Nguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án: 08 – Hồi thứ tám: Chung

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Nguyễn Viên Kiều - Kinh nhơn kỳ ánNguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án

Châu Nga Thơ giấu thây cải giá,

Huỳnh Đắc Công vì bạn trừ gian.


Tác giả: Nguyễn Viên Kiều

Bút hiệu: Lão Ngạc

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Kinh nhơn kỳ án – Hồi thứ tám: Chung

Đến khi quan huyện ra khách, lính dắt Nga Thơ vào, Nga Thơ khai rằng:

– Vì tôi muốn đặng gần Trầm Cẩm Đường nên tôi mưu hại chồng tôi. Bữa nọ chồng tôi nói đi thăm anh em bạn, tôi nấu cháo ăn sớm mai, tôi bỏ thuốc cuồng tâm cho chồng tôi ăn, ăn rồi phát cuồng, nói ngô nói xàm, nhào lộn kêu la, mẹ chồng tôi cũng thấy. Đến đêm rốt người ta vắng hết, mẹ chồng tôi mê ngủ quên đi; còn chồng tôi thì mê thuốc độc nằm thiếp thiếp không cực cựa. Khi ấy Cẩm Đường lén vào giết chồng tôi chết, trước khi chết cũng có la lớn, mà lối xóm tưởng là chồng tôi cuồng nên không ai nghi. Tuy là Cẩm Đường giúp sức xuống đao, song bởi nơi tôi cả thảy. Giết chết rồi phân thây lấy muối, muối cho thiệt mặn gói để giấu trong rương, rồi Cẩm Đường mới xủ tóc cầm dao mà chạy, giả làm chồng tôi phát cuồng chạy bay mà nhảy xuống sông. Lại lấy một chiếc giày của chồng tôi mà bỏ nơi mé bờ làm cho người ta tin là chồng tôi nhảy xuống sông mà thác.

Quan huyện gặt đầu nói rằng:

– Mấy lời mi khai rất thiệt, giết người sự tích rõ ràng, vậy đứa gian phu của mi bây giờ nó ở đâu? Mi phải chỉ ra thì mi nhẹ tội.

Nga Thơ nói:

– Việt ấy nơi tôi làm thì tôi chịu, tôi cam một thác mà thôi, dầu quan lớn có giết tôi thì tôi cũng cam tâm, thiệt tôi không chỉ.

 Quan huyện dạy biểu đem giam lại, rồi bày tiệc đãi Đắc Công. Khi ấy anh bạn của quan huyện cũng là hàng thân sĩ ở địa phương, nghe Đắc Công tìm án như thần, đã có trí mà lại có mưu, đã có công mà lại có nghĩa, cho nên ai ai cũng muốn tìm cho gặp Đắc Công coi người ra thể nào mà trí ý coi cao thâm đến vậy.

Khi nhóm nhau tại huyện ăn tiệc mới chào mừng gặp mặt rồi xúm hỏi căn do.

Đắc Công nói rằng:

– Hồi còn ở Long huyện chưa về, đương lo công việc, không biết cớ nào trong lòng bứt rứt ngồi đứng không yên, nên xin phép đặng về tảo mộ. Chừng lúc đi ghe nằm chiêm bao hai lần thấy Huỳnh Tác Dân nằm trên đống máu, trong lòng khoan khoái, trông riết về coi. Khi lên bờ đi bộ lại có kẻ kêu lại mà rằng: “Võ Đô Đầu! Võ Đô Đầu!”

Đến chừng tới nhà họ Huỳnh thì thấy bạn cũ đã đi rồi, người mới tới thế, trong lòng áy náy nghi hoặc chẳng yên. Tìm xét nhiều lần, bặt không tâm tín, cũng tưởng co tay mà chịu, chẳng dè gặp bạn cũ là Hồ Kỉnh An. Duy có một người đó nói với tôi rằng: “Nga Thơ không phải trinh phụ”. Nhơn vì xưa nay trong thiên hạ, hễ dâm phụ thì chưa người nào mà chẳng dữ, hãn phụ chưa người nào mà chẳng dâm, rõ đặng một cớ ấy.

Bởi thế cho nên tôi về ở chung một nhà với chúng nó đặng thăm dò tình hình. Tôi lại khiến một người chạy vào nói bướng rằng Tác Dân còn sống điên cuồng ở nơi miễu bây giờ thì thấy lão bà mừng niệm Phật om sòm, còn hai vợ chồng nó tỉnh táo như thường mà lại còn nạng trở tên báo cấp đó nữa. Coi thế dường như chúng nó chắc là chết thiệt, không có lý phụ sanh. Thì tôi biết chắc hai đứa nó giết Tác Dân không còn nghi ngờ chi nữa. Khi tôi ở nhà đó thì tôi cứ nói chuyện âm chất, quả báo cùng là gian tình hiềm án thì tôi xem lén, nhan sắc chúng nó dường có xốn xang.

Bữa nọ, tôi nói sát đề tài rằng: “Có đám đó nó giết người rồi lấy vợ người lại giả nhơn giả nghĩa làm tuồng hiếu thuận, thế làm con mà nuôi dưỡng mẹ chồng, hịt như chuyện nhãn tiền của chúng nó đương làm nên chúng nó e ốc nhiều bề, lo dường lậu sự vậy.

Có ngày nọ, Cẩm Đường đi vắng, con dâm phụ ấy ở nhà khóc với mẹ chồng cũ một cách rất thê bi, lại có kể câu nầy: “Lòng tôi nguyền một thác với chồng, bị thương một chút mẹ chịu cải giá là sự cùng mà biến đó thôi, chớ lòng sạch gương trong của tôi ai mà thấu đặng. Nay lại bị người tật đố, khi không mà đặt chuyện nước lã khuấy nên hồ. Người suối vàng như có linh thiêng, chứng chiếu tấm thành cho người lỡ phận”. Ấy là muốn khóc nói cho tôi nghe. Khi nó nín khóc rồi tôi lóng tai nghe dường như lục đục làm công việc chi trong phòng vậy.

Tôi hỏi chồng nó đi đâu, thì nó nói không biết đi đâu. Tôi lại nói với Trần bà, xin ở căn phòng chỗ chồng cũ nó ở đó, thì nó lại kiếm lời tráo chác mà ngăn trở, thì tôi thấu rõ trong ấy còn thông tích chi đó chớ chẳng không.

Mà lại vầy nữa nên tôi mới chắc; hễ trời nóng nực thì có hơi hôi thì con dâm phụ ấy lại càng đốt hương đốt tốc. Đã vậy mà sao chồng nó đi đâu sáu bảy ngày không về vậy có lý chồng nó đi trước, nó ở lại cho nhẹm rồi đi sau; nên tôi vậy với Hữu Luân xin với quan huyện cho lính đó, hễ gặp nó đi thì xét, mới bắt đặng tang tích đây vậy.

Nói tới đó ai nấy đều khen rồi mới uống rượu. Quan huyện cười mà nói rằng:

– Thầy thiệt là ông Phước Nhĩ Na Tư phương đông chớ chẳng phải chơi. Du Long huyện có một tân như vầy, có lo chi là việc chẳng phân minh, tiếng ngợi om sòm, một ngày bảy ngàn dặm!

Yến tiệc xong rồi, ai về nhà nấy, quan huyện đem Nga Thơ tra nữa, thì cũng khai y như trước một mảy không sai.

Quan huyện lấy khai phạm án tập dưng lên thượng hiến. Theo lời án thì Nga Thơ đà đáng chết mà Trầm Cẩm Đường cũng không biết quan thượng ty sai tập nã đặng không, dẫu mà trốn khỏi phép dương trần, chớ âm võng tuy thưa, nào xưa nay ai trốn khỏi?

Phê rằng:

Châu Nga Thơ quến gian tình thiết, đã có chồng còn mưu sự mà hại chồng. Khi phụng thờ theo lẽ đàn bà ở như vậy cũng nên phong tặng. Người làm sao trí rất cao, mưu rất kín, thung dung mà trấn định lòng người, làm cho Trần ba tin ngơm ngớp như lời, đến con chết mà còn lầm rằng có phước. Nếu chẳng có Huỳnh Đắc Công thủ đoạn thì làm sao vạch ra chỗ bí mật mà minh oan. Chắc là đống thịt xương  muối để trong rương, chuyện như vậy xưa nay cũng có. Tại không gặp Huỳnh Đắc Công nên biệt tích, để phú cho âm võng lúc tương lai.

Coi như việc tra tìm mật án ít dày trí như Đắc Công. Lúc mới về quì trước án tiền khóc kể đủ động lòng người, hỏi chứng cứ, tìm tích án, mỗi việc kỹ cang chẳng hề sơ lược. Như vậy mới thiệt là một tay lãi lại đã từng kinh nghiệm ví với trinh thám gia ngày nay chẳng kém chút nào. Đã dè dặt mà dày công, đã chính chắn mà còn kín đáo.

Thiệt là:

Lành dữ đáo đầu không thể trốn,

Coa bay xa chạy đất trời nao?

————– Chung ———-

Related Images:

 

Nguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án: 07 – Hồi thứ bảy

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Nguyễn Viên Kiều - Kinh nhơn kỳ ánNguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án

Châu Nga Thơ giấu thây cải giá,

Huỳnh Đắc Công vì bạn trừ gian.


Tác giả: Nguyễn Viên Kiều

Bút hiệu: Lão Ngạc

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Kinh nhơn kỳ án – Hồi thứ bảy

Có một ngày kia ăn cơm vừa rồi, Đắc Công ngồi ghế nói chuyện đời xưa, xảy có một người ở ngoài ngoải ngoải chạy vào hơ hãi lại nói với Trần bà rằng:

– Tôi mừng cho bà may quá, con của bà còn sống bây giờ ở ngoài miễu đương nói cuồng, ngoải có chết chóc chi đâu. Vậy bà hãy mau mau sai người ra kêu nó về, để đói khát tôi nghiệp quá!

Trần bà lật đật xô ghế đứng dậy mà nói rằng:

– Nam mô A Di Đà Phật, thiệt chiêm bao linh quá.

Rồi mượn vài người mà rằng:

– Nè nè em ra rước dùm con của mụ một chút, mụ cám ơn.

Đắc Công vụt đứng dậy mừng quá, để ý coi tình cảnh thể nào, chỉn thấy Nga Thơ thỉnh thoảng nói với người đi kêu rằng:

– Chú nói chuyện chiêm bao hay sao chớ? Chồng tôi mắc oan quỉ biết cuồng nhảy xuống sông mà chết, con mắt tôi thấy rõ ràng mà nói còn sống, hoặc sống trong bụng cá sao chớ?

Cẩm Đường nói tiếp:

– Chuyện đó thiệt tôi không tin.

Trần bà cứ cậy hai người ở lối xóm đi rước. Đi đâu nửa ngày về nói lại rằng:

– Họ nói có một người điên lại miễu đó hồi sớm mai, kế anh em tôi tới thì thằng điên đã đi đâu mất rồi. Hai đứa tôi hỏi kỹ thì hình dạng niên kỷ không giống Tác Dân chút nào cả.

Cả nhà nghị luận một hồi rồi thôi.

(Khán quan có biết người chạy hơ hãi mà kêu Trần thị mà nói mừng cho bà rằng con của bà còn sống không phải chết đó là ai không? Chắc không biết. Ấy là người của Đắc Công chút sử làm vậy đặng Đắc Công dọ mánh thế coi khí sắc vợ chồng Nga Thơ ra thể nào. Thiệt Đắc Công là k3 hữu tình với bạn lại có trí lắm).

Lần lựa đã tới trung tuần tháng tư rồi, khí trời nóng nực, trong nhà chia phân ra ở hai chặng, trước sau cộng hết là tám căn. Trần bà ở nhà trước phía tả, đằng sau phía hữu là tân phòng, còn Đắc Công ở nhà khác phía hữu thì cách tân phòng cũng xa. Còn căn  giữa thì có bàn Phật, Trần thị tin Phật giáo lắm, đêm ngày thường đánh cuông niệm Phật. Nga Thơ cũng làm theo ý mẹ chồng mai chiều thường hương đăng bái cúng hoài vậy.

Đắc Công Khi tới ở nói có chuyện trong thành, ở làm công chuyện rồi sẽ về, mà ở trót nửa tháng cũng chưa tính đi, lại kế Cẩm Đường về thăm nhà đi hết sáu bảy bữa mà cũng chẳng thấy về. Đắc Công đi kiếm Hữu Luân dặn dò biểu phải làm theo như vậy vậy, rồi trở về cũng ở nhà họ Huỳnh như cũ.

Có một bữa đó nó nghe Nga Thơ ở trong phòng cằm cục làm gì không biết mà trót nửa ngày, rồi lại nói Trần bà xin về viếng mẹ, Trần bà chịu cho đi. Ngày sau trời vừa hừng đông, có một cái xe kiếng tới đậu sau cửa sau mà đợi. Nga Thơ đem nước rửa mặt cho Trần bà rửa mặt xong rồi, khép cửa phòng lại, rồi thưa mà đi.

Khi lên xe đi chừng một dặm thì trong huyện có cho sáu bảy tên lính đón đường, biểu phải đậu xe lại đặng tra xét.

Nga Thơ mắng rằng:

– Mấy chú nầy đón đường ăn cướp người ta hay sao? Tôi là người đàn bà về nhà mà thăm mẹ tôi. Tôi đi giữa ban ngày mà mấy chú xét chuyện gì? Mấy chú không đặng vô lễ vậy đâu, nếu làm ngang thì tôi kêu quan địa phương bắt mấy chú cho mà coi.

Người đàn bà như vậy cũng khôn, mà cũng thiệt khẳng khái.

Mấy tên lính chẳng đếm xỉa, cứ biểu thằng đánh xe ngừng xe lại. Thấy trong xe có hai cái rương, có một cái lớn có dây ràng chắc cứng. Lính hỏi trong rương đựng vật chi?

Nga Thơ nói:

– Thịt heo muối mua về cho mẹ tôi.

Lính bắt xe và người đem về dinh tra xét, ai dè trong rương ấy không phải thịt heo muối, thiệt là thịt người ta muối, còn hai cái cẳng, hai cái tay rõ ràng và tám miếng thịt. CÒn trong cái rương kia thì xương muối mà có ém mấy cái áo rách, có một cái khăn vuông có bông gói một cục cứng ngắt mở ra xem rõ thì là cái đầu người ta.

Ai nấy thấy vậy cũng nhíu mày chắt lưỡi. Còn mấy người lính thì cười mà nói rằng:

– Trong đời có thịt heo muối của con mẹ nầy là lạ hơn hết, để coi rồi ai muối cho biết nghe, già hàm lắm!

Nga Thơ thấy việc đã bại lộ ra rồi, cón giấu chi nữa cho đặng, bèn cúi đầu mà nói rằng:

– Cái số mạng tôi đã tới rồi, vậy xin để tôi khai ngay, mấy cậu đừng tra khảo chi cho nhọc.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án: 06 – Hồi thứ sáu

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Nguyễn Viên Kiều - Kinh nhơn kỳ ánNguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án

Châu Nga Thơ giấu thây cải giá,

Huỳnh Đắc Công vì bạn trừ gian.


Tác giả: Nguyễn Viên Kiều

Bút hiệu: Lão Ngạc

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Kinh nhơn kỳ án – Hồi thứ sáu

Đến ngày mồng 8 tháng tư, Hữu Luân rước Huỳnh Đắc Công lên Quan Âm tự, rồi mời Trần thị lại sau chùa nói chuyện. Đắc Công hỏi Trần thị rằng:

– Tác Dân chết rất kỳ quái, còn người mới đối với bác, bác có chỗ chi nghi hoặc hay không? Xin bác nói thiệt cho cháu nghe đặng cháu có tỏ điều thân khuất.

Trần thị lấy lúc lắc miệng niệm mô Phật mà rằng:

– Cẩm Đường ở với ta sự hiếu thuận hơn con ta nhiều lắm. Từ nó đến cửa ta tới nay, ăn xài phủ phê, nếu mình nói xấu cho người trời đất nào dung thứ cho mình. Còn dâu ta lấy nó là bởi tại nơi ta ép uổng. Sự con ta chết là tại mạng lý nó vắn vỏi mà khiến vậy. Một lời ta nói làm chắc, cháu chớ tin ai. Chuyện nầy nơi trong bà con bày đặt nói vơ, vì ganh gổ giành ăn phần tế sản.

Đắc Công nói:

– Nghe chuyện chết kỳ Quái nên cháu phải hỏi cho tường. Lời cổ ngữ rằng “vàng thiệt chẳng sợ lửa”. Nghe nói Tác Dân nửa đêm phát cuồng, xủ tóc che mặt, tay xách dao phay. Có lý nào nửa đêm cp1 dao phay trong phòng, cuồng gì lại xủ tóc che mặt.

Trần thị nói:

– Quả có vậy. Con ta hồi phát cuồng cả xóm đều hay có tới thấy rõ, thiệt nó mắc tà quỉ. Mà lại có bói thì thầy bói nói trước rồi mà tránh không khỏi chớ.

Đắc Công nói:

– Người đời sống thác cũng có số mãng đến thì đâu trốn cho khỏi. Vậy bác có một con, chết rồi chắc bác nhớ thương lắm, mà bác có chiêm bao chi hay không?

Trần thị nói:

– Có, hôm trước ta có chiêm bao thấy Quan Ạm lực sĩ cho ta một cái mền bông, nói rằng con ta gởi cho ta, ta vừa tiếp lấy kế giựt mình thức dậy. Ta tưởng là điềm tốt đặng ấm no chớ không chi lạ.

Đắc Công nói chuyện giây lâu rồi thưa xin về. Hữu Luân ở gác chùa đón hỏi rằng:

– Lão gia hỏi lại bà lão nói đó có chịu tin chưa?

Đắc Công làm thinh suy nghĩ hoài, sau lại có người vỗ vai, day lại thì thấy Hồ Kỉnh An là người quen cũ.

Kỉnh An là người hay nói cợt, sẵn dịp chỉ mà nói với Đắc Công rằng:

– Nè nè coi kìa kìa!

Đắc Công lấy tay khoát mà nói rằng:

– Đừng nói lớn tiếng lắm, mấy ông men, người đó là vợ nhỏ của Trầm Cẩm Đường, hiếu kỉnh mẹ chồng, tuy gia thế bức mà phải cải giá chớ người ta trinh liệt lắm đó.

Kỉnh An cười hả hả mà đáp rằng:

– Trinh liệt sao lấy chồng? Thiệt thầy nói nghe bất tiện quá!

Đắc Công nói chẩm hẩm rằng:

– Thất tiếc là việc nhỏ, chết đói là việc lớn. Con người ở đời phải thông quyền đạt biến, há lấy một chuyện mà luận hoài hay sao?

Kỉnh An nói:

– Không, sự thông quyền đạt biến ai nói. Vậy thầy nói người đàn bà đó vì quyền biến mà tái tiếu sao? Chớ tôi biết người đó tới tam tiếu mà khi chưa thôi nữa đó. Bây giờ thì chẳng tin tôi, để tôi thuật cho mà nghe.

Rồi hai người dắt lại chỗ kín mà nói chuyện. Kỉnh An nói:

– Người đó là Nga Thơ con của nhà họ Châu làm nghề đóng rương mà bán. Nàng ấy từ nhỏ đến lớn muốn chi tự ý, là tay lật thủ chớ phải vừa sao. Bề ngoài thì chánh khí mà bề trong thì tà tâm, cũng có sao với nhau rồi, trước hết thì gả cho Tác Dân sau gả lại cho Cẩm Đường chớ. Vậy phải hay là không phải?

Đắc Công gặt đầu.

Kỉnh An lại nói:

– Nó hồi nhỏ tên tộc là A Xảo, chỉ có tôi biết mà thôi. Tôi với nó có oán hận chi đâu mà tôi ghét cái thứ giả ngay như vậy lắm, nên tôi nói cho hả hơi kẻo để vậy họ khen nó hoài tôi tức lắm.

Đắc Công nghe nói mấy lời bộ mừng tỷ như mất đồ mà kiếm đặng vậy! Chỉ thấy nàng ấy đốt hương niệm Phật, quì lạy vái van. Kỉnh An mắc đứng đàng xa nói trỏng rằng:

– A Xảo! A Xảo! Dưỡng hớn tái tiếu, đắc tận khí cựu, thượng huê bất tiểu. (Nghĩa là A Xảo A Xảo, nuôi trai lấy chồng, đặng mới bỏ cũ, đắm sắc chẳng vừa).

Nói rồi cười ha hả.

Đắc Công đứng núp trong đám đông người dòm lén mà coi, chỉ thấy Nga Thơ quì trước bàn Phật lâu quá mới dậy, mà bộ mặt có sắc thẹn thuồng, kêu tiểu đạo đốt đồ rồi ra về một nước.

Kỉnh An trong lòng vui lắm, lại cười với Đắc Công mà nói rằng:

– Sao, thấy tình hình như vậy, coi mấy lời tôi nói trước đó có đáng tin chưa?

Đắc Công gặt đầu mà rằng:

– Người đời chẳng nên xem tướng mạo mà tin. Tôi không giấu chi anh, tôi với Tác Dân là anh em bạn thiết, mà Tác Dân chết tức quá, lòng tôi không yên, phiền cùng anh có thấy chỗ chi cao xa xin bày dùm cho tôi cũng như vẹt tranh ở lấp vậy.

Kỉnh An lắc đầu mà rằng:

– Không! Không! Chỗ tôi biết bất quá là biết trước nó có lấy trai mà cái tài giấu diếm nhẹm nhẽ là hay lắm, chớ còn việc nào khác nữa thiệt tôi không biết đẵng. Ví như việc giết chồng hại mạng, không lẽ nó làm tới điều đó, xin thầy chớ nghi. Thôi nói chuyện đã lâu, xin kiếu, sau sẽ gặp nhau nữa.

Nói rồi cúi đầu từ giã ra đi.

Đắc Công chừng đó trong lòng có hơi mừng một chút mà cũng còn rầu. Mừng là mừng biết đặng duyên cớ gái ấy là bất trinh, dọ thăm cũng dễ. Rầu là rầu Kỉnh An là người hay nói cợt, pha lửng, chẳng dám cậy việc đó. Vậy kiếm Hữu Luân mà bàn tính thử coi rồi mình tới nhà mà ở đặng dọ tình tứ cho dễ. Tính rồi bèn kêu Hữu Luân biểu Hữu Luân mua đồ cho Trần thị, rồi Đắc Công dọn đồ về nhà họ Huỳnh mà ngụ.

Hai vợ chồng Nga Thơ kỉnh trọng cũng tử tế. Đắc Công cả năm hay đi nhiều chỗ, thấy việc đời nhiều, bữa nào cũng nói chuyện nầy chuyện kia, mẹ chồng nàng dâu lóng nghe vui vẻ lắm.

Thiệt là:

Mình độc hãy còn người độc nữa,

Mưu sâu lại có trí sâu hơn.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án: 05 – Hồi thứ năm

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Nguyễn Viên Kiều - Kinh nhơn kỳ ánNguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án

Châu Nga Thơ giấu thây cải giá,

Huỳnh Đắc Công vì bạn trừ gian.


Tác giả: Nguyễn Viên Kiều

Bút hiệu: Lão Ngạc

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Kinh nhơn kỳ án – Hồi thứ năm

Kể gần ngày cúng tuần cho Tác Dân, Nga Thơ lo làm tuần tự xong rồi bèn thay đồ kiết phục. Đến ngày cưới có làm tiệc đãi đằng chòm xóm bà con. Trong bà con bàn luận cùng nhau, kẻ thì nói để coi Nga Thơ lựa chồng nhơn vật ra thể nào.

Có người nói:

– Các người không biết sao? Chồng sau đây là con thứ của Trầm Triệu Thù tên là Trầm Cẩm Đường, người đó đi học bên Hàng Châu mới về. Học có tài nhà cũng có của, mà tiếc cho Cẩm Đường không biết …

Người ấy nói vậy rồi nín không nói khúc sau, lại nói:

– Nga Thơ chẳng lấy chồng thì thôi, bằng lấy chồng thì lấy Trầm Cẩm Đường chớ ai.

(Nếu nói như vậy thì ắt có người tri tích).

Nói về Trầm Cẩm Đường từ về nhà họ Huỳnh những sau, thiệt là người mới vật xưa, ân tình mỹ mãn, chẳng cần tỏ hết làm chi. Nga Thơ nói chỗ phòng cũ là chỗ bị oan hồn, nên không chịu ở đó bèn dời chỗ khác. Mà Cẩm Đường cũng thảo kính mẹ chồng của vợ như mẹ đẻ mình vậy.

Đến năm thứ hai, hai vợ chồng đi tảo mộ thì bị thiên hạ chê cười nhục nhã. Từ đó đến sau ở trong nhà hoài mà rì rịch chẳng dám đi đâu. Vì đi ra thì người ta nói hồi chồng mới chết làm bộ thủ trinh với chồng, đòi chết theo chồng, ai dè mới có một năm đã có chồng khác.

Nguyên Huỳnh Tác Dân hồi nhỏ có một người bạn thiết tên là Huỳnh Đắc Công, tuy một họ mà chẳng bà con, vì ý hiệp tâm đầu mà mến ưa nhau lắm. Đắc Công học giỏi thi đậu tú tài, đi du mộ tha phương một năm về chừng một lần, mà hễ có về thì ghé thăm Tác Dân trước hết. Mỗi khi ghé thăm thì Tác Dân đãi đằng trọng hậu lắm.

Trần bà thấy bạn của con như vậy cũng vui lòng lo chạy mà đãi đằng nên Đắc Công cảm niệm hậu tình mong để có ngày mà báo đáp. Khi Đắc Công ghé nhà Tác Dân mà thăm trước, ai dè ghé vừa tới cửa thấy có một người trai lạ thì Đắc Công bợ ngợ muốn xin lỗi mà lui.

Người ấy lại hỏi Đắc Công rằng:

– Phải kiếm thăm Tác Dân chăng?

Đắc Công nói phải. Người ấy mới thuật chuyện Tác Dân đã thác, mình vào làm rể mà thế Tác Dân.

Đắc Công nghe vậy thì than thở không cùng, bèn vào nhà mà lạy thăm bá mẫu. Có đam lễ vật cho rồi hỏi thăm bịnh nguyên của Tác Dân đau làm sao mà thác?

Trần bà tỏ lại, Đắc Công chẳng xiết buồn rầu. Đắc Công nói rằng:

– Anh cậy tôi kiếm công việc cho anh làm ăn, đã mấy năm mà kiếm không đặng nay kiếm đặng rồi thì anh lại thác đi, thiệt lòng tôi đau đớn quá.

Trần bà lại đam chuyện cưới dâu con thác, dâu hiền, con tạm sau cũng thảo nói hết cho Đắc Công nghe. Rồi kêu dâu và con tạm ra cho hai đàng biết nhau, rồi cũng kêu nhau bằng anh em vậy. Đắc Công lấy bạc sai đứa tùy hành đi mua tế vật về cúng điếu Tác Dân, quì trước bàn thờ khóc kể nhiều câu tha thiết.

Huỳnh Đắc Công khi cúng lễ mà kể rằng:

– Huỳnh đại ca ôi! Khi sanh tiền chẳng lo việc gia nghiệp để nay nằm xuống thì gia thế đã tiêu điều. Em những mảng lo chạy Sở chạy Tần, anh có bịnh em không đặng thấy mà giúp đỡ. Anh lại chẳng hay chống cự với đồ oan quỷ, để cho đến đỗi bỏ mẹ già bữa đói bữa no. Nay chị dâu tôi lấy chồng khác đem về nhà mà nuôi mẹ già cho anh, dẫu cho khỏi đói lạnh đi nữa, anh lại an nơi chín suối hay sao? Tôi với anh là tình nghĩa đậm đà chẳng kém bạn vườn đào thuở trước, mà khi sống tôi không đặng giúp anh nên, khi thác không đặng lo cho anh trọn vậy tôi cũng hổ thẹn trăm bề. Cái trách nhậm của tôi phải làm sao cho rõ sự chết oan của anh thì tôi mới chuộc đặng cái tội hơ thờ của tôi thuở nay đó.

Kể rồi khóc rống ồ ồ, Trần bà, Nga Thơ, Cẩm Đường nghe cũng động lòng đều rơi nước mắt! Mà Nga Thơ và khóc và đập đầu vào cột tức tối mà rằng:

– Người thác kia có hay cho chăng, vì lo nuôi mẹ mà ra lỗi cho tôi, hễ vợ chết đói thì phải cam thất tiết.

Kể rồi khóc lóc rồi kể tỏ ra nhiều cách thảm thiết vô cùng, coi dường như muốn tìm kế mà thác vậy, làm cho Đắc Công ngồi cũng không yên. Nhờ Cẩm Đường và Trần bà hết sức khuyên giải mới thoảng bớt.

Trần bà hỏi Đắc Công rằng:

– Vậy cháu về đây đồ hành lý để đâu? Như chưa về nhà thì đem lại đây, có nhà bỏ không đó cháu ở đỡ cũng đặng.

Đắc Công thưa rằng:

– Cháu gởi hành lý nơi nhà quen của cháu để cháu tính coi, về ở lẽ nào rồi cháu sẽ thưa cho bác rõ.

Nói rồi từ giã ra đi.

Khi Đắc Công ra khỏi nhà Trần bà đi đặng một đỗi mà trong lòng bứt rứt không yên, xảy nghe có tiếng kêu:

– Huỳnh lão gia đi đâu lật đật dữ vậy?

Đắc Công quày đầu ngó lại thì thấy người bạn học cũ là Ngô Hữu Luân. Ngô Hữu Luân là người hay làm việc cà rỡn, bỏ nghề khoa cữ, cứ theo công việc kiện thưa, bày mưu chúc cữ chuyện vặn vặt cho người trong làng xóm đặng no say rượu thịt thì thôi. Đắc Công gặp mặt cũng thường có châu tế; cho nên nghe Đắc Công về ở nhà Tác Dân thăm Tác Dân nên Hữu Luân tới thăm Đắc Công, may gặp giữa đàng trong lòng hớn hở.

Hữu Luân nói:

– Lâu gặp người hảo tình xin mời vào tiệm nhậu ít chén cho thỏa lòng cửu niệm.

Khi vào tiệm dùng đặng vài chén thì Hữu Luân hỏi rằng:

– Lão gia chuyến nầy cũng ở nơi Huỳnh gia hay ở đâu?

Đắc Công than rằng:

– Tôi đi hơn một năm nay không về, việc người đà đổi cảnh hết rồi! Nhà Huỳnh gia đã mất một người mà thêm đặng hai người, tôi coi bộ đó có sự lạ kỳ, mà chuyện chết của Tác Dân cũng quái lắm. Nói nhảy xuống sông mà chết sao thây chẳng nổi lên? Chàng cũng có quen với Tác Dân mà Tác Dân là bạn nhứt của tôi, chàng có biết chi cho tôi hay, tôi sẽ phân oan cho bạn tôi kẻo ức.

Nói rồi biểu đem đồ ăn thêm, Đắc Công khuyên Hữu Luân cạn chén. Hữu Luân bị rượu vào hừng chí bèn nói với Đắc Công rằng:

– Lão gia soi lòng tôi rõ lắm, mấy năm thiếu thốn cũng nhờ có lão gia châu truyền, nay lão gia hỏi việc chi tôi biết mà lại giấu sao phải. Vả Tác Dân chết thì nghe cũng lạ mà ai có thấy mới tin. Chết mà không thây nổi đó là bị cá ăn. Hôm trước đây có một người nông phu chết chìm cũng bị cá ăn thây kiếm không đặng. Theo thế thường thì nghi cho Cẩm Đường với Nga Thơ có tình chi trước mà sanh ra sự nầy, chớ mắt tôi thấy thiệt không có. Hồi Tác Dân chết thì Nga Thơ quyết chết theo, người nầy cản, kẻ kia khuyên, mẹ chồng khóa an ủi hết sức mới nguôi bớt. Còn sự lấy Cẩm Đường cũng là nơi bà lão khuyên ép, nếu không quyền biến thì chết đói còn gì. Từ ngày Cẩm Đường vào nhà ấy thì mới là no ấm.

Đắc Công nói:

– Chú thiệt là ngu quá, thấy vậy mà tin ngơm ngớp có biết chuyện bí mật của người ta là sao. Lúc tôi về vừa đến cõi nầy, thiên hạ người ta kêu tôi là Võ Đô Đầu. Võ Đô Đầu có phải Võ Đô Đầu là kẻ báo thù về việc dâm phụ chăng?

Hữu Luân nói:

– Việc ấy không nên tin lắm, vả Tác Dân giữ phần tế sản, trong tộc không đặng vào nhà đó, lại với lấy người ngoài cho nên lời tạo ngôn ganh ghét của miệng người, chớ việc ấy thiệt không bằng cớ.

Đắc Công nói:

– Tôi có một đêm kia chiêm bao thấy Huỳnh Tác Dân nằm trên đống máu, tôi thức dậy thì hoảng hốt tinh thần. Tôi chắc là Tác Dân chết không minh bạch cho nên mới có điềm chiêm bao như vậy.

Hữu Luân chưa kịp trả lời, Đắc Công lại nói nữa rằng:

– Tôi cùng Tác Dân là bạn thân mật mà người chết vô cớ như vậy, tôi không lẽ bỏ qua. Vậy chú theo tôi tìm kiếm sự tích, mỗi ngày mỗi đi nói chuyện ấy hoài mà ghẹo miệng người, tôi chịu sở phí cho mà xài, chừng tình án minh bạch tôi sẽ trọng tạ. Tôi có cái tâm lý như vầy, tôi xin hỏi chú, chú phải nói cho thiệt! Một là Tác Dân nhảy xuống sông sao Châu thị không kêu người vớt. Hai là châu thị sao chẳng dạng buồn rầu. Ba là Trầm Cẩm Đường là con nhà giàu; cớ nào mà chịu lấy gái lại giòng mà chịu ở theo quê vợ. Hai người việc cử động dường như tình thiết đã lâu.

Hữu Luân nói:

– Tác Dân nhảy xuống sông rồi, Châu thị mượn người lặn vớt biểu kiếm hai ba bận mà không đặng, vì nước sâu sông rộng minh mông không biết ảnh hướng mà tìm. Từ ngày Tác Dân chết rồi, Châu thị đòi chết theo chồng không biết mấy lần, có xóm giềng đều thấy việc ấy rõ ràng. Còn Cẩm Đường là người có chất có văn, không lẽ tàn nhẫn đến giết người như thế. Vả từ Cẩm Đường về nhà đó thì trong họ ganh ghét kiếm chuyện nói gièm, rồi ra những chuyện sanh nghi. Nếu lão gia chẳng tin, hỏi lại chòm xóm thì rõ.

Đắc Công kiếm không ra cớ thì uất ức trong lòng, ngẫm nghĩ một hồi nói rằng:

– Ừ, chú nói Tác Dân ở trong phòng nửa đêm phát cuồng cầm dao phay mà chạy. Tôi hỏi chú trong phòng nửa đêm sao có dao phay?

Hữu Luân gặt đầu mà rằng:

– Lão gia thiệt kỹ lắm, việc đó tôi cũng có sợ. Vậy xin hỏi lại lão bà thì biết nguyên ủy.

Đắc Công nói:

– Phải! Song tôi đến đó mà hỏi động tới vợ chồng nó sanh nghi đi, chi bằng kiếm chuyện mời lão bà ra ngoài mà hỏi mới tiện.

Hữu Luân nói:

– Cái chuyện ấy dễ lắm, gần tới ngày mùng tám tháng tư đây, lão bà lên chùa Quan Âm cúng Phật. Lão gia lên đó chơi rồi hỏi lão bà các cớ thì biết.

Đắc Công tính trả tiền rượu rồi hai đàng từ giã.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án: 04 – Hồi thứ tư

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Nguyễn Viên Kiều - Kinh nhơn kỳ ánNguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án

Châu Nga Thơ giấu thây cải giá,

Huỳnh Đắc Công vì bạn trừ gian.


Tác giả: Nguyễn Viên Kiều

Bút hiệu: Lão Ngạc

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Kinh nhơn kỳ án – Hồi thứ tư

Qua một ngày sau lo kiếm vớt mà cũng không tông tích. Còn Nga Thơ thì nhào lộn hoài đòi nhảy xuống sông mà thác theo chồng đà chẳng biết mấy lần mà mẹ chồng khuyên mà người xóm giềng cũng cản. Cùng thế rồi mẹ con và xóm giềng dắt nhau về.

Nga Thơ lo để tang và chiêu hồn cúng tế. Lối xóm ai nấy đều khen mà than rằng:

– Thiệt người rất nên tiền tiếu, ở trọn đạo với chồng cùng mẹ chồng. Số mạng gì mà chịu những rủi ro, cùng Tác Dân duyên nợ mới sáu tháng trời, nay đã chịu cô hoang vắng vẻ. Tuổi còn xuân quá mà con cái cũng không, rủi khi mưa nắng không chừng, ở vậy một mình mà thủ tiết thì không kham, mà người như vậy lấy chồng cũng ngặt. Thiệt rất thương thay! Rất tội nghiệp thay!

Ai thấy sự thống khổ của hai mẹ con đều động lòng cả thảy. Trời xanh như có mắt, có lẽ đâu mà xui khốc hại cho người lại.

Thiệt là:

Những lời công luận ai rằng chắc,

Nghĩ việc thiên cơ cũng khó ngừa.

Nga Thơ từ ngày thành phục những sau thờ kẻ khác, nuôi người sống, đủ ngăn hết tình trọn lễ. Người chòm xóm bàn việc đời cùng nhau rằng:

– Nàng ấy tuy là hiếu thuận song chồng chết tuổi còn trẻ quá không thế nào ở vậy đến già. Huống chi Huỳnh Tác Dân cũng là nhà tầm thường, nàng dẫu cải giá cũng không chi là khó.

Cách vài tháng có người đến nói, Nga Thơ trả lời quyết tuyệt không chịu lấy chồng. Có lời nói rằng:

– Phận tôi đây chồng chết mà tôi chưa chết theo là vì còn lo cung phụng mẹ chồng tôi, như ai ép tôi cải tiết thà tôi một thác cho tròn chí cả.

Làm cho mấy người mai mối chắt lưỡi ra về.

Vả chăng Huỳnh Tác Dân khi còn sống, chỉ nhờ sự sản của ông cha để lại chút đỉnh chẳng có bao nhiêu. Từ ngày cưới vợ cho đến thác tan, rồi mấy năm ngồi vậy mà ăn dầu cho nước cũng phải khô, núi cũng phải lở. Nhờ có kẻ thiện sĩ trong xứ bố thí cho những người côi vá, vì vậy ba tháng đặng lãnh mấy hộc gạo trắng mà dùng. Nga Thơ mỗi ngày lo may vá kiếm tiền mua ăn đắp đỗi củng đủ.

Rủi thay! Chẳng bao lâu thiện sĩ ấy khuất đi, Nga Thơ tuy may khéo mặc lòng mà xứ ấy người chất kiệm thiệt thà, ít ai mướn cho lắm, cho nên phải hụt phải thiếu. Tiếng khuyên lấy chồng mỗi ngày mỗi có mà Nga Thơ cũng cứ như lời trước nằn nằn chẳng chịu lấy chồng.

Mẹ chồng buồn rầu bèn khuyên dâu rằng:

– Mi vì ta mà thủ tiết, nhà có tiế phụ là có phước nhà chẳng những là chồng mi an lòng mà thôi, tổ tông ta nơi suối vàng cũng vui dạ. Ngặt có một điều ta thì già, ăn không có đồ ăn thì chẳng no, mi may thêu thì ăn chẳng đủ. Huống chi mi còn trẻ lắm ở vậy dễ sao. Chi bằng phải chịu tùy cơ, có lấy chồng thì giao về ở một nhà. Một là mẹ đặng ấm no, hai là coi khỏi vắng vẻ. Ấy là tại mẹ định liệu chẳng phải tại mi. Người xưa có nói rằng “Nghe lời cha mạ là thảo, kẻ thác nó cũng hay”. Ta tình cho chẳng quái lạ chi, nếu sau mi đặng có con thế cho đứa thác kia mà giữ gìn lửa hương cho mẹ. Nếu con chấp nê chẳng theo như vậy, ắt mẹ con ta phải chết đói chớ chẳng không, chừng đó con ăn năn mẹ e đã muộn lắm.

Trần bà cứ nói ngày nói đêm, làm cho Nga Thơ xiêu lòng, lần lựa ít ngày có mai đến nói.

Trần bà không chịu chủ trương việc gả để cho dâu lựa chọn mặc tình mà ưng chịu. Khi ấy Nga Thơ nói hễ ai ưng chịu thì phải ở nơi nhà họ Huỳnh cho chung mãn đời mới đặng.

Theo phép bên Tàu, hễ chồng chết thì thủ tiết trọn đời, bằng gia thế tầm thường hoặc có sự bứt rứt phải lấy chồng khác thì phải lấy anh em trong họ người nào không vợ, đặng về ở nhà đó mà gìn giữ gia cang cho người thác, đặng nối giữ lửa hương, chớ đàn bà ấy không đặng tự chủ lấy người ngoài khác. Cho nên khi Tác Dân chết rồi, anh em trong họ có ý chực Nga Thơ cải giá đặng có lãnh mà làm chồng.

Té ra Nga Thơ cứ thủ tiết như Cung Khương làm cho mấy trai kia đều thất vọng. Nay Nga Thơ lại vời người ngoài vào nhà làm chủ thì buồng giận vô cùng nên xúm lại hỏi tra coi ý nào mà lạ vậy?

Nga Thơ nói:

– Không phải cố lấy chồng. Cố lo nuôi mẹ chồng cho no ấm nên phải vậy. Nếu nội trong họ anh em bất kỳ ai, hứa chịu châu cấp việc nhà cho đủ, nuôi mẹ chồng tôi cho thường thì tôi ưng người trong họ không ưng ngưới khác.

Vả anh em họ Huỳnh đều là người nghèo khó, có ai có của mà chịu cho nổi sự ở không mà ăn. Vì vậy cho nên phải chịu nhịn thua nhượng cho Nga Thơ lấy ai thì lấy.


Còn tiếp.

Related Images:

 

Nguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án: 03 – Hồi thứ ba

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Nguyễn Viên Kiều - Kinh nhơn kỳ ánNguyễn Viên Kiều – Kinh nhơn kỳ án

Châu Nga Thơ giấu thây cải giá,

Huỳnh Đắc Công vì bạn trừ gian.


Tác giả: Nguyễn Viên Kiều

Bút hiệu: Lão Ngạc

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Kinh nhơn kỳ án – Hồi thứ ba

Trần thị là đờn bà góa, lại có một con, thầy bói đi rồi, mà còn đứng đó nói khan rằng:

– Biết chước chi mà cứu con tôi cho khỏi hại?

Nga Thơ đưa thầy bói ra đường rồi trở vô cũng làm tuồng kinh hãi, dã dượi, buồn rầu. Mặt ngọc của Nga Thơ ủ ê giống nhành xuân sương nặng. Mẹ chồng đứng ngẩn ngơ mà ngó, Nga Thơ thì lấy khăn lau giọt lệ không ngăn. Bỗng đâu Huỳnh Tác Dân chạy về ôm đầu mà nhào và nói nhức đầu quá chịu không đặng, chạy nhào trong phòng mà nằm, kêu mẹ cho nước uống khát lắm. Nga Thơ thì lo ôm chồng, Trần thị thì lo thắp nhang ngoài bàn thiên tỉnh quì lạy cầu Quan Âm bồ tác cứu mạng cho con mình.

Thiệt là:

Có việc không lo việc.

Cầu chúc chuyện bao đồng!

Nói về bịnh thế của Huỳnh Tác Dân chứng rất kịch liệt hung mãnh, mắt đỏ mặt hồng, uống nước như lừa uống hết chén nầy kêu chén khác, hết chén khác lại kêu chén khác nữa, Nga Thơ nấu đà không kịp.

Trần thị vào phòng hỏi thăm căn bịnh, Tác Dân trùm mền không cho giở ra cho mẹ thấy mặt, cứ nhào lộn hoài, đến tối bịnh càng thêm nặng, Trần thị mượn người lối xóm đi rước thầy thuốc. Thầy thuốc đến hỏi bịnh tích thể nào, thì mới hay sớm mai còn mạnh, ăn cơm rồi đi thăm anh em bạn, đương ngồi nói chuyện trong bụng không yên, bèn kiếu mà về bịnh càng làm tới.

Người lối xóm nói:

– Bịnh vậy chắc là mắc tà khí chớ chẳng không?

Trần thị nói:

– Tôi chắc khi có vậy.

Rồi nói luôn chuyện thầy bói đoán cho thầy thuốc và người xóm nghe. Người xóm chắt lưỡi liền liền mà than tội nghiệp.

Thầy thuốc nói:

– Bị thu ôn bịnh lại cảm thử cũng nặng, sợ khi đây rồi phát cuồng, phải giữ gìn cho lắm, không nên thủ thừa. Bây giờ bịnh mới phai mãnh liệt quá, mà coi không đặng nên chẳng dám đầu thang, để dịu bớt sáng mai sẽ coi mạch cho thuốc.

Nói vậy rồi về.

Đến canh hai, quả Tác Dân phát cuồng, nghiến răng trẹo trẹo, la hét om sòm, hồ ngữ loạn ngôn cho là quỉ bịnh, luôn vậy tới ba đêm. Ban đầu còn có người ở xóm giúp đỡ thức giùm. Bịnh lâu nhiều ngày người cũng mỏi. Đến đêm thứ ba có hai mẹ con mà thôi. Nàng dâu năn nỉ mẹ chồng đi ngủ, để cho mình thức giữ chồng, mà mẹ chồng thì chẳng đành đi ngủ.

Vì già yếu, phần nhiều đêm mê mệt, tới nửa đêm Trần thị phải nằm, thức nữa không kham. Phần già, phần mệt cũng tỷ như ngọn đèn khuya ra gió. Nằm xuống thì mê như chết, không biết không hay. Xảy thấy ghế ngả bàn xiêu, đồ đạc bể hết. Nga Thơ ở phía sau đập cửa mà la inh ỏi, kinh động giấc chiêm bao.

Vừa tỉnh lại nghe nàng dâu và khóc và nói:

– Mẹ ôi! Lại cho mau, bịnh nó phát cuồng nó muốn giết tôi đây nè, may tôi trốn khỏi chạy thoát ra cửa sau đây.

Lối xóm nghe la cũng đều kinh tỉnh. Trần thị mới thức dậy con mắt lem nhem vô phòng thấy mùng chiếu tanh bành nghinh ngang bèn lại mở cửa sau ra, lúc ấy nhằm lối mười bảy mười tám tháng chín, nên có trăng cũng thấy mờ mờ. Thấy con đầu bỏ tóc xõa, tay xách dao phay mà cứ việc chạy mãi.

Ngả nhà Tác Dân phía sau đất trống có lúp xúp ít đám dâu. Ngoài đám dâu có một cái đìa, ngoài cái đìa có một hòn núi. Người bỏ tóc xõa chạy trước, Trần thị cứ chạy theo sau kêu con ơn con hỡi, trở lại bớ con!

Nga Thơ cũng chạy theo ôm đỡ mẹ chồng và cũng biểu đừng kêu nó trở lại nó chém tôi đa. Người lối xóm theo hỏi thì Nga Thơ thuật chuyện phát cuồng. Mấy người lối xóm chạy theo thì thấy Tác Dân và chạy và múa; ai kêu mặc ai chẳng thèm ơi hử!

Trần thị khóc mùi mẫn mà than rằng:

– Thiệt mắc oan quỉ bắt rồi, con tôi chắc chết.

Nói rồi chạy theo, Nga Thơ cản không đặng.

Có vài người có gan mà có lòng tốt cũng bốc chạy theo. Bịnh nhơn thấy có người theo lại càng chạy lắm, chạy đến miếng rừng rồi không thấy nữa. Chỉ nghe bên mé rừng có tiếng nước sông đánh. Tìm đến nơi thì thấy một dòng nước bích, ngàn trượng minh mông, tìm theo mé sông thì gặp dấu chưn mới bước đó.

Trần thị khóc lóc cầu bà con chòm xóm cứu dùm, mà mắc nước sâu, phần ban đêm biết làm sao đặng. Bèn hối nhau về lấy đèn đốt đặng coi dấu cho rõ ràng. Khi có đèn coi thì các người trong xóm kiếm đặng một chiếc giày. Trần thị coi lại thì thiệt là giày của con đã quá.

Nếu vậy thì nó đã nhảy xuống sông chết rồi nên bỏ giày lại đây!


Còn tiếp.

Related Images: