân để phòng sai khiến. Hai đàng gặp nhau mừng rỡ, lo an trí đồ đạc vừa xong thì tàu đã lấy neo; chạy trọn một đêm ngày mới tới bến Saigon.

Bà phủ bèn hối con mướn xe chở đồ hành lý thẳng vô lối cầu Rạch Bần mà ở nhờ ít ngày nơi nhà ông Phán Hạp là người bà con của bà, rồi sau sẽ lo kiếm mướn một căn phố để ở mà buôn bán. Bà lại bảo Lệ Dung viết thơ gởi về Mỹ Tho mà hỏi thăm tin tức Đỗ Khắc Xương.

Khi an trí đồ đạc xong, Nguyễn Hạo Nhiên bèn thưa với bà, rồi mướn xe kéo đi ra chợ Saigon dạo chơi cho biết. Chẳng dè, khi nên trời cũng chìu người, xe ra tới chỗ sân rộng nơi trước Chợ Mới, vừa muốn quanh lại chợ, Hạo Nhiên vùng ngó thấy một người đương đi trên lề đường (trottoir) giống dạng Khắc Xương, liền bảo xe ngừng lại, rồi bước xuống vừa chạy theo vừa kêu.

Đỗ Khắc Xương nghe kêu, liền day mặt lại, anh em gặp nhau mừng vui chẳng xiết, bèn dắt nhau tìm vào quán rượu, kêu bồi đem rượu li-mỏ-nách (limonade) ra, hai anh em bèn ngồi lại uống cầm chừng mà chuyện vãn với nhau.

Hạo Nhiên đem hết những việc mình thương nhớ Khắc Xương nên phải ra ngoài Bắc mà tìm, may đâu lại gặp chị em Mộ Trinh mắc nạn mà cứu được, rồi theo ba mẹ con bà phủ đặng vào Nam kỳ mà tìm Khắc Xương, đầu đuôi các việc thuật hết một hồi.

Khắc Xương nghe nói cảm tạ chẳng cùng, rồi cũng đem hết những việc của mình mà thuật lại cho Hạo Nhiên nghe; lại nói hôm nay mình lên Sài Gòn đây là cũng vì đau mới mạnh, chưa làm gì được, nhà còn một mẹ già và hai đứa nhỏ, thiếu trước hụt sau, gia tài còn có nửa láng quế (1), mẹ mình thấy nhà thúc múc, bảo đem đi bán, mà bán dưới Mỹ Tho không được, nên phải đem lên Saigon mà bán, để lấy đồng tiền đem về mà đỡ ngặt trong lúc nầy, không dè bất kỳ nhi ngộ, thiệt cũng là may.

Hạo Nhiên nghe rõ trước sau, cũng hết lòng cám cảnh, rồi rủ Khắc Xương đi theo với mình vô cầu Rạch Bần mà thăm ba mẹ con bà phủ. Đỗ Khắc Xương xét mình nghèo khổ, e nỗi tình đời ấm lạnh, nên chàng chẳng muốn đi.

Hạo Nhiên bèn đem hết những việc của mẹ con bà phủ có lòng hoài vọng và nhắc nhở mà thuật lại cho Khắc Xương nghe, lại nói:

– Nếu anh chẳng đi thì té ra anh lại phụ tấm lòng trinh bạch của nàng và cái ơn châu toàn của bà phủ.

Đỗ Khắc Xương nghe  Hạo Nhiên nói lắm, nên phải gắng gượng đi theo.

Còn ba mẹ con bà phủ ở nhà, đương ngồi trò chuyện với nhau, bà tính hễ tìm được Đỗ Khắc Xương rồi thì bà sẽ cho hai cặp thành hôn một lượt. Còn đương bàn luận với nhau, bỗng thấy hai cái xe kéo chạy đến đậu ngay trước cửa. Bà chưa biết xe ai, liền đứng dậy ngó ra, chừng coi lại, té ra là Hạo Nhiên với Khắc Xương, dắt nhau về một lượt.

Thiệt là việc không ngờ, thình lình mà lại gặp, rõ ràng là cái máy nhiệm của Hóa công, dầu cho tan hiệp hiệp tan, cũng một tay người sắp đặt.

Bà phủ thấy Đỗ Khắc Xương thì mừng vui chẳng xiết, bèn bảo chàng ngồi lại cho bà hỏi thăm việc nhà của chàng từ ấy đến nay, bề ăn ở làm sao, mẹ chàng mạnh giỏi lẽ nào; Đỗ Khắc Xương bèn đem hết đầu đuôi gốc ngọn mà thuật lại một hồi; bà phủ nghe nói ngùi ngùi, còn Từ Mộ Trinh ở trong buồng nghe rõ trước sau, cũng sụt sùi lụy ngọc.

Bà phủ cũng thuật việc nhà của bà lại cho chàng nghe, chừng ấy Đỗ Khắc Xương mới hay quan phủ đà tạ thế. Bà lại kêu Mộ Trinh ra, hai đàng thấy nhau khóc lỡ khóc, cười lỡ cười; chỉ cứ nhìn nhau mà rưng rưng nước mắt.

Rồi đó bà phủ bèn bảo Khắc Xương dắt Hạo Nhiên về Mỹ Tho mà thưa trước cho mẹ chàng hay, để ba mẹ con bà ở lại Saigon ít ngày mà bán cho hết hàng, rồi bà sẽ về sau đặng tính việc hôn nhơn cho bốn trẻ.

Đỗ Khắc Xương với Hạo Nhiên vâng lời, liền từ tạ ba mẹ con bà, rồi dắt nhau về Mỹ Tho. Về đến nhà rồi Đỗ Khắc Xương bèn đem hết những việc mình gặp bạn cũ là Hạo Nhiên và ba mẹ con bà phủ tại Saigon, cùng những lời bà phủ đinh ninh dặn dò mà thưa lại cho mẹ mình hay; Hạo Nhiên cũng vào lạy mừng bà, kêu bà bằng bá mẫu (bác gái).

Đoàn thị bấy lâu tuy đã có nghe con nói lại, song chưa thấy được mặt mày, nay mới biết Hạo Nhiên, nên bà cũng mừng cho con bà may được gặp bạn hiền và vợ nghĩa.

Cách ít ngày bà phủ bán đã hết hàng, mẹ con bèn từ giã vợ chồng ông Phán Hạp rồi dắt nhau về Chợ Gạo. Đoàn thị mừng rỡ, ra đón rước vào nhà, chị em trò chuyện với nhau, nhơn nói qua tới việc lứa đôi, thì bà Đoàn thị lại càng cảm tình bà phủ.

Hai bà bàn tính với nhau xong xuôi, cậy người chọn được ngày lành, dọn dẹp nhà cửa và sắp đặt cỗ bàn, mời hết xóm giềng và họ hàng bà con thân thích đến, rồi cho 4 họ là Đỗ – Từ, Trần – Nguyễn (2) làm lễ từ đường và động phòng huê chúc.

Khi xong việc đám cưới rồi, bà phủ bèn xuất bạc ra mua cây mua ván mà sửa cái nhà lại cho rộng rãi chắc chắn đặng ở chung với nhau.

Từ đây ơn mặn tình nồng, tài tử giai nhân, song song hai cặp; mẹ con chồng vợ, sum hiệp một nhà, trên thuận dưới hòa, trong vui ngoài đẹp; hai bà mẹ (3) thì lo mướn bạn bè mà làm ruộng, Khắc Xương với Hạo Nhiên thì dạy học trò trong xóm, còn Mộ Trinh với Lệ Dung thì cứ chăm nom theo việc nữ công, mạng vớ thêu khăn, để bán lấy tiền mà đắp đổi cho qua ngày tháng.

Ngày giờ thấm thoát, mới đó mà đã ba bốn năm trời. Bữa kia Đỗ Khắc Xương đương ngồi trong nhà mà đàm luận thế tình với Nguyễn Hạo Nhiên, bỗng thấy một tên lính làng đem đến một phong thơ, đề tên họ của mình rõ ràng, nơi góc cái bao thơ có mấy hàng chữ in; coi kỹ lại thì biết là thơ của quan No-te (Notaire) ở Hà Nội gởi đến cho mình, Đỗ Khắc Xương không hiểu ý chi, bèn mở ra mà xem.


(1) Nguyên láng quế nầy là của ông Hoàng Hữu Tâm cho, lúc cha chàng đau, đã dùng hết phân nửa, còn lại phân nửa nên nay chàng mới đem đi bán đó.

(2) Đỗ Khắc Xương với Từ Mộ Trinh; Trần Lệ Dung với Nguyễn Hạo Nhiên, ấy là Đỗ – Từ, Trần – Nguyễn.

(3) Từ đây về sau, hễ nói hai bà mẹ thì tức nhiên là nói bà Đoàn thị và bà phủ (mẹ ruột và mẹ vợ), xin khán quan lưu ý.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 10

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c-t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Tài mạng tương đố (Cuốn 2) - Phần 10Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 10

Trần Lệ Dung nghe rõ lai lịch của chàng, bèn động niềm tâm sự, trong lòng lưỡng lự, bán tín bán nghi, liền đánh bạo mà hỏi người ấy rằng:

– Nãy giờ em nghe ân huynh tự xưng là người Bình Định, quí danh là Nguyễn Hạo Nhiên, lại là con của quan tiền nhậm Tri phủ Qui nhơn, vậy mà ân huynh có biết ông Trần Xuân Khôi là Huấn Đạo, cũng đồng ở một làng với ân huynh và cũng làm quan đồng thời với Lịnh tiên công hay chăng?

Hạo Nhiên nghe nàng hỏi dứt lời, vùng sa nước mắt, hồi lâu rồi mới nói rằng:

– Ông ấy là nhạc thân của tôi, từ ngày ông bị cách một lượt với tiên nghiêm tôi, rồi ông buồn lòng dắt hết gia quyến vào ở Nam kỳ, sau nghe hai ông bà đà tị thế, lịnh ái của ông mỹ danh là Trần Lệ Dung, tức là người mà ông đã định gả cho tôi, không biết lưu lạc nơi nào, âm hao vắng bặt; tứ ấy nhẫn nay tôi không biết nàng ở đâu mà tìm cho được. Nói tới đây tôi cũng ngùi ngùi mà thầm tủi cho cái phận của nàng, một thân cô khổ, đất khách quê người, nói tới chừng nào gan bào ruột thắt; chí như cô là người ở Nam kỳ, chẳng hay cô có bà con quen lớn chi sao mà biết được ông Trần huấn đạo?

Lệ Dung nghe rõ hết trước sau liền xé cái đãy đương đeo trong mình, lấy tờ di chúc của cha mình để lại, mở ra mà coi, (1), biết quả là chàng, nên nàng cũng nghẹn ngào, khóc lỡ khóc, cười lỡ cười, cứ nhìn sững Hạo Nhiên, hai hàng nước mắt rưng rưng, không nói rằng chi được hết.

Còn Từ Mộ Trinh nghe rõ đầu đuôi, biết chàng là phu tế của Lệ Dung, lại là bạn hữu của Khắc Xương, trong lòng mừng rỡ chẳng cùng, bèn nói rằng:

– Em tôi đây là Trần Lệ Dung, còn ân nhân là Nguyễn Hạo Nhiên, tình cờ mà gặp, thiệt quả lòng trời còn vâng hộ người ngay, lại thêm hai đàng chẳng những là có lời đính ước của mẹ cha, mà cũng có tiền duyên túc trái chi đây, nên mới khiến cho Đào Duy Thạc nó đồ mưu thiết kế, bắt hai chị em tôi mà đem tới chỗ nầy, cho vợ chồng đường xa muôn dặm mà được gặp nhau như vầy, thiệt rõ ràng là thiên hạnh đó.

Nói tới đó rồi lại đam hết những việc của Lệ Dung từ ngày cha mẹ nàng bất hạnh mà qua đời, vì nàng còn nhỏ, lại thêm côi cút môt mình, cho nên bao nhiêu sự nghiệp cửa nhà đều bị những bọn bất lương nó đoạt hết, lại còn bắt nàng đem đợ cho cha mẹ mình; lúc ấy nàng vẫn biết cái số kiếp của nàng phải chịu đọa đày một lúc, nên nàng cũng an lòng chịu vào ở đợ với cha mẹ mình; may nhờ cha mẹ mình thương nàng mà nhìn nhận làm con, chị em lại yêu mến nhau v.v… đầu đuôi gốc ngọn, thuật rõ một hồi, lại lấy tờ di chúc của cha nàng Lệ Dung mà trao cho Hạo Nhiên xem.

Hạo Nhiên nghe rõ trước sau, lại thấy tờ di chúc căn cứ đã rõ ràng, liền cúi lạy Mộ Trinh mà tạ lòng nhân hậu của nàng đối đãi với Lệ Dung tự bấy lâu nay. Mộ Trinh bèn day lại nói với Lệ Dung  rằng:

– Nầy em, nay may gặp được ân nhân mà chị em ta đã tai qua nạn khỏi rồi, song không biết mẹ mình đi xuống Hà Nội đã về chưa, nếu mẹ mình về tới Bắc Ninh mà không thấy chị em mình, thì chắc sao mẹ mình cũng kinh hồn hoảng vía, lo sợ lung lắm đa em à! Vậy phải tính sao bây giờ?

Lệ Dung nói:

– Vả đây mà về Bắc Ninh thì gần, còn đi xuống Hà Nội thì xa, vậy bây giờ chị em ta phải trở lại Bắc Ninh mà dọ nghe coi động tịnh thế nào, nếu mẹ mình còn ở dưới Hà nội thì chị em mình sẽ đi thẳng xuống Hà Nội mà tìm cũng chẳng muộn chi.

Hạo Nhiên cũng gặt đầu mà cho rằng phải, chị em bèn nhứt định trở lại Bắc Ninh. Mộ Trinh lại mời Hạo Nhiên về theo cho mẹ mình biết mặt, sẵn có xe ngựa của bọn Đào Duy Thạc còn bỏ lại đó, hai chị em bèn lên xe ấy, Lệ Dung cầm cương giục ngựa đánh xe đi trước, Hạo Nhiên cỡi ngựa hưỡn hưỡn the sau, bảo hộ hai chị em nàng lần đường trở lại Bắc Ninh mà tìm mẹ.

Khi về gần tới Bắc Ninh, đi dọc đàng, nghe hai bên thiên hạ cứ chỉ trỏ hai chị em mà nói với nhau rằng:

– Hai cô nầy đây, chắc là hai cô nầy.

Người khác lại nói rằng:

– Phải rồi, hai cô đó đa.

Hai chị em thấy vậy thì lấy làm lạ, bèn dừng xe lại, hỏi coi duyên cớ làm sao họ lại chỉ mình mà nghị luận với nhau như thế.

Trong đám ấy có một bà già, bước lại gần nhìn sững hai chị em rồi nói rằng:

– Số là đêm nay có quân gian ác nào đó, đem thuốc mê đến xông nơi nhà bà huyện, rồi bắt mất hai cô cháu gái của bà. Bà mẹ của hai cô ấy đi Hà Nội về, thấy chúng bắt mất cả hai cô con thì than khóc om sòm, rồi lại đi cáo quan; hiện bây giờ đây, quan còn đương tra hỏi lung tung nơi nhà bà huyện. Nghe nói ba mẹ con bà ấy là người Nam kỳ, nay mấy người nầy họ thấy hai cô đều bới tóc (2), họ biết là người Nam Kỳ mà định chừng là hai cô bị bắt đó, nên họ mới nghị luận lăng xăng như thế đấy.

Hai chị em nghe nói rõ ràng thì biết mẹ mình còn đang ở nơi nhà bà huyện; liền nói cho Hạo Nhiên hay rồi quất ngựa chạy dông về nhà bà huyện.

Nhằm lúc quan còn đang tra hỏi bàn cận hai bên, bà phủ cũng còn đang than khóc ní non ní nọt. Hai chị em liền bước xuống xe chạy đại vào nhà, miệng kêu má, má, lăng xăng, còn tay thì ôm lấy mẹ mình rồi cũng khóc òa, nước mắt tuôn ra như suối chạy.

Bà phủ đang khóc ní non, bỗng nhiên trông thấy hai con, mừng tủi dập dồn, làm cho bà lại càng sửng sốt nghẹn ngào hơn nữa. Một chặp lâu bà phủ mới định tĩnh tâm thần, bèn vuốt ve hai cô con mà hỏi thăm sau trước.

Mộ Trinh thuật sơ lại cho mẹ nghe, song vì trước mặt bà huyện, nên nàng cũng chẳng nói tới tên Đào Duy Thạc. Rồi đó nàng lại mời Nguyễn Hạo Nhiên vào mà trình diện cho mẹ mình biết và thuật việc cha mẹ hai đàng vốn đã giao hôn với nhau, lại lấy tờ di chúc của cha Lệ Dung để lại mà trao cho mẹ coi.

Bà phủ nghe rõ trước sau, lại thấy Nguyễn Hạo Nhiên hình dung tuán nhã, diện mạo khôi ngô, rồi bà nhìn lại Lệ Dung, thiệt rõ ràng là một cặp giai nhân tài tử, đôi đã xứng đôi, bà mừng vui chẳng xiết.

Lúc bấy giờ, quan còn đang tra xét, thấy hai chị em nàng lại đã được về, bèn day lại gạn hỏi hai nàng đặng cho biết tung tích đứa gian để sai người tầm nã. Trần Lệ Dung bèn đem đầu đuôi các việc, từ lúc chúng nó xông thuốc và chở đem lên trên rừng, cho đến khi hai chị em tỉnh lại, chống cự với nó, lại gặp Hạo Nhiên giải cứu, nhứt nhứt bẩm thiệt một hồi; ngặt vì lạ hết, cho nên không biết rõ mặt mày mà nhìn cho ra được.

(Số là Lệ Dung vẫn biết trong lúc hỗn chiến, nàng đã đánh trúng chỗ nhược của Đào Duy Thạc; tuy hắn không chết, song mà rồi đây hắn cũng trở ra một đứa tàn tật trọn đời, thân sống như thân chết, cũng đã đáng cái tội ác của hắn rồi. Nên chẳng cần phải khai bẩm với quan làm chi cho mích lòng mợ mình là bà huyện; mà rồi chi cho khỏi hắn bị quan bắt buộc mà hỏi tra, mình tuy là tiên cáo, song cũng phải bị đòi tới đòi lui, lẳng nhẵng nhiều ngày mà thêm bận nên nàng bỏ biệt tên hắn mà chẳng khai ra, chỉ cứ nói là quân hoang nào ở đâu, mình không biết mặt mày, đặng bỏ qua cho rồi việc.)

Quan hỏi tới Hạo Nhiên, thì chàng lại bẩm rằng chàng ở Trung kỳ mới ra, cũng chẳng biết được mặt mày những quân hoang ấy.

Khi quan lấy lời khai xong mà về rồi, thì hai chị em Mộ Trinh mới to nhỏ với mẹ mình mà tỏ thiệt những việc mợ dâu mình dung túng thằng cháu trai là Đào Duy Thạc làm những điều nhẫn tâm hại lý, nhục cho danh giáo vậy vậy … rồi khuyên bà phải lo dời đi ở chỗ khác cho mau, chớ có ở đó nữa làm chi, e sau nó còn sanh nhiều điều biến trá.

Bà phủ nghe rõ trước sau thì bà giận lắm, song bà cũng dằn lòng ẩn nhẫn, chẳng nói tiếng chi cứ lo thu xếp đồ đạc, rồi giã từ bà huyện, 4 mẹ con đề huề, dắt nhau ra xe trở xuống Hà Nội.


(1) Nguyên lúc cha nàng gần lâm chung, có để tờ di chúc lại rằng đã có hứa hôn, định gả nàng cho Nguyễn Hạo Nhiên, con quan phủ Nguyễn … ở Qui Nhơn v.v,… Mẹ nàng lại xếp tờ di chúc ấy may vào trong một cái đãy, nàng đeo luôn trong mình tự bấy lâu nay.

(2) Nguyên đờn bà con gái Nam kỳ thì bới tóc, còn đờn bà con gái Bắc kỳ thì chích khăn; cho nên hễ vừa trông thấy nội có cái đầu, thì đã biết mà phân biệt được đờn bà trong Nam hay là đờn bà ngoài Bắc.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 09

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c-t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Tài mạng tương đố (Cuốn 2) - Phần 09Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 09

Còn Đào Duy Thạc đã bị Lệ Dung đánh đá như vậy mà cũng chưa chịu tởn, về nhà suy nghĩ, tức giận căm gan; bèn nói một mình rằng: “Vả cô ta đã cho ta được phép tự do, thì là dễ quá, thật là thịt đã tới mồm rồi; có dè đâu mà cái con nhỏ quái ấy nó hung quá, nếu con chị của nó mà không cản nó, thì ắt nó đã đạp ta dẹp ruột đi rồi. Nhưng mà, không lẽ ta sợ nó mà thôi đi hay sao? Phải làm tới mới được; nhứt bất tố, nhị bất hưu. Thà không làm gì thì thôi, chớ nay đã lỡ ra rồi, nếu ta nhịn nó thì ắt chẳng khỏi bị sắp đày tớ của cô ta nó chê cười ta là thằng tướng nhát.

Thế thì ta phải làm sao cho hai chị em con nhỏ nầy đều lọt vào tay ta hết cả, thì ta mới nghe cho. Ngặt vì con nhỏ ấy nó có võ lực, chớ chẳng phải như con gái tầm thường; nếu muốn cho được lưỡng toàn, thì ta phải mướn một bọn du côn, cũng phải cho có võ lực, nửa đêm ta lén đem thuốc vào mà xông cho chị em nó ngủ cho thiệt mê, rồi ta xúm nhau trói hết cả hai chị em, bắt bỏ lên xe, chở chúng nó lên rừng, đem đến nhà của một người bạn hữu ta mà gởi đỡ; chỗ đó tư bề rừng núi vắng vẻ chẳng ai hay, rồi kiếm một người đờn bà miệng lưỡi cho cực kì lanh lợi, để khuyến dụ chúng nó; như chúng nó chịu nghe theo thì tốt, bằng chẳng nghe thì ta lại lập thế, hủy phứt con nhỏ đi mà rửa hờn; chỉ còn có một mình con chị, thì ta muốn thế nào lại không được.”

Nghĩ tới đó rồi bợm ta lấy làm đắc ý, mặt mày hớn hở, tủm tỉm cười thầm, rồi nói một mình rằng: “Tao đố bây chạy đường nào cho thoát khỏi tay tao.”

Sáng ra bữa sau, bợm ta lo đi kiếm mướn được một lũ côn đồ hơn 9, 10 đứa, dặn dò sắp đặt mưu lớp đâu đấy sẵn sàng, chờ tối lại sẽ hiệp nhau mà cử sự. Rồi đó bợm ta lại viết một phong thơ mà nói rõ hết cái kế của mình tính vậy vậy, rồi sai người tâm phúc đem qua cho cô mình là bà huyện hay, xin bà để cửa sau cho mình dễ bề thi thố.

Chẳng dè đêm ấy Mộ Trinh với Lệ Dung, nhơn thấy việc đêm hôm qua như vậy, cho nên đêm nay cũng còn lo sợ phập phồng, cứ thao thức mà nói chuyện rầm rì với nhau mãi cho đến 3, 4 giờ khuya; chừng mòm quá mới chịu ngủ quên.

Mà thường hễ đứa có tình, nó hay rình người vô ý, nên khi hai chị em vừa nhắm mắt ngủ rồi, thì Đào Duy Thạc liền lén đem thuốc mê vào mà xông; trong giây phút thì hai chị em đã bắt hơi thuốc mà ngủ mê man như chết.

Đào Duy Thạc bèn kêu lũ du côn đem dây vào, vừa muốn ra tay; thình lình, thoạt nghe có tiếng xe ô tô, ù ù ở đâu chạy tới, đậu ngay trước cửa; rồi lại nghe có tiếng gõ cửa mà kêu. Bà huyện lóng nghe thì biết rõ ràng là tiếng bà phủ đi Hà Nội về.

Cô cháu đều hoảng vía kinh hồn, song việc đã lỡ ra rồi không biết tính sao, bà huyện liền hối Đào Duy Thạc, khiến bọn du côn áp vào khiêng nhầu hai chị em nàng đi ra ngõ sau, đem bỏ đại lên xe rồi cứ việc quất ngựa chạy dông lên rừng; còn bà phủ thì để đó mặc mình tùy cơ ứng biến.

Nguyên bà phủ đi xuống Hà Nội đặng có dọ coi cho biết mấy tiệm hàng lãnh, nhiễu, the, giá cả thể nào, để chừng về Nam kỳ sẽ mua đem về mà bán, và bà cũng có ý giao thiệp với một ít tiệm hàng nơi đất Bắc cho có chỗ quen lớn, phòng sau có gởi thơ mua hàng cho dễ, khỏi phải đi ra đi vào mà tổn mất nhiều tiền cước.

Bà xuống ở Hà Nội được hai ngày, may gặp và làm quen được với một bà chủ tiệm hàng kia. Bà chủ tiệm hàng thấy bà là người tử tế, cũng có dạ yêu bà, nên cầm bà ở lại chơi vài bữa. Bà nhơn thấy bà chủ tiệm tánh tình vui vẻ, ăn nói bải buôi, ý bà cũng mến, phần thì bà muốn làm quen, nên cũng phải chìu lòng, ở nán chơi vài bữa.

Đêm ấy không hiểu tại sao mà trong lòng bà nóng nảy, lo sợ phập phồng, làm cho bà thao thức xốn xang, đi ra đi vào nằm không yên giấc; lại thêm con mắt máy lia, thịt nơi cánh tay cũng giựt lịa; bà bèn nghĩ lại bà huyện là em dâu của bà ở trên Bắc Ninh đó không phải là người từ thiện, còn hai cô con của bà thì tuổi bởi thơ ngây, bà đi hai bữa rày, không biết ở nhà có chuyện chi lành dữ thể nào mà đêm nay nó khiến cho bà bứt rứt xốn xang như vậy; vì vậy mà bà không chờ đến sáng mai mà đi xe lửa cho được, nên bà nói với bà chủ tiệm, xin cho người đi mướn giùm cho bà một cái ô tô, rồi bà vội vàng từ giã bà chủ tiệm; hối sốp-phơ chạy riết về Bắc Ninh.

Khi xe bà vừa về tới nhà bà huyện thì đã gần 4 giờ khuya, chánh là lúc bọn gian nhân vừa muốn trói hai cô con của bà; chúng nó nghe xe bà về tới và tiếng bà kêu cửa thì thất kinh, nên cứ việc khiêng nhầu đem ra bỏ đại trên xe, quất ngựa chạy càn, chớ chưa kịp trói.

Chúng nó đi rồi thì bà huyện lại trở vào phòng mình, nằm trơ như chết, giả rằng mình cũng bị thuốc xông đó mà mê.

Còn bà phủ ở ngoài cửa trước, chưa hay chưa biết chi hết, cứ việc gõ cửa kêu hoài mà không nghe ai lên tiếng, trong lòng phát nghi, bà lại càng kêu thúc tới mãi, mà cũng chẳng thấy động tịnh chi hết, bà lấy làm lạ, bèn tính đi vòng ra phía sau, đặng kêu đứa ở.

Chẳng dè bà ra đến phía sau thì thấy cửa sau không đóng, còn đứa ở thì nằm ngủ chinh chòng. Bà liền kêu giựt nó dậy mà hỏi, thì coi ý nó lơ láo như đứa mất hồn, cứ ú ớ hoài, chớ chẳng biết chi mà nói.

(Thằng nầy cũng bị thuốc mê, song nó nằm xa hơi khói nên nhẹ).

Bà dòm lên nhà trên, thấy đèn còn chong mà cửa nẻo gì cũng mở thoát, bà hoảng kinh, liền đi thẳng lên nhà trên, bước ngay vào phòng chỗ hai cô con bà ngủ đó; té ra phòng không mở hoác bóng người vắng tanh.

Chừng ấy bà lại càng thất kinh hơn nữa, liền xách đèn đi kiếm khắp trong nhà mà cũng không thấy tăm dạng gì, mà bà lại nghe có hơi khói chi bay mùi sao lạ mũi quá. Bà liền bước đại vào phòng mà kêu giựt bà huyện, ai ngờ bà huyện lại nằm ngủ cũng mê man như chết, kêu mấy thì kêu, giựt bao nhiêu thì giựt, bà cũng không ư hử gì.

Lúc nầy bà phủ lại càng bối rối hơn nữa; bà vùng sực nhớ lại mùi khói, liền đi kiếm mà coi khói ấy ở đâu, té ra khói ấy tự trong phòng của hai cô con bà mà bay ra, bà bèn vào đó mà coi, ai ngờ hễ bà bước gần đến chỗ khói ấy chừng nào thì bà nghe trong mình bà có hơi ngầy ngật, bà liền hội ý, biết đó là thuốc xông cho mê; nên bà đã tự biết rằng: Đây chắc là có quân gian nào đem thuốc đến xông mê cả nhà rồi bắt hết cả hai cô con của bà mà đem đi đâu rồi.

Nghĩ tới đó thì bà sảng sốt, bèn la khóc om sòm, truy hô lên, xóm giềng đều chạy tới, kẻ lo giải mê cho bà huyện, người lo đi cáo báo với quan; quan liền sai người, lớp thì lính, lớp thì làng, phân nhau kẻ đầu nầy người ngả kia chạy theo tìm bắt.

Đây nhắc lại việc Đào Duy Thạc với một lũ côn đồ đem hai chị em Từ Mộ Trinh và Trần Lệ Dung ra bỏ lên xe, nhơn lúc hoảng hốt, vì nghe tiếng bà phủ đã về kêu cửa, nên lật đật mà không kịp trói hai chị em nàng, cứ khiêng bỏ nhầu lên xe, rồi hối nhau quất ngựa chạy dông lên rừng.

Chạy một đỗi rất xa, mặt trời đà lố mọc, tới một chỗ đường rừng, núi non vắng vẻ, Đào Duy Thạc bèn khiến dừng xe mà nghỉ ngựa, đặng nhắm chừng đường mà tìm đến nhà người bạn hữu của mình.

Chẳng dè lúc ấy hai chị em đã lần lần tỉnh lại, phần bị mặt trời mọc lên, nắng chói ngay vào mặt, Lệ Dung giựt mình, liền mở mắt ra, ngó thấy tư bề rừng núi xanh um, không hiểu bởi sao mà mình lại phải nằm giữa rừng hoang như vậy, bên tai lại nghe có tiếng đờn ông nói chuyện rất đông; nàng bèn liếc mắt xem coi, thấy một tốp ước 8, 9 người đờn ông, mà trong bọn ấy lại có Đào Duy Thạc.

Trần Lệ Dung hội ý, vùng lồm cồm ngồi dậy, nhảy đại xuống xe. Đào Duy Thạc xem thấy giựt mình, liền hô bắt trói. Tám chín tên du đảng áp lại vây chặt Lệ Dung; lúc bấy giờ, một mình nàng ta đụt hữu xông, không nao không núng, còn nàng Mộ Trinh thì chỉ cứ kêu cứu om sòm.

Tội nghiệp cho Trần Lệ Dung, một mình nàng là gái, mà cự với 8, 9 đứa côn đồ, tuy là nàng võ nghệ tinh thông, song ít mà cự với đông, cũng khó thắng cho nổi được, phần thì bị thuốc mê, trong mình còn ngầy ngật, nên cũng khó nỗi duy trì, tay chơn bải hoải, mệt đã đuối hơi; nàng tự độ trong mình, chắc là phải lầm tay quân gian ác.

Lúc đang nguy cấp, bỗng đâu lại có một người trai tơ, ở nơi mé đường rừng, cỡi ngựa chạy tới, nhảy xuống buộc ngựa bên đường, rồi xốc vào giải vây, đánh đá tưng bừng. Lệ Dung thấy có người đến cứu, thì nàng mới vững lòng, khí lực bội gia, nên nàng cũng nổ lực tung hoành, làm cho bọn Đào Duy Thạc ngã lăn, kẻ u trán người lọi tay, cả bọn đều hoảng kinh, chẳng kể tới ngựa xe, chỉ có dắt nhau tìm đường, mạnh ai nấy chạy.

Người trai tơ ấy rượt theo một đỗi xa, rồi mới quày trở lại, đặng hỏi thăm coi hai nàng ấy con gái nhà ai, xem y phục thì biết là người ở Nam kỳ, đi đâu ra tới ngoài nầy mà lại bị lũ côn đồ nó ức hiếp như rứa.

Hai chị em Mộ Trinh bèn tạ ơn người ấy, rồi mới đem hết đầu đuôi các việc của mình ra mà thuật lại một hồi; người ấy nghe rõ trước sau, trong lòng nổi nóng, giận vì quân lang tử dã tâm, thường hay đam cái dã man thủ đoạn ấy ra mà hiếp bức gái lành, liền muốn thót lên ngựa rượt theo, quyết giết cho sạch bọn hung đồ mà răn loài bất nghĩa.

Hai chị em vẫn còn nghĩ tình cậu mợ của mình, nên kiếm lời khuyên giải cho qua; nhơn thấy người ấy là trai, tuy đã có ơn với mình, mà nơi chốn non cao rừng rậm, vắng vẻ không người, đối với hai chị em là gái đương xuân, cứ giữ một mực từ nghiêm nghĩa chánh, thiệt rõ ràng là hào kiệt trượng phu; hai chị em Mộ Trinh kính phục chẳng cùng, bèn hỏi thăm tên họ và quê quán cho biết ở đâu, để phòng sau chờ ngày đền đáp.

Người ấy bèn tỏ hết lại lịch của mình, té ra chàng là Nguyễn Hạo Nhiên, quê quán tại Qui Nhơn, từ ngày gặp được Đỗ Khắc Xương mà kết bạn với nhau, hai bên ý hiệp tâm đầu, như ngư đắc thủy; ngặt vì chàng Đỗ gấp đi ra Bắc thăm cha, cho nên anh em gặp gỡ chưa được phỉ tình, mà phải lìa nhau đã trót hai năm trời, không biết chàng đã về Nam hay còn ở Bắc, mà biệt tích vắng tăm, vì thương nhớ nhau nên mới ra Bắc mà tìm; ngày ấy đương buổi bình minh, khí trời mát mẻ, một người một ngựa rảo bước thung dung; mảng xem nước bích non xanh, bỗng nghe có tiếng người kêu cứu, liền giục ngựa buông cương, chạy riết tới đó mà cứu được hai chị em nàng, đầu đuôi thuật hết một hồi.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 08

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c-t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Tài mạng tương đố (Cuốn 2) - Phần 08Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 08

Hai chị em đà biết ý, song chẳng nói chi, để coi chú chàng muốn thả giọng gì cho biết.

Đào Duy Thạc bèn bước tới tủm tỉm miệng cười mà thả hơi ra rằng:

– Từ Nam ra Bắc đường sá xa xuôi, hai cô đi có việc gì thế?

Lệ Dung liền đáp rằng:

– Thưa thầy, chị em tôi ra đây là cũng có nhiều duyên cớ.

– Duyên cớ gì thế?

– Thưa thầy, anh rể tôi đương làm việc ở tại tòa Sứ Hà Nội, nhơn nghe tin cha tôi mất lộc, anh tôi về không được, nên cho chị tôi đây (và nói và chỉ Mộ Trinh) về trong ấy mà chịu tang. Nay mẹ con tôi ra đây, trước là đưa chị tôi ra để sum hiệp với anh tôi; sau là thăm cậu mợ tôi đây luôn thể, nhơn tiện cũng cho cậu mợ tôi hay rằng mẹ tôi đã định cho tôi và cũng đã cho người ta làm lễ Sơ vấn rồi, chờ đến kỳ mãn phục cha tôi, thì sẽ làm lễ thành hôn, nên mời cậu mợ tôi trước, chừng ấy có rảnh thì vào uống rượu chơi với mẹ tôi vậy.

– Thế ra hai cô đã có chồng rồi cả?

– Thưa phải.

– Ôi chào! Uổng lắm nhỉ!

(Mấy lời của Trần Lệ Dung nói dối với Đào Duy Thạc trên đây, là có ý muốn làm cho bợm ta thấy hai chị em đã có chồng hết rồi, mà không trêu bẹo ghẹo chọc tới nữa, chẳng dè bợm ta cũng không đếm xỉa gì, cứ đứng hỏi dần lân mãi cho đến khi bị nhục mới thôi.)

– Hai cô ở Nam kỳ ra đây, đường sá xa xuôi, tàu bè biển giã, có khi mệt lắm nhỉ?

– Thưa thầy, phàm hễ ăn no rồi mà cứ ngồi một chỗ, thế mới mệt chớ! Còn như chị em tôi mà đi tàu bè biển giã, được hớp lấy thanh khí giữa trời, càng đi xa, càng khỏe khoắn tinh thần; chớ mệt là mệt làm sao?

– Ối chào! Hai cô là gái mà nói nghe anh hùng quá!

– Thưa thầy, chị em tôi đâu dám xưng với thầy là mặt anh hùng. Nhưng mà, chị em tôi phận tuy là gái, song cũng biết cái nghĩa vụ làm người, ăn của đời, phải lo báo bổ cho đời; một mai mà nước nhà điên đảo, nếu có dịp mà dùng đến chị em tôi, thì chị em tôi cũng biết phất cờ gióng trống, cũng biết cật ngựa lưng đao, đóng nổi một vai tuồng Nương tử quân nơi giữa chốn chiến trường mà đền bồi cho Tổ quốc. Chớ không phải như ai kia, đường đường một đấng râu mày, mà năm chí cuối, chỉ cứ ăn không ngồi rồi, một ngày hai buổi, trông cho no bụng thì lại đánh áo đánh quần, chưng cái bộ mặt văn minh hình thức ra cho sáng lạng huy hoàng, để mà dạo xóm dạo làng, trai trên gái dưới, phóng đãng chơi bời, chẳng biết quốc gia xã hội là chi, ngang bể dọc trời, hiu hiu tự đắc; ấy mới gọi là đương thế anh hùng chớ!

Nghe mấy lời nghiêm trang đoan chánh của Lệ Dung nói đó thiệt là thấm thía tới đâu, làm cho bợm ta điên óc nhức đầu, bỏ ra về một nước.

Mà cũng lạ thay! Theo như người có liêm sĩ, biết tu ố mà nghe mấy lời của Lệ Dung nói đây thì ắt phải che mặt đậy mày; tưởng khi trọn cả đời, cũng còn chưa dám ngó tới cái dung nhan của nàng nữa mới phải cho.

Chớ như Đào Duy Thạc nầy thì không phải vậy, chỉ biết hổ han có một lúc là nội hồi đó mà thôi, chớ hễ về nhà rồi thì quên hết cả mọi việc, chỉ còn nhớ chăm bẩm có cái sắc đẹp của hai nàng ấy mà thôi.

Bởi vậy cho nên khi về nhà rồi bợm ta chỉ cứ bù xa bù xít, trằn trọc cả đêm, nằm không an giấc, quyết lo làm sao cho cả hai nàng đều lọt vào tay thì mới cam tâm; bèn tính để sáng ngày qua hỏi thử ý cô mình coi ra thể nào rồi sẽ liệu.

Sáng ra bữa sau bợm ta thức dậy, đánh áo đánh quần đi thẳng qua nhà bà huyện, rồi đi tuốt ra nhà sau nói nhỏ với cô mình mà tỏ bày việc ấy. Đào thị liền cười tủm tỉm mà nói nhỏ rằng:

– Cháu muốn đứa nào? Con em hay con chị?

– Hai đứa sao mà đứa nào cũng đẹp hết, cháu không biết đứa nào mà lựa, nên cháu muốn trụm cả hai, ước có được chăng?

(Đào thị cười).

– Cháu tham quá vậy sao được? Chưa được lấy Lũng mà đã mong tới đất Thục à! Điều nói thì nói vậy, chớ cô sợ mẹ nó không gả đâu; vì cô có nghe nói rằng hai đứa đều có người ta đi nói rồi hết, chớ chưa cưới, vì chúng nó còn mắc đại tang (tang cha).

– Ủa! Sao con nhỏ nó nói rằng chị nó đã có chồng rồi, đương làm việc ở nơi tòa Sứ Hà Nội kia thế mà!

– Nó nói dối cháu đó, nếu chị nó đã có chồng ở tại Hà Nội, sao hồi sáng nầy mẹ nó đi xuống Hà Nội, con chị nó không theo mẹ nó mà đi thăm chồng, lại ở đây mà làm gì thế?

– Ối chào! Thật con nhỏ nớ nó lanh quá nhỉ!

– Như cháu có muốn nó, thì cháu phải thừa dịp đêm nay mẹ nó không có ở nhà, cô cố ý đóng cửa sau sơ sịa, cháu chờ khuya một chút, để cho chị em nó ngủ hết rồi, cháu lỏn vô … thì xong việc, chớ có khó gì. Ối mà! Nầy, cháu phải coi chừng đa nghe hông! Cô coi ý cái con nhỏ nó lanh lắm đa!

Đào Duy Thạc tủm tỉm miệng cười rồi từ tạ cô mà về.

Đêm ấy vừa lối mười hai giờ khuya, Từ Mộ Trinh đương ngủ mơ màng vùng nghe như có ai đánh ai một cái choát! Rồi lại nghe một cái ịch rất mạnh, như có ai té xuống đất vậy, lại nghe một tiếng: “Ối chào! Chết tôi rồi.”

Từ Mộ Trinh không hiểu việc gì, hồn vía rụng rời, vùng lồm cồm ngồi dậy, lại nghe tiếng Lệ Dung hỏi rằng:

– Chị thức đó phải không chị hai? Mau đốt đèn lên, em đã bắt đặng kẻ trộm rồi đây.

Mộ Trinh nghe nói lại càng hãi kinh hơn nữa, tay chơn run rẩy, quẹt hơn cả chục cây quẹt mà đốt chưa được cái đèn.

Đến khi đèn đốt sáng lên rồi, coi rõ lại thì thấy Đào Duy Thạc nằm ngửa dưới đất mà rên hì hì; Trần Lệ Dung chơn còn đạp ngay trên bụng chú chàng mà nét mặt coi lườm lườm giận dữ. Mộ Trinh bèn khuyên em khuyên rằng:

– Thôi em, hãy thả hắn ra em.

Lệ Dung bèn trỏ mặt Đào Duy Thạc mà nói rằng:

– Nếu chẳng có chị tao khuyên tao, và tao không vì nể mợ huyện của tao trong nhà đây, thì tao cho mi một đá nữa cho mi bay hồn, từ rày mi phải chừa mặt tao đi, đừng có đem thói cầm thú mà đối đãi với chị em tao như vậy nữa mà chết oan uổng mạng.

Nói rồi liền lấy chơn đi. Đào Duy Thạc lồm cồm ngồi dậy tay thì ôm bụng miệng thì rên, rồi lỏn ra ngõ sau về mất. Kế lấy Đào thị trong phòng bước ra hỏi rằng:

– Hai đứa bây làm gì mà chừng nầy còn chưa ngủ, lụi hụi việc gì đó vậy?

Mộ Trinh bèn đem những việc của Đào Duy Thạc đã làm điều nhục nhã cho danh giáo như vậy mà tỏ hết cho mợ mình nghe, có ý xin mợ mình hăm he quở trách Đào Duy Thạc cho hắn biết lỗi mà chừa.

Không dè Đào thị vùng trở mặt mà nói rằng:

– Khéo lắm! Chó đâu có sủa lỗ không? Nếu hồi trưa mà chị em mầy không có trò chuyện với nó, không có mi lai nhãn khứ với nó, thì sao mà nó dám lăng loàn như thế? Bây giờ bể chuyện sao đó, rồi liệu thế không êm, nên muốn lẽo mép với tao cho khỏa lấp đi phải hông? Để chị phủ chỉ về đây, tao bảo chỉ dắt bây đi đâu thì dắt; chớ cái đồ hư như vậy tao không chứa ở trong nhà tao nữa đâu.

Mộ Trinh nghe nói nghẹn ngào, tức tối nói chi không được hết, cứ ngồi đó mà khóc ròng. Còn Lệ Dung thì thấy cái lòng người nham hiểm như vậy mà bắt cười thầm.

Đào thị mắng nhiếc hai chị em một hồi, rồi bỏ đi ngủ. Lệ Dung bèn nói nhỏ nhỏ mà khuyên Mộ Trinh rằng:

– Lòng người nham hiểm, ấy cũng do nơi cái tai ách của mình mà ra, hơi sức đâu mà rầu mà khóc a chị; miễn là trời đất biết rõ tấm lòng trinh bạch của mình thì thôi?

Mộ Trinh bèn lau nước mắt mà hỏi Lệ Dung rằng:

– Nầy em, vả thằng đó là đờn ông con trai hùng hùng cửu cửu, còn em đây phận là con gái, hình dung như liễu yếu mai hoàng, bề nào nó cũng có sức mạnh hơn em; chẳng biết em làm thế nào mà em đánh ngã nó được vậy? Huống chi lúc ấy đã khuya rồi, sao em biết nó vô đây mà phòng trước?

Lệ Dung nói:

– Lúc nhỏ, khi em tuổi mới nên mười, nhờ có người chú của em thọ truyền võ nghệ cho em, song từ ngày em vào ở với chị đến nay, em tưởng chẳng có ích gì mà cho chị biết làm chi, nên em chưa nói thiệt. Hồi trưa nầy hai cô cháu họ to nhỏ với nhau nơi nhà dưới, nói nói cười cười, không biết bàn luận những việc gì mà em vừa đi trờ tới thì em nghe mợ huyện nói gì mà có tiếng: Cửa sau …, rồi thấy em bước tới vùng nín đi; em lại thấy cái tuồng mặt thằng quỉ lồi đó, có ý hớn hở, hình như đắc chí việc gì lắm vậy. Bởi đó mà nó làm cho em phát nghi, nên em liệu chắc là cô cháu họ toa rập với nhau, bày mưu thiết kế, nửa đêm lén mở cửa sau cho thằng đó lỏn vào mà rò rẫm khuấy phá chị em mình chi đây chớ chẳng không. Bởi nghĩ vậy cho nên em không dám ngủ, tuy nằm thì nằm, song em chỉ cứ thức hoài mà phòng điều nguy biến. Mà thiệt quả như lời em liệu trước, cho nên lúc hắn lò mò đi vô gần tới, em cứ lẳng lặng làm thinh mà giả đò ngủ, để cho hắn men lại gần, xuất kỳ bất ý, đánh cho hắn một bộp tai xửng vững, em lại thừa thế mà đá ngang cho hắn một đá tréo giò, nằm ngửa sải tay, rên như bò rống.

Nói tới đó rồi hai chị em lại bụm miệng nhau mà cười sùng sục. Mộ Trinh bèn vỗ vai Lệ Dung mà nói rằng:

– Thiệt em là gái, mà tánh chất thông minh, lại thêm nhân nghĩa vẹn toàn, sắc tài gồm đủ, chị mà có em như vầy thì biết bao là hạnh phước. Nhưng mà, từ đây chị em ta cũng phải đề phòng, vì thằng đó mà nó bị em đánh nó đây, thế nào nó cũng sanh lòng cừu oán, lại thêm mụ cô của nó đây cũng chẳng phải là người hiền lương đâu em, nếu mình ở đây ắt có ngày phải mang họa lớn; thôi, để chờ má về rồi mình sẽ nói với má, phải tính lẽ nào, chớ để ở đây lâu, ắt sanh điều bất tiện.

Chị em bàn tính với nhau xong rồi mới làm thinh mà ngủ.


Còn tiếp

Related Images:

Nguyễn Chánh Sắt – Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 07

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được viết từ những năm chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ – hành văn không giống như hiện đại. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu thêm về hành trình phát triển chữ Quốc ngữ Việt Nam trong hơn trăm năm qua.

Tôi mạn phép sửa vài lỗi chính tả (dấu hỏi – ngã, chữ cuối c-t); giữ nguyên cách dùng từ – hành văn.


Nguyễn Chánh Sắt - Tài mạng tương đố (Cuốn 2) - Phần 07Tài mạng tương đố (Cuốn 2) – Phần 07

Lệ Dung thấy vậy lòng cũng ngùi ngùi, bèn thưa với mẹ và chị rằng:

– Việc nầy con tưởng cũng dễ hỏi thăm, vì con biết ảnh có một người chú bà con, làm hương hào ở trong làng ấy; khi mẹ con ta ra tới xứ Bắc, yên nơi yên chỗ rồi, thong thả ta lại viết thơ gởi về cho ông hương ấy, cậy người thăm dọ tin ảnh ở đâu; hoặc chừng nào mà mình về lỡ buôn bán tại Saigon theo như lời má tính đó, lại càng dễ tìm tin ảnh hơn nữa; vì ảnh là người Tây học, hễ thất thời thì phải đến Saigon kiếm công việc mà làm, chớ không lẽ ảnh rút ở trong vườn mà chịu nghèo cho được; như thế thì sớm muộn gì ắt mình cũng biết được tin ảnh chớ chẳng không.

Bà phủ với Mộ Trinh nghe nói cũng yên lòng, bèn lo qua việc làm tuần và mướn người xây mộ.

Cách chẳng bao lâu tuần tự vừa xong, mồ mả cũng xây rồi, mẹ con bèn làm tờ đoạn mãi cái nhà của bà cho một thầy thông kia được bảy trăm rưỡi đồng, và còn phần riêng bàn tủ, ghế đẳng, ván phên trong nhà cũng được vài trăm; duy có những đồ nội cái bàn thờ, thì bà đem gởi cho một người bà con trong họ của bà, rồi mẹ con đề huề dắt nhau xuống Saigon xin giấy thông hành và mua giấy tàu mà ra Bắc.

Đêm ấy, mẹ con nghỉ ngơi tại Saigon, sáng ra bữa sau, mới kêu xe kéo chở đồ hành lý xuống tàu; vào lối 8 giờ, tàu đã lấy neo, rồi chạy quanh qua lộn lại, chìu uốn theo khúc sông, chừng lối 2 giờ chiều thì tàu đã tới Vũng Tàu, ngừng tại đó một khắc đồng hồ cho hoa tiêu xuống, rồi thì trực chỉ ra khơi, chạy thẳng thét 3 đêm 3 ngày mới tới Hải Phòng.

Tàu đậu yên rồi, ba mẹ con bèn dắt nhau lên bờ, kêu xe chở đồ đem đến ga xe lửa, đi luôn lên Hà Nội; rồi lại mướn xe ô tô đưa thẳng đến tỉnh Bắc Ninh.

Khi đến nơi rồi đi kiếm hỏi thăm, hơn trót giờ lâu mới tìm được nhà ông huyện. Chẳng dè ông huyện đã bị đổi lên Cao Bằng, ông mới đi trước ngày mẹ con bà phủ ra tới, độ chừng mươi bữa. Nhưng may vì ông nghĩ Cao Bằng là xứ xa đất lạ, phần thì hai cậu con của ông vẫn còn nhỏ lắm, mới có năm ba tuổi mà thôi; sợ e thủy thổ chẳng hiền, nên ông để bà huyện với hai cậu nhỏ ở nhà, ông đi trước một mình lên đó coi địa thế thể nào, rồi chừng vài ba tháng ông sẽ trở về mà rước bà với hai cậu nhỏ.

Lúc ra đi ông có dặn bà huyện rằng sớm muộn gì cũng có bà phủ là chị ruột của ông với hai đứa cháu gái ở trong Nam kỳ sẽ ra thăm ông, nếu chị ông và cháu ông mà ra tới rồi, thì phải cầm ở lại mà chờ ông và phải hậu đãi chị ông cho tử tế, vì đầu đuôi ông còn có một bà chị đó mà thôi, nên ông xem bà chị của ông cũng như mẹ vậy. Bà huyện đã tỏ ý vâng lời, mà ông cũng còn đinh ninh căn dặn đôi ba lần rồi ông mới lên đường.

Nguyên bà huyện nầy tên là Đào thị, tánh tình sâu sắc, độc ác bất nhơn; trừ chồng con của bà ra rồi thì bà chẳng còn có chút lương tâm gì mà biết thương ai ở trong thế giái nầy nữa.

Đây nhắc lại việc bà phủ, đỗi đường xa xuôi, thiên san vạn hải, tìm đến mà thăm em, chẳng dè ra đến mà chẳng thấy em thì mặt mày bà buồn nghiến. Chí như hai chị em Mộ Trinh, tuy bà huyện là mợ dâu của mình, mà thuở nay kẻ Bắc người Nam, chưa biết mặt lần nào, cho nên trong lúc thấy nhau rất nên bợ ngợ.

Còn bà huyện là Đào thị, khi thấy chị chồng và cháu chồng mới ra, lại nghe tiếng chị chồng mình là bà phủ ở Nam Kỳ, thì coi ra thế bà ân cần vui vẻ lắm; mấy ngày đầu bà lo đi chợ, hối thúc trẻ ở nấu cơm, bà săn sóc từ miếng ăn miếng uống, ban đêm lại lo trải nệm giăng mùng; trong lúc thảnh thơi, chị em chuyện vãn với nhau, bà phủ mới tỏ thiệt qua việc gia đình của mình, vì nay chồng đã mất rồi, gia thế suy vi, mẹ con côi cút không ai, nên bà mới tính ra nương dựa với em cho gần gũi.

Khi Đào thị nghe rõ trước sau rồi, bề ngoài tuy là ừ hử gọi là, mà bề trong bà đã có ý chẳng vui. Từ đó đến sau, tánh ý của bà, thiệt chẳng có ai chế ai pha, mà sao càng ngày coi càng lợt.

Từ Mộ Trinh với Trần Lệ Dung dòm coi tánh ý Đào thị, tuy đã thấy rõ như gương, song sợ mẹ phiền lòng, nên chẳng dám nói chi, cứ đánh chữ làm thinh, để coi cho rõ cái nhơn tình ra sao cho biết.

Mẹ con ở đó hơn trót tháng ngoài, một hôm có một bà Phán là người giàu có lớn ở Hà Đông lên chơi, tính ở nghỉ đó một đêm. Đào thị bèn khiến đứa ở dọn đồ hành lý của ba mẹ con bà phủ đem ra để ở nơi bộ ván ngựa ngoài, rồi dọn quét cái phòng chỗ mẹ con bà phủ nằm hổm rày đó, lót nệm trải ra (drap), thay áo gối mới vào, để cho bà Phán nghỉ ngơi tại đó.

Đêm ấy hai chị em Mộ Trinh không ngủ, cứ rầm rì to nhỏ chuyện vãn với nhau, chờ cho đêm vắng canh khuya, trong nhà ai nấy ngủ rồi, Mộ Trinh mới mò lại gần, kêu mẹ dậy mà nói chuyện.

Ban đầu nàng tưởng bà đã ngủ rồi, chẳng dè khi nàng lại gần, đèn tắt tối thui, nàng mò động nhằm gò má của bà, thấy sao ướt rượt; chừng ấy nàng mới hay mẹ mình còn thức mà khóc đây chớ chưa ngủ, nàng liền rút khăn mu-soa (mouchoir) mà lau nước mắt cho mẹ, rồi lại cúi xuống hun mẹ một cái mà hỏi rằng:

– Má chưa ngủ hay sao má?

Bà phủ liền đáp rằng:

– Chưa, má buồn quá, đà ngủ được đâu con.

– Sao má buồn vậy má?

– Má thấy cái tình đời, rồi má nghĩ lại má nhớ cha con quá? Phải cha con còn, thì mẹ con mình có đâu mà phải ra thân tất tưởi như vầy.

– Hồi còn ở nhà con cũng đã có nói với má mà má không nghe, bây giờ đến việc rồi đó, má thấy không? Cửu trú linh nhơn tiện là vậy đó đa! Hồi chiều tới giờ hai chị em con thấy cái cách của mợ đối đãi với mẹ con mình như vậy nên chị em con cũng buồn, tính chờ cho trong nhà họ ngủ hết rồi sẽ bàn tính với má; đặng liệu coi, hoặc là trở về Nam kỳ, hoặc là kiếm phố khác mướn mà ở đỡ, rồi má có đi xuống Hà Nội mà kiếm coi hàng hóa thể nào, như lời má đã tính hồi ở trỏng đó, chớ ở đây nữa mà làm gì cho người ta khinh khi bạc đãi mình như vậy.

– Má cũng tính như con vậy đó, ngặt vì cậu ba con nó đi khỏi, đỗi đường ở trỏng ra đây, chị em không thấy được mặt nhau, rồi bỏ mà đi về thì cũng ức; thôi, để nín nẫm một hai ngày mà chờ cậu con coi, rồi sau sẽ liệu; vậy để sáng mai má phải đi xuống Hà Nội vài bữa.

Chẳng dè bà huyện lại có một đứa cháu trai kêu bà bằng cô, tên là Đào Duy Thạc, tuy sanh trong nhà giàu có, mà tánh tình du đảng, lại cũng là một môn với bọn đăng đồ; thường hay tới lui nơi nhà quan huyện.

Một buổi kia nhằm lúc bà phủ mắc đi xuống Hà Nội, hai chị em ở nhà đương ngồi thêu khăn và chuyện vãn với nhau, còn đương nhắc chuyện đâu đâu; thình lình vùng nghe có tiếng giày tây cộp cộp ngoài ngõ bước vào, làm cho hai chị em giựt mình, liền ngước mặt ngó ra; té ra người đó là Đào Duy Thạc, nhơn đi chơi tiện đường thừa ưa ghé đó thăm cô.

Bợm ta vừa mới bước vô, thoạt nhiên trông thấy hai nàng, tuy không trang điểm như ai; nhưng mà, mắt phụng mày ngài, dung nhan yểu điệu, mặt hoa mày liễu, da trắng như ngần.

Thiệt là: Mai cốt cách, tuyết tinh thần, một người một vẻ mười phân vẹn mười.

Nguyên Đào Duy Thạc nầy là một tay phóng đãng, mèo đàng chó điếm, tập tánh đã quen; nay tình cờ mà thấy hai cô gái đẹp, như ngọc nữ, như tiên đồng, thì bợm ta đà quắn quít trong lòng, có thế nào mà bỏ qua cho được, bèn vào thăm cô, rồi lần hồi mới hỏi thăm qua chuyện hai nàng ở đâu cho biết.

Đào thị cũng cứ trước sau tỏ thiệt, bợm ta mới biết là con quan phủ ở Nam kỳ, mà lại là cháu kêu dượng mình bằng cậu; nay may mà dượng mình không có ở nhà, thế ra cũng dễ cho mình rủ trăng quến gió. Nghĩ như vậy rồi lại chẳng chịu về, cứ lân la chà lết mãi ở đó, đặng làm quen, ban đầu còn đứng xa xa, sau mới mon men, muốn lết lại gần, cho dễ thả mồi ong bướm.


Còn tiếp

Related Images: