Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt – Thơ tặng

Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt - Thơ tặngVài lời từ người đánh máy

Cuốn truyện thơ Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt gồm 2 cuốn, do tác giả Nguyễn Hữu Phước sáng tác, Nguyễn Văn Trị biên tập và SAIGON Phát Toán, Libraire Imprimeur phát hành năm 1910.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ viết Quốc ngữ Việt có cách dùng từ và cách dùng dấu khác với hiện tại. Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” trong sách theo cách viết ngày nay.

Quý vị có thể coi hình chụp Bản in gốc 1910 bằng file pdf đính kèm để so sánh hay đối chiếu. Bản in nầy do nhà sưu tập Vương Hồng Sển tặng cho Thư viện Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.


Thơ tặng ông Lê phủ Tả quân

Cảm dõng anh hùng đã xứng trang,

Phò an chơn mạng thuở Cao hoàng.

Sỏi sành lòng quyết trừ loài nịnh,

Vàng đá dạ nguyền diệt lũ gian.

Oai khí để kiêng người dưới ngựa,

Tài tình há nhượng kẻ trên an.

Sử xanh ngàn thuở còn bia tặng,

Danh chói đền Nam tạc bệ vàng.

Chủ bút Nguyễn Văn Trị tặng.


Tặng thị nhứt thủ

Để danh hào kiệt bấy lâu chầy,

Miễu mộ nay còn dấu tích đây.

Một thuở cứu loàn trừ đảng cáo,

Ngàn thu tiết chói rạng đài tây.

Nổi vùng chánh khí nêu danh khắp,

Tạc dạ trung cang dậy tiếng bay.

Gặp lúc mày xanh ra giúp chúa,

Sử thơ còn chép rạng danh đây.

Cần Giộc Chủ cựu Nguyễn Ngọc Ẩn tặng. 


Tặng thơ nhứt thủ

Dấu tạc xưa nay tiếng hãy còn,

Nổi vùng chánh khí chói sông non.

Tào lành giúp nước danh còn rạng,

Trí quyệt cứu loàn tạc dễ mòn.

Lúc nọ xây tay ra giúp chúa,

Ngày kia vẻ mặt rỡ tôi con.

Trăm năm thanh sử còn ghi để,

Miễu mộ Lê công tích vẻ son.

Cần Giộc Hương trưởng Huỳnh Trung Để tặng. 


Tặng thơ nhứt thủ

Đá tạc bia lành đã xứng trang,

Bình Hòa miễu mộ thuở Cao hoàng.

Vượt sống há nệ vòng sông dọc,

Trèo núi đâu sớn đảnh núi ngan.

Giúp nước lòng ngay nêu tiết lịch,

Phò vua gương rạng để danh vang.

Bia còn ngàn thuở ai bì kịp,

Thanh sử nêu tên chói bảng vàng.

Mỹ Lộc Hương giáo cựu Lê Công Cẩn tặng. 


Tặng thơ nhứt thủ

Tây Sơn trừ đảng nghịch tôi con,

Bảng hổ đề tên mấy chữ son.

Ngàn dặm lướt xông bia tạc miễu,

Muôn trùng thâu đoạt chói sông non.

Cao hoàng ngôi báu ngai vàng nối,

Gia Định danh thơm miễu mộ còn,

Phơi cật tóm thâu an một cõi,

Bia vàng rạng chói há đâu mòn.

Mỹ Lộc cựu cai đội Nguyễn Tăng Thiều tặng. 


Tặng thơ nhứt thủ

Nam, Bắc tóm thâu chí khí nên,

Bia vàng ghi tạc mấy hàng tên.

Lê Công miễu mộ đồn danh ỏi,

Gia Định thành cô dậy tiếng rền.

Diệt ngụy quyết lòng yên cõi dưới,

Phò vua khắng dạ rạng ngôi trên.

Vun bồi linh miễu Bình Hòa xã,

Sóng tạc ngàn thu dể rúng nền.

Cần Giộc Tân kim Cả cựu Nguyễn Văn Bền tặng.

Related Images:

Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 09 – Chung

Vài lời từ người đánh máy

Cuốn truyện thơ Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt gồm 2 cuốn, do tác giả Nguyễn Hữu Phước sáng tác, Nguyễn Văn Trị biên tập và SAIGON Phát Toán, Libraire Imprimeur phát hành năm 1910.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ viết Quốc ngữ Việt có cách dùng từ và cách dùng dấu khác với hiện tại. Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” trong sách theo cách viết ngày nay.

Quý vị có thể coi hình chụp Bản in gốc 1910 bằng file pdf đính kèm để so sánh hay đối chiếu. Bản in nầy do nhà sưu tập Vương Hồng Sển tặng cho Thư viện Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.


Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt - Phần 09Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 09 – Chung

Sớ văn vào đến Nam thành,

Lê công tiếp sứ ban hành trào nghi.

Vinh vang dể có ai bì,

Tiện bề an táng tức thì vừa xuôi. (680)

Lê công rơi lụy sụt sùi,

Tưởng niềm cúc dục ngậm ngùi đòi cơn.

Cầm xoan ai khéo vặng đờn,

Lả lơi to nhỏ rã rời ruột đau.

Sờ sờ nắm đất dàu dàu,

Chạnh tình ấu tử ruột đau như dần.

Nào là mẫu tử tình thân,

Dè đâu tảo Bắc là lần đưa nhau.

Lê khôi quì lạy đàng sau,

Bà về tiên cảnh cháu đâu kiếm tìm. (690)

Lễ sanh nhạc vỗ hai bên,

Yến diên quí tế cho bền đạo con.

Trong chay ngoài bội tháng tròn,

Để tình nào thảo lòng con buổi nầy.

Yên rồi cuộc tống táng đây,

Trọn tuần bá nhựt thuở nầy lại an.

Xảy đâu có chiếu Minh hoàng,

Rằng đòi Lê phũ vỗ an Khánh Hòa.

Cơn nầy Lê nhuốm bịnh sa,

Mười ngày mê sảng Khôi đà hoảng kinh. (700)

Thuốc than an dưỡng trong mình,

Càng ngày càng nặng thiệt tình khó toan.

Lê Khôi nước mắt hai hàng,

Ngỡi thầy tình tớ than van động trời.

Ba lần bịnh trở vơi vơi,

Lê công phúc đã lịnh trời đòi đi.

Khí linh chuyển động tức thì,

Ít lời trối với Khôi thì con hay.

Trung cang con khá giữ rày,

Thờ vua một dạ đổi thay thì đừng. (710)

Trối rồi rơi lụy rưng rưng,

Tam hồn thất phách băng chừng lên mây.

Khôi bèn thảm bắc sầu tây,

Tình sanh nghĩa dưỡng lòng nầy chớ quên.

Sớ ra cho tới triều trên,

Lượng vua đoái tưởng công nên thể nào.

Minh hoàng rơi lụy tay lau,

Uổng trang chánh khí anh hào xưa nay.

Truyền xây lăng miễu cho rày,

Tại thành Gia Định ngày nay hiện còn. (720)

Gương lành tạc để sông non,

Tả quân Lê mộ dấu còn lửa hương.

Đoạn nầy trào chánh phong cương,

Có quan Thừa tướng oai dương cả trào.

Tâu vua Lê Duyệt trí cao,

Nuôi Khôi phòng để loạn trào có khi.

Lại thêm Khánh thổ oai nghi,

Ba Hoành, Tống Trấm còn khi giam cầm.

Lẽ chi Duyệt lạu mưu thâm,

Có ngày nó cũng gian tâm lộng quyền. (730)

Thiệt là Lê Duyệt cữu tuyền,

Phải còn nó ắt lộng quyền chẳng không.

Truyền quân sứ chỉ vào trong,

Bắt đoàn nghịch tặc Lê Khôi tức thì.

Sứ bèn vưng lịnh chỉ huy,

Vào thành Nam trấn tức thì chẳng sai.

Vào nơi Khôi hỏi sứ rày,

Việc chi sứ đến tỏ bày Khôi nghe.

Sứ rằng bắt gã phải đi,

Nếu mà cải mạng ắt thì chẳng dung. (740)

Lê khôi nổi trận oai hùng,

Lửa hừng lòng dậy không dung việc nầy.

Lỗi lời dưỡng dục rồi đây,

Lạy thầy một lạy sự nầy chẳng dung.

Văn tài phấn dõng anh hùng,

Rút gươm chém sứ huyết hung đề cờ.

Kéo ra Khánh thổ khai cơ,

Vào nơi ngục thất một giờ cho mau.

Ba Hoành Tống Trấm hiệp nhau,

Đoái công thục tội anh hào liệt hoanh. (750)

Hiệp đoàn tử phạm vây thành,

Lập đồn Khánh thổ rỡ danh anh tài.

Kéo ra thành nội cõi ngoài,

Tháng trường đối địch tranh tài cùng vua.

Phá tan đạt lũy cướp đùa,

Ba năm kinh dịch binh vua khôn bì.

Hơn thua chẳng súc oai nghi,

Kéo vô Gia Định xưng thì Lê vương.

Trấm. Hoành chiến tướng tránh đương,

Sài Gòn vây khổn đoạt đường quân lương. (760)

Minh vương than thở ghe đường,

Sai Phò mã Táng cao cường vô kinh.

Vào nơi Gia Định chiến chinh,

Mưu mô nhả tháo cầm binh hãm thành.

Phò mã vưng lịnh đề oanh,

Vào nơi Gia Định vây thành Lê Khôi.

Tháng trường thuyền đã tới rồi.

Đ1ong đồn hạ trại kề nơi Biên Hòa.

Phò mã thôi mới phán ra,

Lê công miễu mộ tới mà thăm coi. (770)

Tới nơi Mả Táng hẳn hòi,

Vái hồn Lê phủ xin soi xét cùng.

Oai người xưa cũng anh hùng,

Nay về chín suối hộ tùng quốc gia.

Lê Khôi trước đó nuôi mà,

Nay chàng dấy ngụy xét là cớ sao.

Hương đăng van vái lao xao,

Giã từ miễu mộ trở vào trại trung.

Lê công hiển hiện vô cùng,

Ứng lên thần mộng cho chung lời nguyền. (780)

Tả tướng Lê Viễn một khi,

Đánh cùng tướng giặc li bì trận trung.

Hai bên tài trí vô cùng,

Đấu thương tranh võ oai hùng xứng trang.

Lê Khôi võ nghệ rõ ràng,

Đánh cùng Mả Táng oai vang thảy đốn.

Mả Táng thiệt sức là khôn,

Dụ Khôi vào chốn cô đồn phủ vây.

Bốn phương nam bắc đông tây,

Đều là vây khổn Khôi rày vào trong. (790)

Ba ngày tranh đấu rõ ràng,

Lê Khôi giây phút chiếc tràng vong thân.

Phò mã binh tướng ó rân,

Tràn ngang quân lướt muôn phần kéo sang.

Lê Khôi thủ cấp lấy an,

Truyền vô vây khổn thành loan Sài Gòn.

Ba Hoành dạ sắt lòng son,

Đánh Phò mả Táng trên hòn xông pha.

Tống Trấm vào đánh bôn ba,

Cùng Phò mả Táng trọn đà bốn trăng. (800)

Chuyển van khí tượng oai đăng,

Ba Hoành Tống Trấm ai bằng tài cao.

Đánh thôi cảm khái anh hào,

Tới lui hỗn chiến lược thao gồm tài.

Trí tri ai lại thua ai,

Hơn thua duy bởi thần oai Lê thần.

Phò mã nổi tiếng kêu rân,

Lê công hiển thánh xưng thần Nam trung.

Để chi quân ngụy hành hung,

Hư oai đại tướng anh hùng nhuốc danh. (810)

Dứt lời sao phút rơi nhành,

Rõ ràng nầy gã Ba Hoành bị tên.

Bắt chàng quân ó tràn lên,

Tống Trấm áp đánh rất nên dữ dằn.

Lê công hồn rất trung cang,

Khiến chàng Tống Trấm bị đoàn quân vây.

Tên thương bay tợ tràng cây,

Lâm chung một mũi gởi thây chiến tràng.

Binh trời ó dậy tan hoang,

Lấy thành bắt hết cả đoàn Ngụy khôi. (820)

Vợ con thân tộc các tôi,

Chém rồi chôn đống tính thôi cả ngàn.

Mồ chôn cao ngất tràng khan,

Xong xuôi việc giặc ngai vàng bẩm tâu.

Sớ ra các chuyện đuôi đầu,

Minh vương phán trước sân chầu đoan trang.

Truyền hành Lê mộ rõ ràng,

Phạt xiềng còn bỏ ưng oan pháp điều.

Bại thành cũng tiếng tạc biêu,

Công danh luống những quạnh hiu cang tràng. (830)

Trừ rồi đảng ngụy nghiêm trang,

Cầu cho chúa trị ngai vàng muôn năm.

Toại đời Nguyễn Chúa ân thâm,

An dân lạc nghiệp kỳ cầm thi ca.

Trên an chúa thượng thay là,

Bốn dân vui thú cửa nhà vinh thăng.

Chúc mầng bên võ, bên văn,

Sĩ, nông, công, cổ, đạo hằng nối nhau. (838)

———– Chung —————

Related Images:

Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 08

Vài lời từ người đánh máy

Cuốn truyện thơ Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt gồm 2 cuốn, do tác giả Nguyễn Hữu Phước sáng tác, Nguyễn Văn Trị biên tập và SAIGON Phát Toán, Libraire Imprimeur phát hành năm 1910.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ viết Quốc ngữ Việt có cách dùng từ và cách dùng dấu khác với hiện tại. Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” trong sách theo cách viết ngày nay.

Quý vị có thể coi hình chụp Bản in gốc 1910 bằng file pdf đính kèm để so sánh hay đối chiếu. Bản in nầy do nhà sưu tập Vương Hồng Sển tặng cho Thư viện Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.


Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt - Phần 08Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 08

Thốt thôi Lê phủ bày hàng,

Đãi lao tướng sĩ hiệp hoan vui vầy. (600)

Thốt đoạn Lê khôi cơn nầy,

Nghe tin Khánh thổ phủ vây quân trào.

Chàng bèn dạ luống xôn xao,

Nghĩa thầy tình tớ lòng nào lại quên.

Truyền quân yến tiệc bày lên,

Giải phiền cơn muộn há quên cho đành.

Chiêm bao tơ tưởng chẳng lành,

Khiến chàng đạp sỏi dày sành thẳng xông.

Truyền quân ngăn giữ thành trung,

Cho ta bái mạng ra cùng Khánh thôn. (610)

Đêm ngày chàng luống bồn chôn,

Đến nơi Khánh thổ hãi hồn cơ binh.

Chàng bèn vào giữa sân đình,

Rõ ràng Dưỡng phụ một mình ngồi trên.

Lê Khôi cất tiếng khóc lên,

Tưởng đà cha đã về trên thiên thần.

Lê công cười nói vang rân,

Lê Khôi nầy khéo ra mần việc chi.

Khôi bèn quì lạy một khi,

Nhớ thương nên mới tầm đi Khánh Hòa. (620)

Lê công khi ấy quở la,

Con tua nghỉ khỏe, Bình Hòa trở lui.

Lê khôi khi lúc mầng vui,

Rượu đà hứng chí toại mùi ngâm nga.

Bốn câu thi vịnh bày ra,

Tay chàng vội tả miệng đà ngâm lên.


Có thơ ngâm rằng:

Khánh thổ trừ xongmối giặc loàn,

Anh hùng bia rạng tiết trên an.

Oai hùm phấn chí trừ quân nghịch,

Để dấu ngàn thu thảy néo gan.


Thơ rồi chàng mới đam sang,

Lê công xém xét ngợi vang tài tình.

Ba ngày yến tiệc phân minh,

Lê Khôi sắm sửa đăng trình ruổi dung. (630)

Mười ngày về tới thành trung,

Vui vầy tướng sĩ tiếc chung sẵn bày.

Lê Khôi chén nhạc vừa say,

Truyền kêu Công tử ngày rày chớ sai.

Vỗ an Nam trấn thành ngoài,

Ba năm phẳng lặng chương đài ca âu.

Nhắc qua Trần thị thuở đầu,

Trong mình nhuốm bịnh giây lâu bỏ mình.

Lê Khôi truyền chỉ quân binh,

Ra nơi Khánh thổ tỏ tình cho mau. (640)

Lê Khôi rơi lụy tay lau,

Bà về tiên cảnh dàu dàu khá thương.

Quách quan sắm sửa ghe đường,

Nào là khăn liệm cho tường chớ sai.

Chiếu thơ phút đã tới rày,

Lê công tiếp đặng mau bày tiệc diên.

Than rằng mẹ xuống quỳnh tuyền,

Ngàn thu vắng vẻ con hiền thấy đâu.

Tư thôi tang phục thuở đầu,

Chỉ văn bảo tấu kim âu ngự tường. (650)

Lê công xiết nỗi tình thương,

Lỗi niềm sanh dưỡng trăm đường héo don.

Thề xưa biển cạn non mòn,

Nay con vì nước dạ còn lỗi cam.

Truyền quân ngăn ải Luốn Đàm,

Ba Hoành, Tống Trấm truyền đam ngục hình.

Thành trì sắp đặt đinh ninh,

Lên an trở lại Nam đình lướt xông.

Lên yên than với ngựa hồng,

Lộ đồ xin đó dày công chớ từ. (660)

Đêm ngày đàng sá bao chừ,

Lên đèo xuống hố dường như lạc đàng.

Nam thành nay đã về ngang,

Thoàn lê mau kíp đưa chàng qua sông.

Tới nơi lụy nhỏ giọt hồng,

Thảm phiền sóng dập, gió chồng biết nhiêu.

Rày con lỗi đạo trăm điều,

Thảo bì đất Thuấn, trời Nghiêu học đòi.

Sứ thần chỉ phán chơn noi,

Tới thành bèn xuống dưng thôi chiếu truyền. (670)

Minh hoàng khen đứng nhơn hiền,

Sanh vi hổ tử rỡ duyên trên đời.

Tòa chương phán trước một lời,

Lê đưa Lê mẫu xa khơi tống hành.

Đôi hàng song đối đề danh,

Phán vua ơn nước bia lành còn roi.

Câu vãn điếu rằng:

Niên thọ cữu tuần giáo tử phương danh di Mạnh mẫu,

Thần đinh thập ngoại giai thành thử nhựt cảnh Tiên du.


Còn tiếp.

Related Images:

Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 07

Vài lời từ người đánh máy

Cuốn truyện thơ Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt gồm 2 cuốn, do tác giả Nguyễn Hữu Phước sáng tác, Nguyễn Văn Trị biên tập và SAIGON Phát Toán, Libraire Imprimeur phát hành năm 1910.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ viết Quốc ngữ Việt có cách dùng từ và cách dùng dấu khác với hiện tại. Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” trong sách theo cách viết ngày nay.

Quý vị có thể coi hình chụp Bản in gốc 1910 bằng file pdf đính kèm để so sánh hay đối chiếu. Bản in nầy do nhà sưu tập Vương Hồng Sển tặng cho Thư viện Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.


Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt - Phần 07Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 07

Đoạn nầy nói việc Nam thành,

Tả quân Lê phủ oai danh trong ngoài.

Lập trường ca xướng vui thay,

Nam thanh nữ tú đêm ngày ca xang.

Phú cho dưỡng tử ngăn loàn,

Lê Khôi vưng lịnh rao toàn ca công. (530)

Vui thay kép hát Bầu Xông,

Có tên Nhưng Thả hát không ai bì.

Đêm ngày vui thú xiết chi,

Khi cơn rượu cúc khi thì trà thung.

Sáu châu dậy tiếng oai hùng,

Lê khôi cũng nực tiếng cùng các nơi.

Xảy đâu thấy có chiếu trời,

Rằng đòi Tả Tướng Khánh Châu dẹp loàn.

Tả quân vưng lịnh đặt an,

Thành trung Khôi khá ngăn loàn cho xong. (540)

Lê khôi vưng lịnh an lòng,

Tả quân sắp đặt cho xong đề huề.

Một vùng chiếu chỉ tay phê,

Phú cho dưỡng tử trăm bề giữ coi.

Lê Quân lên ngựa chơn noi,

Khôi quì bốn lạy học đòi Trung Diêu.

Đưa thầy về tới Nam triều,

Cầu cho danh toại gương biêu trên đời.

Ra đi nhựt dạ vọng khơi,

Mười ngày thoàn đã tới nơi Khánh Hòa. (550)

Tả quân chiếu chỉ sai ra,

Hoàng tiều kíp tới dưng mà biểu văn.

Cao hoàng tiếp chiếu khen rằng,

Anh hùng như thế chủng thằng phải trang.

Phê cho bốn chữ rõ ràng,

Trung cang Nghĩa khí, cho chàng danh thơm.

Thứ nầy  Lê phủ lập đồn,

Ba ngày sắp đặt đuổi dồn quân hoan.

Ba Hoành nghe đã rõ ràng,

Truyền cho Tống Trấm đỡ ngăn cõi ngoài. (560)

Thốt thôi Lê phủ binh oai,

Kéo ra cự chiến thử tài thấp cao.

Ba Hoành sức ỷ hùng hào,

Tưởng như lúc trước lướt vào lui ra.

Lê công yểm chiến đứng xa,

Ba Hoành tưởng đã sợ mà oai y.

Chẳng dè bị thế rất kỳ,

Lê công bố trận tức thì tràn ngang.

 Bắt chàng Tống Trấm rõ ràng,

Đam vào ngục thất cho chàng biết danh. (570)

Lúc nầy tới tướng Ba Hoành,

Phục thù cố hữu hô danh Lê liền.

Giỏi thì cự chiến trên yên,

Cùng ta đối địch cho tuyền oai danh.

Lê công chiến trận sấm rền,

Nổi vùng chánh khí leo lên sơn đài.

Hai đàng phấn võng dương oai,

Tay quờn chơn đá xứng tài phụng phi.

Lê công xuống thế chơn quì,

Ba Hoành lướt tới tức thì đánh Lê. (580)

Tràn ngang bên tả bờ đê,

Bắt Hoành trên trận tay kề ôm ngang.

Lê công quyết sát chiến tràng,

Ba Hoành thăng thỉ xin chàng đầu công.

Lê bèn truyền cố ngục trung,

Tóm thâu khí giái các cung quân loàn.

Kíp thâu tài vật chở sang,

Khánh Hòa khôi phục chiêu an xóm làng.

Mọi bề sắp đặt vừa an,

Sớ ra Kinh địa Minh hoàng ngự xem. (590)

Sứ thần vưng sớ kíp đem,

Mười ngày về tới ngự xem phán rằng.

Khen cho Lê tướng trung cang,

Khánh Hòa bình phục phải trang anh tài.

Truyền quân yến tiệc bài khai,

Đãi lao quân sĩ trong ngoài ca ngâm.

Truyền ban thập lịnh tửu đàm,

Đăng thành Khánh thổ luôn đàm trấn an.


Còn tiếp.

Related Images:

Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 06

Vài lời từ người đánh máy

Cuốn truyện thơ Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt gồm 2 cuốn, do tác giả Nguyễn Hữu Phước sáng tác, Nguyễn Văn Trị biên tập và SAIGON Phát Toán, Libraire Imprimeur phát hành năm 1910.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ viết Quốc ngữ Việt có cách dùng từ và cách dùng dấu khác với hiện tại. Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” trong sách theo cách viết ngày nay.

Quý vị có thể coi hình chụp Bản in gốc 1910 bằng file pdf đính kèm để so sánh hay đối chiếu. Bản in nầy do nhà sưu tập Vương Hồng Sển tặng cho Thư viện Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.


Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt - Phần 06Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 06

Trung hưng Lê phủ Tả quân,

Thứ hai kế tiếp, lượt chừng kể ra.

Vỗ an Nam Định thành ta,

Dân cư lạc nghiệp thái hòa ca âu. (420)

Sang năm Ất dậu thu đầu,

Dấy lên quân ngụy tại châu Khánh Hòa.

Xưng rằng Hoài thị Tam Ca,

Nghing ngang mội cõi Khánh Hòa liệt hoanh.

Lại thêm Tống Trấm, Ba Hoành,

Biên thùy hùng cứ oai danh một đoàn.

Người đồn dậy tiếng đã vang,

Biện kinh thấu đến Cao hoàng đều hay.

Bèn sai Nguyễn Điển ngày rày,

Binh hùm kéo tới trừ thay quân loàn. (430)

Kéo vào đồn lũy đóng an,

Tam Ca nghe quả mở đàng cự đương.

Nguyễn Điển thiệt cũng cang cường,

Sức thần giao chiến tranh đương thư hùng.

Loạn vào chiến địa quân trung,

Tử sanh chi sá anh hùng phải trang.

Hoài vương thấy chẳng kinh hoàng,

Triển oai thần võ chém chàng vong xu.

Nguyễn Điển thất thế chạy mù,

Khánh Hòa dấy loạn quân du thảy đều. (440)

Nguyễn Điển hổ mặt buồn hiu,

Ngàn năm ngại nỗi tiêng biêu xa gần.

Nhóm quân tại mé Giang Tân,

Ước hơn trăm đứa mưu thần ít trang.

Có tên Phan Hóa mới hàng,

Mưu mô nhả tháo, phải trang anh hùng.

Vào nơi tả phụ quân trung,

Hiệp đoàn Nguyễn Điển đánh cùng Tam Ca.

Mưu cao chàng mới thiết ra,

Đồn binh biên cảnh, Khánh Hòa để êm. (450)

Chiến công có chiếu hẹn thêm,

Tháng năm ngày vọng thì kềm cự nhau.

Nguyễn Điển binh chiến cùng nhau,

Tam Ca Nguyễn Lữ cửa sau đánh dồn.

Rượt chàng tới Khánh Bình thôn,

Phan Hóa vùng dậy đánh dồn trở ra.

Phan Hóa đánh với Tam Ca,

Kích đâm, khiên chém tợ là long phi.

Nguyễn Lữ sút thế chạy đi,

Điển bèn truyền lịnh tức thì phủ vây. (460)

Phan Hóa bày kế bộn bề,

Lương khê tên tộc bèn phê chiếu truyền.

Giả đò phản quốc trào đình,

Quyết đam nhơn mã hưng binh hiệp đoàn.

Mật thơ Nguyễn Lữ trao sang,

Hờ cơ y cũng tin chàng sự ngay.

Truey62n đam diên yết đãi rày,

Lương Khê dòm biết đã say cái từ.

Huỳnh hôn vừa lúc canh tư,

Lương Khê, Nguyễn Điễn bây chừ lén vô. (470)

Tam Ca nằm dựa phòng cô,

Bị Khê một búa hồn vô hòm liền.

Quân tràng ó dậy huyên thiên,

Ba Hoành cự chiến thay quyền chống ngăn.

Đánh Khê một trận dữ dằng,

Khê bèn cự chiến đỡ ngang bốn bề.

Thương thay cho tướng Lương Khê,

Khí thần dây phút chôn về linh tiêu.

Trơ trơ một đóa thây biêu,

Ngàn thi danh rạng Nam triều sửa xanh. (480)

Dòng quyên đôi giọt sầu thành,

Miễu đường tạc để biêu danh trên đời.

Ba Hoành truyền lịnh các nơi,

Dựng cờ khuấy nước dậy trời oai vang.

Tống Trấm lúc nọ tràng ngang,

Phủ vây Nguyễn Điển vào đàng quân trung.

Tống Trấm sức gã gian hùng,

Đánh chàng Nguyễn Điển khôn cùng tài năng.

Nguyễn Điển không kịp đỡ ngăn,

Bị chàng Tống Trấm một lằng kiếm thương. (490)

Rủi thay giữa chốn chiến trường,

Một lời từ giã thiên đường kiếp lui.

Ruột tuôn máu thấm ngậm ngùi,

Huyết thơ vội tả chưa rồi lại rung.

Truyền quân trở lại thành trung,

Huyết thơ bẩm tấu khôn cùng tỏ phân.

Quân bèn vưng lịnh ân cần,

Băng ngàn Sơn lãnh liều thân phen nầy.

Mười ngày về tới thành tây,

Huyết thơ bẩm tấu việc nầy trước sau. (500)

Minh hoàng rơi lụy bàu nhàu,

Thương thay hai tướng anh hào xứng trang.

Thà cam để rạng bia vàng,

Sử xanh truyền lịnh biên chàng vào trong.

Vua bèn hội hiệp văn phòng,

Bên phan bên niết hai dòng nghị công.

Minh vương phán giữa sân rồng,

Chiếu đòi Lê Duyệt trừ xong quân loàn.

Nói rồi truyền chiếu mau sang,

Vào thành Nam trấn đòi chàng cho mau. (510)

Đoạn nầy nhắc lại lần sau,

Khiến thần Nguyễn Điển hồn vào miễu trung.

Thương thay chí khí anh hùng,

Hồn linh vừa dứt xác cùng ngã lăn.

Tống Trấm truyền lịnh quân rằng,

Lấy liền thủ cấp rồi ngăn quân ngoài.

Ba Hoành, Tống Trấm bài khai,

Yến diên hỉ hạ an bài oai nghi.

Hêu đòi tưởu sắc ai bì,

Toại tình sung sướng những khi vui vầy. (520)

Việc binh há chẳng màng chi,

Cửa khoe liễu thắm mĩa khi Tần Tùy.

Ngày thời trà rượu thiếu chi,

Đêm thời sắc dục theo thì tuổi xanh.


Còn tiếp.

Related Images:

Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 05

Vài lời từ người đánh máy

Cuốn truyện thơ Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt gồm 2 cuốn, do tác giả Nguyễn Hữu Phước sáng tác, Nguyễn Văn Trị biên tập và SAIGON Phát Toán, Libraire Imprimeur phát hành năm 1910.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ viết Quốc ngữ Việt có cách dùng từ và cách dùng dấu khác với hiện tại. Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” trong sách theo cách viết ngày nay.

Quý vị có thể coi hình chụp Bản in gốc 1910 bằng file pdf đính kèm để so sánh hay đối chiếu. Bản in nầy do nhà sưu tập Vương Hồng Sển tặng cho Thư viện Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.


Nguyễn Hữu Phước: Tân thơ Tả quân Lê Văn Duyệt - Phần 05Tả quân Lê Văn Duyệt – Phần 05

Phút đâu quân tới ứng trình,

Rằng vua chiếu triệu Bắc binh hầu đòi.

Tạ từ tôn trưởng mau lui,

Về nhà từ giã thoàn xuôi một lèo.

Mẹ con chỉ dặm lần theo,

Phút đâu lố thấy kinh kỳ là đây. (390)

Quân vào báo trước vua hay,

Tả quân vưng lịnh vào ngay trung đường.

Cao hoàng phán trước tòa chương,

Vì chưng tặc đảng thảy nhường oai Lê.

Bắc kinh trấn thủ an bề,

Gai vô bế hô chỉnh tề oai phong.

Mấy năm biên lặng sông trong,

Ngàn thu tuyết thói trên vòng thỉ lưu.

Xảy nghe thế giặc oan cừu,

Tại thành Nam trấn hơn mười dặm xa. (400)

Cao hoàng truyền lịnh phán ra,

Tả quân trừ đảng nghịch mà mới xong.

Lê công vưng lịnh đề phòng,

Vào thành Nam trấn từ xong giặc loàn.

Ngụy Khôi ra lạy đầu sang,

Tả quân khi ấy cho chàng lập công.

Đêm ngày hầu hạ bệ rồng,

Tâu vua xá tội chàng thông quân trào.

Minh linh cải tánh cho vào,

Lê Khôi đồng họ sân đào lập công. (410)

Toại thay trướng phụng xa rồng,

Phò an chơn mạng Gia Long cơ đồ.

Tại thành Nam trấn qui mô,

Vỗ an bốn bể cơ đồ nguy nga.

Nam trào mối nước nhà ta,

Trên an Thánh thượng dưới hòa bốn dân.


Hết cuốn thứ nhứt. Mời coi cuốn thứ nhì (từ Phần 06)

Related Images: