Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ – Hà Mậu – Phần 33 – Chung

Vài lời từ người đánh máy

Truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu gốc là thơ chữ nôm, được cụ Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng năm 1854.

Bản đánh máy bên dưới là do Phan Văn Hùm hiệu đính, nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1964 gồm 3.456 câu.

Tôi sẽ cố gắng tìm lại bản gốc chữ Nôm để đính kèm cho bạn đọc so sánh đối chiếu.


Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ - Hà Mậu - Phần 33 - ChungDương Từ – Hà Mậu: Phần 33

Tấn vương dụ xuống khắp nơi,

Cấm theo đạo Phật, đạo Trời chẳng nên.


Dụ rằng:

Đất dưới, Trời trên,

Giữa là kẻ thế, bốn bên Mọi Lào,

Xưa nay chẳng đặng hỗn hào,

Xưa ai nấy ở loại nào nấy theo.

Coi công: lưỡng quốc tương triều,

Đường đi cách trở hãy nhiều non sông.

Cớ sao mình ở nước Trung,

Lòng theo nước ngoại còn mong đạo gì.

Ông bà mồ mả bỏ đi,

Gốc mình chẳng kỉnh lại vì gốc ai?

Cửa nhà làng xóm cách ngoài,

Phận gần chẳng đoái, đoái hoài phận xa.

(Bị lược bỏ do kiểm duyệt)

Cứ theo một đạo Nho ta,

Giữ câu lễ nghĩa muôn nhà an vui.


Tấn vương dụ xuống cấm rồi,

Tần Khanh dâng sớ xin hồi Hà Đông.

Tấn vương ngự đến đền rồng,

Bạc vàng gấm vóc thưởng công Dương Hà.

Làm thơ ngự chế ban ra,

Tặng cho hai họ vinh hoa một đời.


Thơ tặng Dương Từ

Chùa sãi nào hơn gã họ Dương,

Đi tu mà biết lẽ du phương.

Gậy thiền dầu tránh nơi tiên động,

Rượu lão đâu say chỗ Phật đường.

Thế tục lắm người con mắt thịt,

Phong trần mấy kẻ tấm lòng gương.

Việc trong trời đất: nên hư thấy,

Nào để dân ngu phải lỗi đường.


Thơ tặng Hà mậu

Qua bếp nên khen gã họ Hà,

Năm đời còn biết lẽ ngay tà.

Ra đi chẳng nại đường trời đất,

Chớ lỗi câu nào việc mẹ cha.

Dối thói man di vì nỗi trẻ,

Nghĩ ơn thủy thổ cám cho già.

Một người tìm đạo muôn người thấy,

Bia để ngàn năm tiếng nước nhà.


Khiến nêu thơ ấy: hai người,

Có công giúp nước để đời xem trông. (3290)

Hai người dưng biểu đền rồng,

Đem nhau về trấn Hà Đông rỡ ràng.

Tần Khanh về kíp sai quan,

Ra Long Môn quận sửa sang cửa nhà.

Dựng nên lương đống một tòa,

Ơn vua sử dựng nêu ra cột cờ.

Tần Khanh liền luận ngày giờ,

Dương Hà hai họ viết thơ đính kỳ.

Phu nhân lòng rất yêu vì,

Sắm cho hai gái vinh qui về làng. (3300)

Trong mình đã đủ nữ trang,

Lại thêm của báu lịnh ban thiếu gì.

Cửa nhà rực rỡ ai bì,

Hai con vầy ở đợi kỳ tống hôn.

Xui nên một huyện Long Môn,

Bà con nội ngoại khen đồn tiếng xa.

Ngẫm xem trong cửa họ Hà,

Người sang khách trọng vô ra dập dìu.

Cho hay những kẻ biết điều,

Trời trao lộc tốt làm nêu ở đời. (3310)

Tới ngày tháng sáu hai mươi,

Họ Dương sắm lễ nhóm người nghinh hôn.

Nam Khương qua đến Long Môn,

Đường đi mười bữa cầu hôn xa vời.

Tần Khanh trước đã vâng lời,

Kiệu tàng rần rộ đến nơi họ Hà,

Họ Dương lễ cưới họ Hà,

Hai trai hai gái một nhà thành thân.

Sánh đôi Xuân Tuyết Dương Trân,

Thu Băng Dương Bửu cân phân vợ chồng. (3320)

Đuốc hoa chén ngọc song song,

Trường loan gối phụng động phòng thêm xuân.

Ba ngày liền mở tiệc mừng,

Khắp nơi châu huyện đều dâng liễn đầy.

Người lui kẻ tới dầy dầy,

Gia Tô, thầy sãi cũng vầy coi chơi.

Cùng nhau bàn bạc một lời,

Đã ưng bỏ đạo Phật Trời theo Nho.

Theo Nho trên hưởng phước to,

Phấn vua giồi mặt nào lo phận hèn. (3330)

Cho hay công ở sách đèn,

Trải xưa nay cũng tiếng khen còn đời.

———– Chung ————

Related Images:

 

Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ – Hà Mậu – Phần 32

Vài lời từ người đánh máy

Truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu gốc là thơ chữ nôm, được cụ Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng năm 1854.

Bản đánh máy bên dưới là do Phan Văn Hùm hiệu đính, nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1964 gồm 3.456 câu.

Tôi sẽ cố gắng tìm lại bản gốc chữ Nôm để đính kèm cho bạn đọc so sánh đối chiếu.


Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ - Hà Mậu - Phần 32Dương Từ – Hà Mậu: Phần 32

Đoạn nầy Hà Mậu ra về,

Long môn đất ấy quán quê xưa rồi.

Trạc nhìn nhà cửa hỡi ôi!

Ngói chài nóc sập vách vôi gạch nhào.

Ổ vò lưới nhện lao xao,

Trước sân cỏ lán ngoài rào ngả xiêu.

Vợ con dấu trước vắng hiu,

Bếp còn ốc đẻ thềm nhiều dế ngâm. (3200)

Họ Hà thấy vậy động tâm,

Hai hàng nước mắt ra dầm chéo khăn.

Chưa hay duyên cớ sao rằng,

Tới nhà em gái hỏi phăng sự tình.

Mới hay rằng việc bất bình,

Liễu thơ trước đã bỏ mình về quê.

Tuyết B8ng hai gái dương xuê,

Ở cùng quan Trấn bỏ nghề Gia Tô.

Mậu rằng: Hai trẻ cải đồ,

Thật trời xui khiến còn mồ mả sau. (3210)

Cám thương họ liễu thác mau,

Vợ chồng chẳng gặp theo nhau buổi nầy.

(Bị lược bỏ do kiểm duyệt)

Bà con dòng họ một phồn,

Nghe lời nói lạ tới dồn hỏi xăng.

Mậu rằng: Nói việc Hà Năng,

Cho con cháu biết kẻo rằng đạo hay.

Đốt nhiều vàng bạc thời may,

Vái ông khỏi mắc ăn mày âm cung.

Ai ai nghe cũng não nùng,

Đều lau nước mắt khôn cùng thở than. (3220)

Tiếng đồn ra khắp các làng,

Châu Kỳ tới viếng hỏi han việc đời.

Kỳ rằng: Muốn thấu đạo trời,

Mười lăm năm trọn nối hơi đến giờ.

Đã đành dấu trước bơ vơ,

Đuốc xao vì gió trăng lờ bởi mây.

(Bị lược bỏ do kiểm duyệt)

Đội ơn anh có công đi,

Phải chăng đã thấy còn nghi lẽ nào.

Ví như một tấc a giao,

Mấy nguồn nước đục lòng vào đều trong. (3230)

(Bị lược bỏ do kiểm duyệt)

Nay ta cứ gốc mà phăng,

Theo đường nhân nghĩa chí bằng đạo Nho.

Trời sanh có một đạo Nho,

Ngàn nghề muôn nghiệp đều lò ấy ra.

Cứ theo đơm quảy ông bà,

Quỉ thần chẳng giận mồ ma không hờn.

Nay đà rõ đặng nguồn cơn,

Dạy đời con cháu đội ơn thánh hiền.

Từ đây hai họ đều truyền:

Bao nhiêu tả đạo đều nguyền đốt kinh. (3240)

Phút đâu quan Trấn hay tình,

Đòi Hà Mậu tới hỏi minh mọi lời.

Tuyết Băng hai gái nhờ trời,

Cha con vầy hiệp mọi nơi vuông tròn.

Cho hay người cách nước non,

Thác thời mất dấu sống còn gặp nhau.

Tần Khanh gạn hỏi đuôi đầu,

Họ Hà thưa việc trước sau tỏ tường.

Liền sai quan huyện Nam Khương,

Dạy Trần Đoan rước họ Dương đem về. (3250)

Yến diên thết đãi phủ phê,

Cùng nhau bàn luận mọi bề phải chăng.

Việc trong trời đất mấy tầng,

Thấy đâu nói đó nào từng có quên.

Dương Từ Hà Mậu hai tên,

Tần Khanh dâng sớ tâu lên cửu trùng.

Tấn vương xem sớ lạ lùng.

Chỉ đòi nội vụ thảy cùng lai kinh.

Tần Khanh vâng chỉ lai kinh,

Cha con hai họ sửa mình đều đi. (3260)

Tấn vương ngự trước đan trì,

Cho vào ra mắt một khi xem tường.

Tả biên quì tấu họ Dương,

Anh em Trân Bửu hai chàng tân khoa.

Hữu biên quì tấu họ Hà,

Chị em Băng Tuyết nết na dịu dàng.

Tấn vương phán trước ngai vàng,

Dương Từ Hà Mậu hai chàng có công.

Chín Trời mười Đất đi thông,

Tìm ra mối đạo trong lòng mới an. (3270)

Bấy lâu chuộng thói dị đoan,

Đến nay mới biết lầm đàng đi ca.

Có lòng qui chánh cải tà,

Trời liền cho phước sanh ra con hiền.

Thêm giồi hai chữ lương duyên,

Song sanh đôi tốt phỉ nguyền giàu sang.

Việc nầy giao lại Trấn quan,

Chủ hôn hai họ cho an việc nhà.

Con hiền là báu nước nhà,

Đáng biên vào sử để ra khuyên đời. (3280)


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ – Hà Mậu – Phần 31

Vài lời từ người đánh máy

Truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu gốc là thơ chữ nôm, được cụ Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng năm 1854.

Bản đánh máy bên dưới là do Phan Văn Hùm hiệu đính, nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1964 gồm 3.456 câu.

Tôi sẽ cố gắng tìm lại bản gốc chữ Nôm để đính kèm cho bạn đọc so sánh đối chiếu.


Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ - Hà Mậu - Phần 31Dương Từ – Hà Mậu: Phần 31

Lối nầy tới cảnh người tiên,

Nơi chùa Linh Diệu ở miền Thiên Thai.

Dương Từ Hà Mậu hòa hai,

Bấy lâu ở chốn Quỳnh đài dạo chơi.

Theo tiên hầu nửa tháng trời,

Tấm lòng rửa sạch việc đời lãng xao.

Lão Nhan coi số Thiên Tào,

Đòi hai người vào nói chuyện trần duyên.

Rằng: Hai họ có căn duyên,

Trời đà trước định kết nguyền thân gia. (3110)

Rày nên sum hiệp một nhà,

Con trai con gái thảy đà thành thân.

Họ Hà nghe nói hỏi phăng,

Rằng: Tôi đi khỏi mới gần nửa trăng.

Troang nhà hai gái còn măng,

Tuổi trời chưa mấy sao rằng thành thân?

Đáp rằng: Trên dưới có phần,

Non tiên một bữa cõi trần một năm.

Toán theo giáp tý thời lầm,

Tuyết Băng nay đã mười lăm tuổi rồi. (3120)

Đạo trời đã biết thời thôi,

Hai ngươi khá kíp phản hồi cố hương.

Lão Nhan làm phép thâu đường,

Chi hai hoàn thuốc cứu chàng Dương Trân.

Hai ngươi về cõi hồng trần,

Sang giàu chung hưởng nhờ phần lộc con.

Lộc con là lộc trời còn,

Nhân luân hai chữ vuông tròn mới an.

Hai người từ biệt Lão Nhan,

Ra nơi Vân động theo đàng ngày xưa. (3130)

Trí Niên họ Lý theo đưa,

Dùng dằng cửa động còn chưa chỉ đường.

Rót ra hai chén quỳnh tương,

Rằng: Xin gượng uống về đường cho an.

Từ đây xuống chốn dương gian,

Non tiên xa cách khôn đàng trở lên.

Gặp nhau biết lấy chi đền,

Chút duyên bèo nước nào quên tình nầy.

Ngàn năm bóng gió ở đây,

Riêng than chim nhạn rẽ bầy kêu xa. (3140)

Vội vàng nào kịp hái hoa,

Dương quan cành liễu gọi là đưa nhau.

Của đưa nào báu chi đâu,

Sao bằng mùi đạo tám câu năm vần.

Ta xin bắt chước cổ nhân,

Gọi thơ đưa bạn dương trần ngày nay.


Thơ đưa Hà Mậu

Long môn chốn cũ lại bôn ba,

Non nước bâng khuâng cám họ Hà.

Nước Thánh năm đời lòa mắt tục,

Rượu Tiên một thuở rửa lòng ta.

Đào nguyên khó hẹn tin bèo nhóm,

Vận động riêng buồn tiếng hạc xa.

Khôn dại sự đời ngươi đã thấy,

Nên mình rồi phải giúp người ta.


Thơ đưa Dương Từ

Thiên Thai xa cách cõi Nam Khương,

Hoa ngùi ngùi cám họ Dương,

Chùa Phật khôn cầm cây lão mại,

Động Tiên xin chuốc chén quỳnh tương.

Chút tình bóng gió riêng cưu bạn,

Mấy dặm non sông vội tách đường.

Đói lạnh dấu xưa ai cũng biết,

Ngươi về nhà nước hiếm người thương.


Dương Từ Hà Mậu nghe thơ,

Than rằng: Nào biết bao giờ gặp nhau!

Cuộc đời là cuộc bể dâu,

Nước về doành thẳm khôn cầu nguồn xưa. (3150)

Nói thôi nước mắt như mưa,

Trí Niên chỉ nẻo quê cưa đành rành.

Thâu đàng nhờ có phép linh,

Một ngày một ngọ hồi trình chẳng xa.

Dương Từ về đến quê nhà,

Đoái nhìn cảnh vật thấy ra lạ lùng.

Ngẩn ngơ đứng trước bình phong,

Mình nghi chưa dám vào trong công đường.

May đâu lại có Đỗ nương,

Dạo chơi ra cửa nhìn tường phu quân. (3160)

Hai hàng nước mắt rưng rưng,

Nửa thương việc trước nửa mừng ngày nay.

Dương Từ lấy thuốc tiên hay,

Cho Dương Trân uống kịp ngày lành mau.

Cha con chồng vợ gặp nhau,

Hỏi phô chuyện vãn trước sau tỏ tình.

Gần xa đều tới thăm mình,

Coi đi tu đã nên hình Phật chi?

Mười lăm năm bỏ nhà đi,

Nợ oan gia lại khéo ghì vào đây. (3170)

Nàng rằng: Từ ấy những nay,

Nghĩ trong phận thiếp liền ngày lụy tuôn.

Xiết bao gió chớp mưa luồn,

Chất sầu làm gối nấu buồn làm cơm.

May nhờ hai trẻ danh thơm,

So bề nhà cửa đặng nờm nở ra.

Phải con chơi vụt theo cha,

Ôi thôi! Thân mẹ cũng ra ăn mày.

Cho hay một trả một vay,

Am mây đã trốn còn đày đi xa. (3180)

Đói thời phổ khuyến người ta,

Tương chua cơm hẩm gọi là ăn chay.

Coi chim quành quạch thời hay,

Theo cây trái chín ăn chay đời đời.

Bay đâu cho khỏi dưới trời,

Tiếng kêu quành quạch già đời ra chi?

Chỉn rằng vận có thạnh suy,

Người đời sao khỏi hiệp ly lẽ thường.

Bằng nay sum hiệp nhất đường,

Hai con dâng lễ thọ trường cho vui. (3190)

Họ Dương họ Đỗ đều vui,

Trong nhà quan khách tới lui bộn bề.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ – Hà Mậu – Phần 30

Vài lời từ người đánh máy

Truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu gốc là thơ chữ nôm, được cụ Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng năm 1854.

Bản đánh máy bên dưới là do Phan Văn Hùm hiệu đính, nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1964 gồm 3.456 câu.

Tôi sẽ cố gắng tìm lại bản gốc chữ Nôm để đính kèm cho bạn đọc so sánh đối chiếu.


Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ - Hà Mậu - Phần 30Dương Từ – Hà Mậu: Phần 30

Trần Đoan bạn với hai người,

Ở nơi hoa viện đã mươi ngày rồi. (3000)

Thưa cùng quan Trấn kíp hồi,

Tần công bèn dụng lễ bồi đưa ra.

Ban cho năm vóc vân sa,

Sâm nhung thanh quế để già dưỡng thân.

Lại cho vàng bạc hai cân.

Của đưa chàng rể sắm phần ra đi.

Nười ngày về tới châu Khê,

Người làng đón rước bộn bề lễ nghi.

Tiếng hay đâu cũng yêu vì,

Hai thầy cử nhỏ đậu thi trở về. (3010)

Ai dè chăn ngỗng chăn dê,

Vận trời ngó lại ra bề người sang.

Bà con họ nội xa đàng,

Võng dù xin rước về làng thuở xưa.

Đỗ nương Đỗ Khoái đãi đưa,

Tiệc bồi năm bữa mới vừa rảnh rang.

Dương Trân Dương Bửu hai chàng,

Thưa cùng cậu mẹ hiệp bàn việc hôn.

Nàng rằng: Nhờ của công môn,

Ban cho vật quí mình khôn chối từ. (3020)

Chưa hay hai gái hoa tươi,

Đứng trong đào liễu đua cười mấy xuân?

Hai chàng đem việc họ Tần?

Đờn nơi hoa viện đều phân tỏ tường.

Nàng rằng: Nhờ phước tổ đường,

Cho con gặp thuở khoa trường nên danh.

Nhờ trời phước đặng chữ vinh,

Sau rồi sẽ liệu gia đình mới xong.

Hai con vào chốn thơ phòng,

Ôn nhuần kinh sử lo vòng thi xuân. (3030)

Lần hồi ngày tháng tới gần,

Đem nhau cất gánh trông chừng Tràng An.

Hai chàng đi tới Tấn bang,

Vào trường thi hội bảng vàng đỗ cao.

Trước đền đặng đứng đầu ngao,

Dương Trân Bảng nhãn Bửu vào Thám hoa.

Tuy không dàng Trạng nnguyên khoa,

Cung thiềm tháp nhạn cũng là á khôi.

Hốt hoa bào gấm ban rồi,

Quỳnh Lâm mở tiệc chúa tôi phỉ lòng. (3040)

Tờ truyền tới trấn Hà Đông,

Tần Khanh văn tín vợ chồng đều vui.

Truyền quân lập tức trống hồi,

Tới Nam Khương huyện dọn ngôi công đàng.

Cứ theo Trà Thạch các làng,

Cất làm nhà cửa nghiêm trang một tòa.

Giấy nêu rường cột nguy nga,

Nam Khương một huyện ít nhà dám đang.

Dọn rồi án kỷ rỡ ràng,

Xảy vừa tới lúc hai chàng vinh qui. (3050)

Bảng vàng tán đỏ đều đi,

Ngựa xe võng giá oai nghi chói lòa.

Lại thêm áo mão giồi ra,

Lịnh ban gấm nhiễu ngọc ngà thiếu chi.

Khắp nơi châu huyện đều vì,

Thổi kèn gióng trống ra đi rước mừng.

Cho hay đỏ tía sắc xuân,

Để dành trong sách giồi thân học trò.

Thật nhờ họ Đỗ ơn to,

Lúc nầy mới đặng trời cho sang giàu. (3060)

Châu Khê đùm đậu bấy lâu,

Đền ơn nhờ cậu trước sau phỉ tình.

Hạc lầu là chỗ dương danh,

Anh em trả nghĩa sư sanh cũng tròn.

Nay đà đẹp mặt mẹ con,

Ở nơi Trà Thạch ăn ngon mặc lành.

Nhờ vua hai chữ hiển vinh,

Một môn dòng họ linh đình tới lui.

Anh em Trân Bửu chẳng vui,

Nhớ cha đi mất ngùi ngùi thở than. (3070)

Dọn ra trước chốn công đàng,

Đặt làm hương án một bàn vọng lên.

Họ tên bài vị rõ biên,

Ăn chay nằm đất chúc nguyền vong linh.

Theo nho dùng lễ tam sinh,

Đọc bài văn tế phỉ tình cha con.


Văn tế rằng

Hỡi ôi!

1- Trăng xế bóng xuân;

Mây giăng lầu Hạc.

2- Thấy chữ “mặc liên” thơ cũ, chi xiết não nùng;

Nghĩ câu “phong mộc” người xưa, càng thêm bát ngát.

Nhớ linh xưa:

3- Kinh sử đều thông;

Vận thời chẳng đạt.

4- Công danh hai chữ, mơ màng bên gối hoàng lương;

Sự nghiệp một câu, lấp lửng trong gương bạch phát.

5- Khắp chùa miễu cây hương cầu nòi giống, nghĩa cha con, nghĩa đã đặng tròn;

Trùm non sông lời nói để ghi lòng, tình chồng vợ tình đâu ở bạc!

6- Thừa ưa cắp một gậy thiền;

Bỗng chốc bẻ hai gương nhạc.

7- Xiết bao đường sá xa xôi;

Thêm nỗi cửa nhà man mác!

8- Đau đớn thay! Một cụm tàn huyên;

Ủ ê bấy! Hai cành hoa ngạc.

9- Ngoài bảy chục xuân thu, còn thêm nữa vó câu qua cửa, khôn rõ xa gần;

Trong ba ngàn thế giới, biết bao nhiêu dấu thỏ lên đèo, khó lường nơi sống thác.

10- Tu gặp chùa nghèo;

Chơi lầm cảnh khác.

11- Sớm hôm chuông mõ, xưa am mây đã trót nhọc nhằn;

Ngày tháng tương dưa, nay rừng bụi ai cùng mặn lạt?

12- Làng Trà Thạch đá buông lời nói khống, biết đâu  tìm dấu Như Lai;

Đất châu Khê, hoa chảy nước mắt dầm, khó nỗi hỏi tin Bồ Tát.

13- Phải gặp thuở qua miền Đông Độ, rước cha trở lại, trong nhà cũng có Thích Già;

Nào biết ai tới cõi Tây phương, xin cha lộn về, ở nước há không Di Lặc?

14- Hộ là cậy, mất cha nào cậy, muốn hỏi han mà cửa Phật vắng hiu;

Ai là thương, thấy mẹ thêm thương, luống trông nhớ, mà tuổi trời nặng vác.

Hỡi ôi!

15- Sang giàu một giấc, mây nổi hoa tàn;

Sự nghiệp trăm năm, nước xao bèo dạt!

16- Đã biết cha nghề nào, con nghề nấy mới phải nhân tình;

Há ngờ cha đường nọ, con đường nầy cũng vì thiên các …

17- Vái Phật mở câu giới cấm, hưởng cô nhi mấy tiệc cỗ bàn;

Nhờ vua đặng chữ vinh qui, xin hiển khảo dùng thoi vàng bạc.


Đọc rồi văn tế linh cha,

Một môn già trẻ đều hòa khóc than.

Vô ra dù võng nhộn nhàng,

Đãi đằng trên dưới cỗ bàn no say. (3080)

Tiệc mừng vừa đủ mười ngày,

Tần Khanh sai kẻ lễ bày đính duyên.

Mừng cho hai rể đặng tiên,

Ngàn năm tiếng rạng danh biên thẻ ngà.

Hai chàng bảng nhãn thám hoa,

Khiến người lên tạ nhạc gia ơn rồi.

Lương duyên hai chữ thêm giồi,

Trần Đoan vừa tới lo bồi nghinh hôn.

Đỗ nương vâng lịnh công môn,

Chờ ngày giờ tốt nghinh hôn đem về. (3090)

Sửa sang sáu lễ nên xuê,

Họ hàng mới nhóm toan bề phụng chiêm.

Hay đâu trăng tỏ mây êm,

Hằng Nga núp bóng cung Thiềm bạc sao!

Hỏi đôi chén ngọc chờ trao,

Dương Trân nhuốm bịnh liền đau thương hàn.

Trong nhà lo việc thuốc thang,

Rước thầy hay trị ngày càng ốm hư.

Tần Khanh có dạ ưu tư,

Ra tờ khắp chốn cầu sư tới liền. (3100)


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ – Hà Mậu – Phần 29

Vài lời từ người đánh máy

Truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu gốc là thơ chữ nôm, được cụ Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng năm 1854.

Bản đánh máy bên dưới là do Phan Văn Hùm hiệu đính, nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1964 gồm 3.456 câu.

Tôi sẽ cố gắng tìm lại bản gốc chữ Nôm để đính kèm cho bạn đọc so sánh đối chiếu.


Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ - Hà Mậu - Phần 29Dương Từ – Hà Mậu: Phần 29

Tuyết Băng hai gái riêng sầu,

Ngồi nơi hoa viện lo âu việc mình.

Tuyết Băng cám chữ minh linh,

Vò vò nuôi nhện công trình biết bao.

Riêng than chút phận má đào,

Gặp xuân chưa biết ngày nào đền ân.

Băng rằng: Nghe việc hòa thân,

Gẫm trong mình lại muôn phần xót xa.

Có cha mẹ mới có ta,

Có ta mới có cửa nhà giàu sang. (2940)

Mẹ kia đã xuống suối vàng,

Cha xưa non nước khôn toan mất còn.

Hai bên nội ngoại bà con,

Đều người về đạo lại lòn cửa quan.

Từ ta nương dựa cửa sang,

Nào ai lui tới hỏi han thăm tình.

Dầu không gặp nghĩa minh linh,

Cội cây nguồn nước ở mình còn chi.

Mai sau đặng chữ vu qui,

Đã đành phận gái phải đi theo chồng. (2950)

Trăm năm sống thác nhờ chồng,

Một môn dòng họ đều không nhìn rồi.

May còn chút tiếng con nuôi,

Ví như trà dở ướp mùi bông hoa.

Nay nghe hai gã tân khoa,

Cha đi tu mất mẹ già khó khăn.

Vốn không nhà cửa nghiệp hằng,

Nhờ theo họ ngoại ở ăn học hành.

Tiếc rằng trời đất thình lình,

Khéo xe duyên phận cho mình quá ngang! (2960)

Cha xưa về đạo Hòa Lan,

Chẳng ưa đạo Phật không màng đạo Nho.

Cha nuôi nay chuộng đạo nho,

Gả chồng cũng lựa học trò bực cao.

Cho hay duyên nợ buổi nào,

Con Trời con Phật đều vào theo Nhu.

Tuyết rằng: Ta học đạo Nhu,

Đến nay mới biết công phu thánh hiền.

Sửa sang ba mối năm giềng,

Dạy người thiên hạ vẹn tuyền tánh xưa. (2970)

Đặt làm sáu bản đờn xưa,

Có thi vận để tiếng đưa tơ đồng.

Ta nay rảnh việc nữ công,

Hòa đờn một tiệc giải lòng buồn ngâm.

Chị đờn sắt em đờn cầm,

Tay đờn miệng đọc thâm trầm nghe hay.


Xuân Tuyết đàn ngâm

Trời che đất chở đức cao dày,

Cha mẹ sanh con khó sánh tày.

Vậy có người hiền lo báo bổ,

Hai mươi bốn thảo dấu còn nay.


Thu Băng đàn ngâm

Cha phải cha con phải đạo con,

Rằng lành rằng thảo riếng hay còn.

Cây kiều cây tử đời thường ví,

Chẳng trái lòng nhau mới đặng tròn.


Xuân Tuyết đàn ngâm

Vua phải vua tôi phải đạo tôi,

Sửa sang giềng mối mới lên ngôi.

Minh lương hai chữ vầy trên dưới,

Nước trị nhà an bốn biển vui.


Thu Băng đàn ngâm

Vợ phải vợ chồng phải đạo chồng,

Vợ chồng là đạo đất trời thông.

Khó nghèo đều chịu giàu đều hưởng,

Kết tóc trăm năm trọn một lòng.


Xuân Tuyết đàn ngâm

Anh phải anh em phải đạo em,

Huân trì hai ống thổi nghe êm.

Sanh đồng một cội là xương thịt,

Sống thác nương nhau ở dịu niêm.


Thu Băng đàn ngâm

Làm người bậu bạn muốn nên danh,

Lời thẳng khuyên nhau ở lấy lành.

Giao mặt xưa rằng vàng ngọc báu,

Giúp lòng nhân nghĩa lại thêm xanh.


Anh em Trân Bửu ngồi buồn,

Lén qua hoa viện đi luồn xem chơi.

Anh em vừa bước tới nơi,

Phút nghe trong viện có lời đờn ngân. (2980)

Mấy dây cầm sắt hòa thâm,

Đơn ngân tiệp với thơ ngâm ai hoài.

Hai chàng dừng bước vách ngoài,

Rõ ràng nghe đặng sáu bài thơ xưa.

Trời thu đương lúc nắng trưa,

Chị em ngồi nực vừa ưa buông đờn.

Hai chàng ngoài vách mau chơn,

Bước vào trong viện coi đờn những ai.

Hay đâu hiệp mặt gái trai,

Mày qua mắt lại hòa hai ngỡ ngàng. (2990)

Tuyết Băng mắc cỡ vội vàng,

Cúi đầu che mặt hậu đàng trở vô.

Hai con thể nữ hầu cô,

Cất đờn bưng hộp nói phô đều cười.

Bửu Trân thấy cũng nực cười,

Bước vô trong viện kiếm lời hỏi qua.

Cho hay con tạo khéo ngoa,

Dạo tầm hoa lại bỗng ra thấy người.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ – Hà Mậu – Phần 28

Vài lời từ người đánh máy

Truyện thơ Dương Từ – Hà Mậu gốc là thơ chữ nôm, được cụ Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng năm 1854.

Bản đánh máy bên dưới là do Phan Văn Hùm hiệu đính, nhà xuất bản Tân Việt phát hành năm 1964 gồm 3.456 câu.

Tôi sẽ cố gắng tìm lại bản gốc chữ Nôm để đính kèm cho bạn đọc so sánh đối chiếu.


Nguyễn Đình Chiểu: Dương Từ - Hà Mậu - Phần 28Dương Từ – Hà Mậu: Phần 28

May đâu có huyện Nam Khương,

Tên Trần Đoan tới dâng chương mừng hầu.

Mừng cho chín huyện bảy châu,

Ở an lạc nghiệp đọc câu thăng bình.

Tần Khanh ngồi chốn hậu dinh,

Đòi vào ban hỏi sự tình họ Dương. (2830)

Trần Đoan thưa chuyện họ Dương.

Mẹ con nhà cửa tỏ tường đầu đuôi.

Tần Khanh nghe rất mừng vui,

Cười rằng: Máy tạo khéo xui hiệp hòa.

Họ Dương sánh với họ Hà,

Song sanh điềm ấy đôi đà xứng hai.

Nấy cho quan huyện làm mai,

Xe dây Nguyệt Lão đặng hài lương duyên.

Trần Đoan vâng lịnh về liền,

Trở về tống bảng tờ truyền theo sau. (2840)

Rằng: Nay yên giặc Tây châu,

Tấn vương bệ ngọc mở chầu ân khoa.

Huyện quan viết bảng treo ra,

Rao cho sĩ tử gần xa đặng tường.

Anh em Trân Bửu hai chàng,

Đem nhau tới chốn huyện đàng ứng thi.

Anh em cùng đậu nhất thì,

Trở về sắm sửa cùng đi tựu trường.

Trần Đoan ngồi chốn hậu đường,

Đòi lại hai chàng nói chuyện cầu hôn. (2850)

Dạy về thưa với gia tôn,

Đều dùng sáu lễ nghinh hôn một lần.

Trước lo kết nghĩa châu trần,

Sau là một nỗi lập thân khoa nầy.

Hai chàng ngẫm nghĩ một giây,

Thưa rằng: Công học bấy chầy ra chi!

Ân vua đã mở khoa thi,

Để cho thử sức một kỳ sẽ hay.

May mà cánh nhạn cao bay,

Trấn quan khỏi tiếng bằng nay tư tình. (2860)

Chẳng may bảng hổ vô danh,

Huyện quan cũng khỏi nho sanh chê cười.

Trần Đoan nghe thấm mấy lời,

Dạy về lo liệu tới nơi khoa trường.

Hai chàng về lạy gia nương,

Cùng nhau bàn luận mọi đường gần xa.

Nàng rằng: Chút phận không nhà,

Mặc con toan liệu mẹ già cũng ưng.

Chớ lo dây đỏ vấn chưn,

Lo công nghiệp buổi thanh xuân cho tròn. (2870)

Sau dầu danh tạc bia son,

Trời dành trong sách có con gái hiền.

Hai chàng thâm ta nhà huyên,

Mang đồ tứ bửu lên miền Hà Đông.

Mười ngày lên tới Hà Đông,

Tìm nơi lánh ở mình không dạo đường.

Cùng nhau vô đủ ba trường,

Còn chờ treo bảng chưa tường đỗ không.

Trần Đoan lãnh việc mai dong,

Phải đi lên trấn theo cùng họ Dương. (2880)

Mắc đi chuyển vẫn dọc đường,

Tới nơi nghe chúng vào trường mới xong.

Hỏi tìm khắp hết tây đông,

Anh em Trân Bửu đều không gặp rồi.

Bảy ngày kiếm ngược kiếm xuôi,

Tới lui hai lẽ thẳng dùi khôn toan.

Muốn về ra mắt Trấn quan,

Sợ e người hỏi hai chàng huyện ta.

May vừa cửa bảng xướng ra:

Dương Trân tên họ thủ khoa chánh vì. (2890)

Cử nhân Dương Bửu thứ nhì,

Ba ngàn sĩ tử một khi khen giồi.

Yến diên áo mão ban rồi,

Trần Đoan đóng cửa rước lui hai chàng.

Đem ngay vào chốn công đàng,

Lễ dâng bốn lạy rỡ ràng nam nhi.

Trần Đoan bèn lấy quyển thi,

Dâng lên trước án một khi khen liền.

Dạy rằng: Hai gã thiếu niên,

Chữ danh đã toại chữ duyên thêm nồng. (2900)

Vàng ròng ta cũng chẳng dùng,

Muốn cho ngọc nhuận sánh cùng băng thanh.

Lứa đôi có số thiên thành,

Chờ khi tháng tốt ngày lành sẽ toan.

Nói rồi vào chốn hậu đàng,

Khiến đem hai chàng ra mắt phu nhân.

Phu nhân xem thấy rất mừng,

Rằng: Ơn trời khéo nhắm chừng định đôi.

Trai tài gái sắc phải rồi,

Nhà loan cửa phụng sánh ngôi vui vầy. (2910)

Sai người rước mẹ qua đây,

Chủ hôn cho trẻ kết dây sắt cầm.

Dương Trân Dương Bửu đồng tâm,

Thưa rằng: Còn nợ thanh khâm chưa rồi.

Trên đà thương cảm hai tôi,

Xin cho thỏa dạ rạng giồi công danh.

Đại khoa trước đã đặng thành,

Tiểu khoa sau lại phỉ tình bách niên.

Công rằng: Lời nói rất miêng,

Chữ quyền cùng với chữ duyên đi liền. (2920)

Thi hương sớm đã gặp duyên,

Chờ cho thi hội phỉ nguyền mới nên.

Nay đà làm lễ hỏi tên,

Keo sơn chữ dạ cho bền ngày sau.

Hai con qua chốn thơ lầu,

Ở chơi vài bữa sẽ âu về làng.

Tần Khanh lại dạy Trần Đoan,

Khá tua bậu bạn hai chàng đi chơi.

Huyện quan trước án vâng lời,

Phải theo Trân Bửu chơi nơi thơ lầu. (2930)


Còn tiếp.

Related Images: