Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 28: Chung

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 28: ChungHồi thứ 28:

Dọn Tùng đình phối hiệp cuộc nhơn duyên,

Lập miễu võ để thờ người trung liệt


 Ghi chú từ người đánh máy:

Tác phẩm này sáng tác vào những năm đầu thế kỷ 20, khi đó chữ Quốc Ngữ đang được hình thành. Do đó cách dùng từ và cách dùng dấu hỏi – dấu ngã khác so với hiện đại.

Để tránh việc hiểu sai “lỗi chính tả” cho các bạn trẻ, người đánh máy xin được “sửa lỗi chính tả” cho giống ngày nay. Đồng thời xin được đính kèm hình chụp Bản In Gốc do Thư viện Quốc Gia Việt Nam số hóa. Qua đó độc giả dễ dàng tìm hiểu – so sánh sự khác biệt, thay đổi của chữ Quốc Ngữ trong gần 100 năm qua.

Hình chụp Bản In Gốc năm 1926


Khi Bạch Thu Hà liều mình tự tử rồi, thì tên đội trưởng ở tại Tùng đình thấy vậy liền báo tin cho quan Tư sự hay, tức thì quan Tư sự bổn thân đến nơi, khán nghiệm thi hài xong rồi, liền viết một biểu chương đặng báo cáo sự ấy cho Hoàng thượng rõ, và biểu đội trưởng coi lo tẫn liệm Thu Hà rồi để riêng linh cữu nơi một nhà kia cách xa Tùng đình chừng trăm thước, và quàn đó mà chờ lịnh.

Đây nhắc lại khi đạo binh tả dực của ta đã đến cứu viện, và các đạo binh kia cũng đều kéo tới tiếp ứng, rồi hỗn chiến một trận với binh Mãn Châu rất dữ dằn, làm cho binh nó đánh không lại, đều kéo nhau chạy tan, chẳng dám xâm lấn bở cõi như khi trước nữa.

Lúc giặc yên rồi, Hoàng thượng bèn hạ lịnh kéo binh về Lạng Sơn, rồi mở tiệc khao binh thưởng tướng. Kế có quan Tư sự bước vô ra mắt Hoàng thượng, và dưng một biểu chương tâu về việc Bạch Thu Hà tự tử, linh cữu còn quàng một bên Tùng đình, và xin Hoàng thượng liệu lượng lẽ nào, đặng định ngày an táng.

Hoàng thượng xem biểu chương rồi thì giậm chơn chắt lưỡi và nói: Trước khi đánh giặc Võ Đông Sơ có gởi cho trẫm ngự bút tứ hôn, kế gặp lúc can qua chinh chiến, vì vậy nên trẫm chưa kịp định cuộc nhơn duyên cho hai đàng, chẳng dè ngày nay Thu Hà lại vì chồng mà tự tử, thật đáng khen cho nàng là một gái tiết hạnh trung trinh, trong đời ít có. Nói rồi day lại hỏi quan Lễ bộ thượng thơ rằng: Theo ý khanh thì việc ấy phải liệu định lẽ nào?

Lễ bộ thượng thơ tâu rằng: “Theo ý thần hạ thì Võ Đông Sơ với Bạch Thu Hà tuy là gá nghĩa nhơn duyên, kết tình chồng vợ, nhưng mắc bị lưu lạc giang hồ nên chưa tính đặng việc hôn phối cho rõ ràng minh bạch, nay Thu hà đã giữ một lòng trinh liệt mà thác theo Đông Sơ đặng cho trọn chữ ân tình, thì cũng là một người đờn bà đáng phong đáng ngợi.

Vậy thì xin Hoàng thượng ngự bút tứ hôn theo lời Đông Sơ đã xin khi trước. Ngỏ cho hai người đặng danh tiết rỡ ràng, và cho khỏi miệng đời ngày sau dị nghị.”

Hoàng thượng nghe rồi gặt đầu, tức thì truyền cho Lễ bộ lập một tờ kiết nhận hôn thơ, rồi Hoàng thượng ngự bút chứng phê, và sắc phong cho Võ Đông Sơ là Võ Hiền Hầu, phong cho Bạch Thu Hà là Tiết liệt Nhứt phẩm phu nhơn, còn Triệu Dõng cũng đặng sắc phong là Khing xa Trung húy, đó rồi biểu Lễ bộ Thượng thơ lo sắp đặt các việc tang chế cho hoàn toàn và định ngày tống táng.

Bữa nọ quan Lễ bộ Thượng thơ truyền cho quân nhơn dọn dẹp Tùng đình sạch sẽ, và chưng bông thắt tụi, đèn đuốc rỡ ràng, liễn cẩn màn thêu, treo coi rực rỡ, đó rồi truyền đem linh cữu Bạch Thu hà về để một bên linh cữu của Võ Đông Sơ và bảo lấy hai cây gấm đỏ và hai vóc lụa điều phủ trên quan tài, xem như một đám cưới kia, chàng rể với nàng dâu, kẻ áo đỏ người quần điều, hai gã song song ra giữa từ đường mà phối hiệp lương duyên đó vậy, lại thấy giữa Tùng đình màn treo trướng xũ, đèn thắp sáng trưng, thắt tụi kết bông, xem tợ một chỗ động phòng hoa chúc.

Kế đó quan Lễ bộ Thượng thơ ra đứng trước hai linh cữu và đọc tờ Hôn thơ của Hoàng thượng ngự bút tứ hôn như vầy:

” Nghe rằng:

Có ly loạn mới rõ tôi hiền chúa thánh, gặp gian nguy mới biết vợ nghĩa chồng tình.

Trai như Đông Sơ, đáng một trai khí phách anh hùng; gái như Thu Hà, vẫn một gái trung trinh liệt nữ.

Đã lắm lúc giang hồ lưu lạc, cũng giữ một niềm son sắt chẳng nguôi lòng.

lại nhiều phen tai nạn dập dồn, cũng gìn một nghĩa keo sơn không đổi dạ.

Lời thệ ước lời xưa đã nặng, phú thân danh chứng có đất trời.

Nghĩa tóc tơ nghĩa cũ còn ghi, đem vàng đá liều cùng mạng vận.

Xét những lúc non cao vực thẳm, cũng nguyện cùng nhau sanh tử giữ đồng.

Nghĩ cho khi én lạc nhàn xa, cũng quyết một dạ thỉ chung như nhứt.

Rủi cho Đông Sơ, gặp lúc nước nhà hữu sự, nên khiến ra duyện phận lỡ làng.

Thương thay Thu Hà, vì cơn mạng vận đảo điên, xui đến nỗi sắc cầm lỗi nhịp.

Trai địch khái, chiến trường vẫn mạng, phận kim cung đã rõ mặt đứng trung thần.

Gái thuyền quyên vị nghĩa quyên sanh, lòng khẳng khái cũng nên danh trang liệt nữ.

Xét cho tột âm dương đồng nhứt lý, sống nhơn duyên thì thác cũng nhơn duyên.

Nghĩ mà coi nam nữ hệ thân tình, trước chồng vợ há sau không chồng vợ.

Vậy nên, nay lập hôn thơ một bức, đặng định duyên phận đàng,

Trước đặng câu danh tiết rỡ ràng, sau khỏi tiếng thị phi dị nghị.

Vậy thì phong cho hai gả phu vinh thế quí, gối du tiên một giấc phỉ tình chung.

Phán cho hai hồn sanh thuận tử an, miền vân hạc ngàn năm vầy trướng phụng.”

Đoc rồi thì thấy trước linh cữu, màn bay phất phất, đèn chớp lòa lòa, dường như hai hồn nay đặng phối hiệp lương duyên thì trong trướng mừng rỡ bước ra, mà cảm ơn Hoàng thượng, đó rồi hai bên các quan ai nấy thấy vậy cũng đẹp lòng và đổi buồn làm vui, truyện trò hớn hở.

Bữa nọ trong lúc canh tàn gà giục sáng, gương ác rựng hồng, hột sương mai còn mờ mít trên không; chim thức bạn đã liếu lăng bên nhánh, bỗng thấy trước Tùng đình nhán ra một ánh hào quang chớp sáng, và phun lên một lằn khói mịt mù, kế nghe ba tiếng súng đại bác thần công, phát ra đùng đùng như trời gầm sấm nổ, lại nghe ba hồi đại cỗ, một chạp mã la, hai tiếng hòa nhau, giọng nghe rền rĩ, dường như nó kêu người mà báo tin cho biết rằng: Giờ ấy là giờ động quan, ngày nay là ngày tống táng đó vậy.

Kế thấy một đội nhạc binh đi trước, trống kèn inh ỏi, sáo quyễn rập rình, kế đó một đạo võ lâm quân kéo theo, mỗi người đều cầm cờ tang, sắp đi hai hàng, xem rất tề tề chỉnh chỉnh.

Kế thấy bên hữu thì linh cữu Võ Đông Sơ, bên tả thì linh cữu Bạch Thu Hà, tàng che bốn phía, trướng xũ xung quanh, một cặp song song, khiêng đi tề chỉnh.

Kế nữa thì Hoàng thượng ngự giá tống hành, với văn võ bá quan đều áo mão nghiêm trang, đi có lớp lang thứ tự, lại có một đạo binh mã kỵ, rút gươm dàn hầu theo sau mà hộ giá Hoàng thượng, còn hai bên đường nào là trẻ già lớn bé, dắt đến xem coi, nào là xe ngựa nhộn nhàn, đón đưa chật nức, thật là một đám tang có thể thống nghiêm trang, xem rất vinh vang trọng thể.

Khi đi tới núi kia, thì thấy một tòa miễu võ, mới cất dựa gò cao, đồ sộ nguy nga, tàng cây mát mẻ, trước cửa có treo một tấm biển sơn son thếp vàng và chạm bốn chữ: Công thần võ miếu”.

Phía sau thì thấy xây một vòng sơn ly thạch trụ, có chạm hi2nhsu7 tử kỳ lân, chính giữa lại xây một cái huyện đều cẩn đá xanh, tư bề rộng rãi, và phía trước dựng một tấm mộ bi cao lớn. Có khắc một hàng chữ như vầy:

“Trung liệt song phần, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà chi mộ”.

D(ó rồi khiêng hai linh cữu đem vô đển giữa miễu đường, tế lễ xong rồi, đem ra chôn chung một huyệt; còn trong miễu thì lập ra ba bàn hương án, một bàn thì thờ Đông Sơ, một bàn thì thờ Thu Hà, và một bàn nữa thì để thờ Triệu Dõng và cất một nhà hậu sở để cho Triệu nương và thể nữ Xuân Đào ở đó sớm tối phụng thờ, mỗi tháng vua có câp bổng phát lương, đặng giữ việc lửa hương tế tư.

Còn hai bên thạch trụ trước miễu có chạm hai câu liễn chữ vàng như vầy:

Phận đứng anh hùng, một thác ơn đền non nước Việt,

Tấm gương liệt nữ, ngàn thu danh rạng đất trời Nam.

Từ đây về sau thiên hạ nhơn dân trong xứ ấy ai ai đi ngang qua miễu nầy thấy tên Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà trên tấm mộ bi, hì đều đem lòng kinh vi sùng bái, và nhớ lại trong lúc Tùng đình thì ngùi ngùi cảm khái và nhắc nhở hai người luôn luôn, nên sau người ta có đặt một câu tục diêu mà hát như vầy:

Thảm thay giọt máu chung tình,

Thương người trung liệt Tùng đình ngày xưa.

————-  Chung ————

Related Images:

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 27

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 27Hồi thứ 27:

Đền nợ nước anh hùng ra tử trận,

Trọn ân tình, liệt nữ quyết liều thân.


 Ghi chú từ người đánh máy:

Tác phẩm này sáng tác vào những năm đầu thế kỷ 20, khi đó chữ Quốc Ngữ đang được hình thành. Do đó cách dùng từ và cách dùng dấu hỏi – dấu ngã khác so với hiện đại.

Để tránh việc hiểu sai “lỗi chính tả” cho các bạn trẻ, người đánh máy xin được “sửa lỗi chính tả” cho giống ngày nay. Đồng thời xin được đính kèm hình chụp Bản In Gốc do Thư viện Quốc Gia Việt Nam số hóa. Qua đó độc giả dễ dàng tìm hiểu – so sánh sự khác biệt, thay đổi của chữ Quốc Ngữ trong gần 100 năm qua.

Hình chụp Bản In Gốc năm 1926


Vừng ô thấm thoát phút lặng đài tây, gươm nguyệt lấp lòa đã treo bóng thỏ, đoạn Võ Đông Sơ cùng Thu Hà đương ngồi trước hoa viên đàm đạo, bỗng thấy một tên Ngự lâm quân, ngoài cửa vội vã bước vô, cúi đầu chào Đông Sơ và nói: Bẩm Đô húy, có thánh chỉ dạy đòi, về việc binh tình khẩn cấp.

Đông Sơ nghe nói liền bước lại tiếp lấy thánh chỉ đọc coi, thì thấy nói như vầy:

“Nay nhơn Thanh triều ỷ thế, nước mạnh binh nhiều, muốn xâm phạt lất lướt nước ta, vì vậy nên trẫm phải ngự giá thân chinh, quyết đánh cùng quân Tàu một trận, trước là bảo tồn giang san của tổ quốc, sau là cho quân Mãn Châu biết ta là nước có Ái quốc tinh thần, chẳng phải một dân tộc chịu đè ép dưới cường quyền, để cho chúng nó buộc ràng hà khắc như mấy đời trước. Vậy truyền cho Đông Sơ đô húy, lập tức đến tỉnh Lạng Sơn, đặng quản xuất các đạo võ tâm quân, và theo trẫm mà lãnh chức Ngự tiền hộ giá.”

Đông Sơ đọc rồi thì nét mặt có sắc buồn dàu, đứng ngó Thu Hà một cách sững sờ và nói: Ái khanh ôi! cũng tưởng hai ta đã hết cơn ly biệt, đến lúc trùng phùng, đặng cùng nhau vui cuộc lương duyên, cho toại chí lúc bình sanh sở nguyện, chẳng dè cái thời điên vận đảo, nó cứ theo đuổi buộc ràng, hờn thay cuộc thế đa đoan, khiến cho gặp buổi nước nhà hữu sự, vì vậy nên Triều đình hạ chỉ, đòi tôi ra hộ giá Thánh hoàng, làm cho đôi ta phải rẽ phụng lìa loan, thì biết chừng nào mới đặng vầy vui giai ngẫu.

Thu Hà nhe nói thì động lòng ly biệt, càng thêm xót dạ ân tình, rồi nghĩ cho nhà nước đương gặp buổi hoạn nạn truân chuyên, thì gượng gạo lấy lời hơn thua mà tỏ bày khuyên nhủ, rồi nói:

” Lang quân ôi! Hai ta vẫn đương lúc tình nồng nghĩa mặn, mà thình lình khiến cho én lạc nhàn xa, thì dẫu ai gan sắt dạ đồng, gặp lúc nầy cũng phải đau lòng đứt ruột, nhưng mà, tôi khuyên mình phải lấy chữ ân làm trước, rồi sau sẽ nói đến chuyện tình, ân là ân quốc gia thủy thổ, tình là tình thân ái vợ chồng, nay nước nhà đương gặp lúc hữu sự phân vân, và mấy vạn đồng bào ta đương đậu cật đâu lưng trong cõi chiến trường, mà xông pha giữa chốn lằn tên mũi đạn. Vậy thì lang quân là một đứng nam nhi phận sự, lại thọ ơn trước lộc triều đình, thế phải ra mà đỡ vạc ngưng thành, lấy một gan đởm mà bồi đắp cho quê hương trong cơn nước lửa, đặng gọi rằng đền đáp cái ơn ngọn rau tất đất của Việt Nam cho tròn chút nghĩa vụ của quốc gia thần tử, tôi cũng ngày đêm khấn vái, mà cần chúc lang quân đặng bình an vô dạng trong chốn mũi đạn lằn tên. Ngỏ mau mau mà trở bước khải hoàn, chừng ấy đôi ta sẽ hiệp mặt phòng loan, và vui tình nệm gối, thì cũng chẳng muộn.”

Đông Sơ nghe rồi day lại ôm Thu Hà, hai mặt nhìn nhau cách thương yêu quyến luyến và nói: Ái khanh ôi! Phận tôi đã đành ra chốn vòng binh mặt trận, thì chi nài cơn lướt đạn xông tên, thương là thương cho ái khanh một mình hiu quạnh nơi chốn phòng loan, cực lòng nỗi ngày trông đêm đợi. Vậy đêm nay là đêm tôi còn ngồi một bên ái khanh mà tay ấp má kề, giọng tình câu chuyện, song ngày mai là ngày đôi ta sẽ chia cái gánh chung tình nầy ra làm hai, nửa thì tôi ôm ấp đem theo, nửa thì ái khanh giữ gìn mà cất lại.”

Nói rồi kẻ thì vì cơn ly sầu biệt hận, nghĩ mà ruột héo gan xào, người thì bận nỗi duyên nợ tóc tơ, ngồi mà sững sờ bất tỉnh.

Kế một luồng gió hiu hiu thổi tới, làm cho cả hai đều mê mệt tâm thần, bỗng thấy một người y giáp rõ ràng, kim bào ngọc đái, đi với hai tên bộ hạ ngoài cửa bước vô. Đông Sô lật đật chạy ra thấy quả thiệt cha mình là Quận công Võ Tánh, thì mừng và hỏi:

“Thưa cha, bấy lâu cha đã âm dương phân cách, sao nay thình lình mà phụ tử đặng trùng phùng, vậy xin cha có điều chi dạy bảo khuyên răn, thì nói cho con biết, đặng con vưng lời nghiêm huấn”.

Quận công Võ Tánh nói: “Bấy lâu cha đã theo miền vân hạc, mà thong dong nơi või thọ thanh nhàn, nay thấy nước nhà  gặp lúc lửa giặc đao binh, nên cha phải về đây đặng tỏ cùng con ít lời dặn bảo.

Con ôi! Con phải biết con là phận đứng làm trai trong hoàng võ, thì phải hết lòng ái quốc ưu quân, lấy máu thịt mà bồi đắp cho xứ sở quê hương, lấy gan đởm mà trao dồi cái gương trung liệt của nhà ta cho chói sáng, đặng treo ra giữa cõi Việt Nam, mà tỏ cái nghĩa vụ của một đứng nam nhi chí khí.

Con ôi, con hãy noi theo dấu cha mà tận trung báo quốc, cho rõ tấm nhiệt thành. Chẳng nên ràng buộc theo đám nhi nữ thường tình, mà làm cho tiêu ma cái chí khí của con nhà trung thần hiếu tử. Con phải lấy giang san quê quốc mà gánh vác ở đầu vai, phải lấy một phẩm giá nhơn tài mà đúc rèn lòng thiết thạch, chẳng nên lui một bước giữa chốn kịch liệt chiến trường, mà làm nhục cái danh của con nhà anh hùng hào kiệt.

Chốn chiến trường ấy là một chỗ danh dự rất vinh hiển của các đứng anh hùng, thịt tuy nát, xương tuy tan, nhưng mà cái danh giá thơm tho hãy còn sống ngàn năm trong võ trụ.

Vậy cha khuyên con một lời chót nầy, là con phải lấy một lưỡi gươm trung nghĩa mà chống cự với quân Tàu; và nhiễu một giọt máu anh hùng mà rửa hờn cho tổ quốc.”

Nói rồi quày quả ra đi. Đông Sơ lật đật chạy theo, vấp chơn té xuống, giựt mình tỉnh lại, thì là một giấc chiêm bao. Ngó lại thì thấy Thu Hà còn ngồi một bên, bèn đem sự chiêm bao thuật lại cho Thu Hà nghe, đó rồi hai người bịn rịn cùng nhau một hồi, kế nghe canh gà giục sáng, và trống đã điểm năm, dường như tiếng gà nó hòa với tiếng trống canh, đặng mà thôi thúc hai đàng từ biệt.

Đông Sơ bèn ke5u Triệu Dõng và nói: “Nay gặp lúc binh đao tranh chiến, Hoàng thượng người đương trọng dụng nhơn tài, vậy Triệu quí hữu hãy theo tôi mà giúp đỡ nước nhà, đặng lập chút công danh với thế. Chẳng nên để cho mai một cái danh giá anh hùng mà lỗi phận nam nhi trên đường nghĩa vụ.”

Triệu Dõng nói: “Nếu ân huynh có lòng dìu dắt, thì em cũng đành theo mà giúp đỡ tay chơn, vậy thì mau mau sắm sửa hành trang, đặng hai ta lên đường cho sớm.”

Nói rồi hai người liền bước vô từ giã Thu Hà và Triệu nương, rồi lên ngựa ra đi, còn Thu Hà với Triệu nương cũng vội vã đưa theo, một đỗi xa xa, mới quày chơn trở lại.

Khi Võ Đông Sơ ra tới Lạng Sơn, vào bái yết Hoàng thượng rồi tiến cử Triệu Dõng làm chức Thiếu húy, kế đó Hoàng thượng hạ lệnh truyền cho các đạo binh, đều kéo tới Nam Quang, và giáp chiến với quân Tàu một trận rất hoanh hoanh liệt liệt, còn Hoàng thượng và các võ bá văn ban đều lên trên một tòa núi cao, đặng đồn binh và khán trận.

Trong khi hai bên giáp chiến đánh nhau từ sớm mai tới trưa, súng nổ vang rền, tên bay như mưa bấc, thây nằm nhẫy đất, máu chảy đỏ sông, bỗng thấy đạo binh của ta lần lần yếu thế, còn đạo binh của Mãn Châu thì áp tới càng ngày càng sa số hằng hà, đông như kiến cỏ.

Hoàng thượng đứng trên núi, thấy đạo binh ta ít, thế chịu không nổi với binh Mãn Châu, và lại bị binh nó lần lần bọc quanh rổi phủ vây ba mặt, thì nhíu mày rồi ngó rảo các hàng võ tướng đương đứng xung quanh, và hỏi rằng: Ai dám lãnh mạng xông ra vòng binh của Mãn Châu, đặng kêu đạo binh tả dực của ta đến đây mà tiếp cứu?

Trong các hàng võ tướng văn quan nghe hỏi, đều lấy mắt nhìn nhau, không ai dám ra mà lãnh mạng.

Đông Sơ thấy vậy liền bước ra khấu đầu phụng mạng tự quyết xin đi, kế Triệu Dõng cũng bước ra xin theo Đông Sơ mà trợ lực.

Hoàng thượng thấy hai người tuổi nhỏ, mà can đởm phi thường, thì mừng và dặn rằng: Cái trách nhậm nầy là một trách nhậm rất cẩn yếu hiểm nguy, hai người có đi, thì phải cho tận tâm kiệt lực.

Đông Sơ và Triệu Dõng liền khấu đầu bái biệt, rồi lập tức giục ngựa thẳng xông, còn Hoàng thượng đứng trên cao ngó ra mặt trận, thấy binh ta tuy sút, nhưng mà hàng ngũ chỉnh tề, đứng giữa mặt trận rất kịch liệt hung hăng, mà chịu với quân Tàu hơn hai giờ, không hề thối lui một bước; quân Tàu tuy đông mà áp tới không nổi, chỉ có đem binh vây phủ ba phía mà thôi.

Hoàng thượng và các tướng đương đứng ngóng trông tin tức Võ Đông Sơ, bỗng thấy phía tả binh Mãn Châu thình lình rùng rùng vỡ tan, kéo nhau mà chạy, thì biết chắc có binh cứu viện đã tới, kế thấy một người mọp trên yên ngựa sải tới như bay, cả thảy đều chăm chỉ ngó coi, chừng lại gần thì mới biết là Đông Sơ, đã thoát khỏi trùng vây và trở về phục mạng, thì lật đật xuống ngựa gượng gạo bước vô.

Hoàng thượng và các quan ngó lại thấy Đông Sơ mặt mày xanh lét, máu mủ đầy mình chảy ra nhỏ giọt, ai nấy đều kinh, song chưa biết bị thương nặng nhẹ thể nào. Kế Đông Sơ bước tới và thở hào hển và nói ngập ngừng rằng: “Muôn, muôn tâu Hoàng thượng, Triệu, Triệu Dõng chết rồi, đạo binh tả dực, đã đến tiếp cứu và đương xáp trận với quân Tàu, nên thần hạ về đây phục mạng. Nói rồi ngước mặt ngó Hoàng thượng và tung hô lên rằng: Việt Nam vạn tuế, Thành hoàng vạn tuế!”

La vừa dứt lời, thì liền ríu ríu ngả xuống bên chưn Hoàng thượng mà chết.

Hoàng thượng thấy vậy cũng động lòng và rơi lụy, rồi truyền cho quan Tư sự biểu coi tẫn liệm Đông Sơ, quàng tại Tùng đình đặng chờ giặc yên rồi sẽ lo tống táng.

Bữa nọ Thu Hà đương ngồi trong tư phòng ngóng trông tin tức Võ Đông Sơ. Bỗng đâu hai mí mắt giựt lia, và trong lòng phập phồng hồi hộp. Thu Hà chẳng biết cớ chi, bèn bước ra xem hoa cho khuây lãng tâm thần, chẳng dè thinh không cây kim xoa đương dắt trên đầu, thoạt nhiên rớt xuống gãy làm hai đoạn, điềm ấy chưa biết lành dữ thế nào, nhưng trong lòng Thu Hà đã sanh một mối lo buồn nghi sợ. Kế đó có tên bộ hạ của Đông Sơ ngoài cửa bước vô bộ coi hơ hãi, thấy Thu Hà liền chạy lại và bẩm rằng: “Bẩm quới nương, quan Đô húy Võ Đông Sơ và quan Thiếu húy Triệu Dõng đã bỏ mạng nơi chốn chiến trường, nên Hoàng thượng sai tôi về đây bẩm lại”.

Thu Hà nghe rồi té nhào xuống đất và bất tỉnh. Triệu nương lật đật chạy lại đỡ lên, chừng tỉnh lại hai người than khóc một hồi dầm dề hột lụy, đó rồi chị em dắt nhau thẳng ra Nam Quang, đặng tìm thi hài Đông Sơ và Triệu Dõng.

Khi Bạch Thu Hà với Triệu nương đi gần tới địa phận Nam Quang, thì mặt trời đã hầu chen lặng. Xảy thấy một tòa nhà nhỏ, ẩn ẩn trong đám thanh tùng, tư bề thì núi non hiu quạnh, cây cỏ lờ mờ, bên rừng lại nghe tiếng vượn ru con, nỉ non dưới cội, kìa thì mây sầu mịt mịt, vần vũ trên không; nọ lại gió thảm rao rao phất phơ ngọn cỏ, đoạn thì vài con bạch nhạn, đương kêu rên thơ thẩn góc phương trời, lớp thì dế gáy re re, hòa với tiếng ve ngâm, giọng nghe buồn bã. Nào  là thằn lằn chắt lưỡi, chim ục cầm canh, nào là dưới bụi trên nhành sành kêu tích tích.

Ôi cái tình thê thảm ấy, cái cảnh quạnh hiu nầy, dường như tạo hóa đã bố trí sắp đặt ra đây, mà vây người vào trường ly hận; và nhốt người vào trận mê hồn, làm cho Thu Hà ngó đến thì ruột đứt gan xào, nghe vào thì càng đầm đầm giọt lụy. đó rồi lần lần đi tới, thì thấy một đội quân đứng nhựt canh trước ngõ, và bốn phía xung quanh, dùi trống nhịp canh, đánh nghe khoan nhặt.

Thu hà và Triệu nương liền bước lại kêu một tên quân và hỏi thăm tin tức Đông Sơ, xảy thấy tên đội trưởng phía trong bước ra cúi đầu chào Thu Hà và hỏi: “Chẳng biết quới nương ở đâu, đến đây có việc chi mà đêm hôm xông pha vào miền chiến địa như vậy?”

Thu Hà nói: “Tôi là vợ của quan Đô húy Võ Đông Sơ còn người nầy là em của Triệu Dõng.”

Tên đội trưởng nghe nói thời đáp rằng: “Quan Đô húy Võ Đông Sơ đã chiến trường tử trận, Hoàng thượng dạy đem linh cữu ngài về đây, đặng chờ ngày tống táng. Còn quan Thiếu húy Triệu Dõng thì chẳng biết thất lạc thi hài nơi nào, nay chưa tìm đặng. Nói rồi lấy tay chỉ vô nhà nhỏ và thưa rằng: “Linh cữu của quan Đô húy đương quàn tại Tùng đình kia, xin quới nương theo tôi vào trong thì thấy.”

Thu Hà nghe nói lật đật bước vô, thì phía trước có chưng một hương án nghiêm trang, nhưng mà đèn chong leo lét. Nhang đốt lờ lờ, chính giữa để một linh cữu với ít chậu bông hường, xem đã nhụy úa hoa tàn, dàu dàu nhánh lá, bên màn có treo một tấm minh sanh (kêu là tấm triện) và có viết một hàng chữ phấn như vầy: Ngự tiền hộ giá Ngự lâm quân Đô húy, Võ Đông Sơ chi cữu.

Thu Hà thấy rõ là Võ Đông Sơ đã chết, thì chạy lại ôm linh cữu mà khóc một cánh ai bi thê thảm rằng:

“Trời ôi! Trời sao nỡ đem lòng nghiệt ác, mà cứ ghét ghen chi mãi phận người, đã mấy phen làm cho kẻ góc biển, người đầu non, kẻ sầu đông người thảm bắc, làm cho mai gầy liễu ốm, phấn lợt hương tàn, làm cho duyên nọ lỡ làng, đờn kia chinh phiếm, nhày nay còn nông nỗi gì mà khiến cho gái nọ mất chồng, trai nầy bỏ vợ?

Ớ quân Mãn tặc kia ôi! Bây cậy chi những lằn tên mũi đạn, mà làm cho đôi ta rẽ vợ phân chồng. Ớ quân thù nghịch kia ôi! Bây ỷ thế nước mạnh binh nhiều, mà làm cho đôi ta ngày nay phải keo tan hồ rã!

Lang quân ôi! Bấy lâu hai ta đã quan hà cách trở, biết bao là non nước lạc loài, nay mới cùng nhau vừa tạng mặt kề vai, cũng ngỡ là vợ chồng đặng vui tình nệm gối, chẳng dè ngày nay thiếp ra đến đây, thì màn sầu giã dượi, trướng thảm hắt hiu, chỉ thấy cái linh cữu nầy là chỗ lang quân đã nằm đ1o mà thiêm thiếp một giấc u hồn, thật là cách nhau trong gang tấc chẳng xa, nhưng mà dẫu kiếm ngàn năm cũng không trông thấy mặt.

Lang quân ôi! Nước non đó, quê hương ta đó, nỡ bỏ đi, mà xuống chốn tuyền đài; tình nghĩa đây, ân ái ta đây, đành nhắm mắt, mà theo miền dị lộ?

Tình quân ôi! em nhớ thuở lương đình hội ngộ, đã cùng nhau căn dặn đến điều, nay sao mà, nằm đ1o im lìm, chẳng cùng thiếp lời chi từ biệt?

Ớ cái linh cữu kia ôi, mi là loài độc ác, cậy ba thước ván, mà đậy người trong nơi kín đáo, làm cho đó đây hai ngã phân lìa; mi là giống vô tình, ỷ mấy tấc cây, mà dấu người trong chỗ hẹp hòi, làm cho chồng vợ ngàn thu cách biệt.

Thu Hà khóc một hồi, rồi dựa vào linh cữu, ngồi tưởng mơ màng, bỗng thấy một người xô cửa bước vô. Thu Hà thất kinh lật đật thối lui vào trong, rồi hỏi: Ngươi là ai, đến đây việc chi, sao dám vào chỗ đờn bà con gái?

Người kia nói: Ta là Võ Đông Sơ đây, khanh quên sao?

Thu Hà nghe nói liền bước tới thấy quả Võ Đông Sơ thì mừng rỡ vô cùng và hỏi: Lang quân, giặc đã yên chưa mà lang quân về đặng?

Đông Sơ nói: “Quân giặc chưa yên, song ngày nay là ngày kiến nhựt, nên tôi về đây đặng làm lễ nghinh hôn mà rước ái khanh đi động phòng hoa chúc.”

Thu Hà nghe nói thì mừng biết chừng nào, liền theo Đông Sơ ra đi ước đặng một đỗi, kế thấy một cảnh hoa viên, bông trái tốt tươi, cỏ cây xinh đẹp, phía trong lại có một tòa nhà rộng rãi, đèn duốc sáng lòa, xảy nghe nhạc trỗi vang dầy, tiêu thiều rập nhịp. Đông Sơ day lại nói với Thu Hà rằng: “Đây đã tới động phòng xin ái khanh hãy bước vào buồng, đặng hai ta vầy duyên can lệ, đó rồi hai người dắt nhau vô phòng, đèn khêu tim đỏ, hoa ửng nhụy hồng, lửa đượm hương nồng, ân tình rất nên khắc khích, kẻ kề môi, người dựa má, khi câu chuyện, lúc giọng tình, thật là toại thay người đẹp duyên xinh; càng mê vẻ ngọc cành nhìn sắc hoa.

Kế đó Đông Sơ đứng dậy nói với Thu hà rằng: “Đêm nay trời trong trăng tỏ, vậy hai ta ra sau hoa viên dạo xem phong cảnh và hứng gió chơi trăng cho giải khuây, nói rồi dắt Thu Hà đi quanh lộn lại trong vườn một hồi, khi ra khỏi hoa viên, thì thấy một cái biển rộng lớn minh mông, gió lặng sóng êm như tờ giấy trải.

Bỗng thấy một cái mống đỏ, hiện ra trên không, rồi lần lần hạ xuống, hóa ra một cái đầu dài? Bắc ngang trên mặt biển, trên cầu có tấm bảng đề ba chữ “ly hận kiều” lại có một bọn nam thanh nữ tú qua lại trên cầu, nhơ nhởn dập dều, đương xem trăng hứng mát. Bỗng chốc thấy hai con rắn biển rất to, nổi trên mặt nước, mỗi con dài ước hơn hai chục trượng, mình đen như nực, mồng đỏ tợ son, một con đực và một con cái, hai con giỡn với nhau dưới cầu, làm cho sóng nổi ba đào, nước văng trắng giã, rồi quấn đuôi vào nhịp cầu, và vỏ xà nẹo cùng nhau mà nhúng tới đưa lui, trồi lên hụp xuống một hồi, làm cho nhịp giữa gãy ngang, cầu kia đứt ra làm hai đoạn, rồi lần lần dang ra, xảy nghe những người đương đứng trên cầu kêu la inh ỏi, kẻ kêu vợ người khóc chồng, kẻ lìa em người cách bạn, hai bên đầu cầu kêu khóc om sòm, nghe rất ai bi thảm thiết, còn hai đoạn cầu dang lần ra xa, rồi đoạn thì trôi về hướng nam, đoạn lại trôi qua phía bắc, làm cho những người ở trên cầu ấy phải phân vợ rẽ chồng, biết bao là thảm sầu khổ não!

Đông Sơ cùng Thu Hà thấy vậy thì lấy làm một điếu quái dị, đứng ngó sững sờ, rồi cùng đau lòng thương xót và muốn quày gót trở về, kế thấy trên mặt biển mọc lên một trụ đá to lớn, trên trụ lại có ba chữ “Tình nghiệt hải” nghĩa là cái biển tình rất ác nghiệt dữ dằn.

Kế đó lại thấy một thằng quỷ cao lớn, mặt xanh như chàm, mình mẩy vằn vện như cọp, ở trong trụ đá nhảy ra, và lấy tay thò xuống biển dậy nước trào lên, làm cho sóng nổi đùng đùng, khói bay mịt mịt, rồi hai chơn bước trên ngọn sóng, phăng phăn đi vô, đi tới đâu thì sóng gió ùn ùn tới đó, bò vòi cao lên như núi vậy.

Khi vô tới mé, thì nhảy lại chụp Đông Sơ. Đông Sơ trớ qua rồi rút gươm chém thẳng quỷ ấy một cái, thì thấy thằng quỷ liền hả miệng phun ra một vòi máu làm cho Đông Sơ mình mẩy và mặt mày đều vấy máu đỏ lòm.

Đông Sơ nổi xung nhảy tới đâm thằng quỷ ấy một gươm ngang lưng lủng vào tới ruột, tức thì trong lổ đâm đó ló ra một cái đuôi dài hơn năm sải, rồi quấn ngang mình Đông Sơ và kéo nhào xuống biển.

Thu Hà thấy vậy hoảng kinh nhảy theo chụp Đông Sơ níu lại, chẳng dè chụp nhằm cây gươm để thờ Đông Sơ bên bàn hương án, thì giựt mình tỉnh lại, té ra một giấc chiêm bao. Ngó lại thấy cây gươm còn nắm chặt khừ trong tay, hì đứng đó ngơ ngửng sững sờ. Một hồi, rồi tự nghĩ rằng:

“Thế thì đêm nay là đêm chót trong đời mình đây, nên khiến cho chiêm bao mà thấy một điềm rất nên kinh dị, và cây gươm nầy là gươm để cho mình toan bề tự xử, đó chăng?”

Nghĩ rồi bước ra hương án của Đông Sơ lấy nhang đốt lên mà khóc rằng:

“Lang quân ôi! Hai ta mãn bị cái kiếp nhơn duyên trắc trở, mà sống chẳng đặng cùng nhau đồng tịch đồng sàng, vậy thì ngày nay là ngày thiếp đến đây, xin mượn cây gươm nầy, mà xả mạng quyên sanh, đặng thác theo lang quân cho đồng quan đồng huyệt.

Lang quân ôi! Lang quân đã biết lấy một lòng ái quốc, liều thân danh mà trả nợ nước nhà; vậy thì thiếp đây cũng nguyện đổ một giọt máu chung tình, xuống địa phủ mà đền ơn tri ngộ.”

Nói rồi liền lấy gươm đâm họng và ngã bên linh cữu của Đông Sơ mà thác.

Triệu nương đương ở phía sau bước ra thấy Thu Hà nằm bên linh cữu. Và máu chảy dầm dề, thì thất kinh lật đật lại ôm Thu Hà mà khóc một hồi, ngó lại thì Thu Hà đã thác.

Chỗ nầy là chỗ chung cuộc của Võ Đông Sơn với Bạch Thu Hà rồi, tới đây tôi muốn gác bút nghỉ ngơi và nói lớn một tiếng rằng: Truyện nầy đã hoàn tất, nhưng e cho liệt quới khán quan xem đến đây thấy giọt máu chung tình lai láng; cái hồn trung liệt quạnh hiu, thế thì cũng có lẽ phiền dạ ức lòng mà trách rằng: tác giả là người rất đoản hậu vô tình, lấy ngọn bút sát nhơn mà giết chết một vị anh hùng với một trang liệt nữ, rồi để đó tồi tàn, mà chẳng cho tống táng.

Vì vậy nên tác giả xin nói tiếp thêm một đoạn sau đây cho được toàn thỉ toàn chung, kẻo ức lòng kẻ đọc.

Related Images:

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 26

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 26Hồi thứ 26:

Bị thế bức chẳng nhìn lời thệ ước,

Lấy lẽ công biện bạch nợ tình chung.


 Ghi chú từ người đánh máy:

Tác phẩm này sáng tác vào những năm đầu thế kỷ 20, khi đó chữ Quốc Ngữ đang được hình thành. Do đó cách dùng từ và cách dùng dấu hỏi – dấu ngã khác so với hiện đại.

Để tránh việc hiểu sai “lỗi chính tả” cho các bạn trẻ, người đánh máy xin được “sửa lỗi chính tả” cho giống ngày nay. Đồng thời xin được đính kèm hình chụp Bản In Gốc do Thư viện Quốc Gia Việt Nam số hóa. Qua đó độc giả dễ dàng tìm hiểu – so sánh sự khác biệt, thay đổi của chữ Quốc Ngữ trong gần 100 năm qua.

Hình chụp Bản In Gốc năm 1926


Một lát kế cửa mở ra, thấy một lão bà và một người gái trẻ, cầm đèn trong cửa bước ra, rảo mắt ngó xem mỗi người. Khi ngó tới Thu Hà và Võ Đông Sơ, thì người gái kia vùng la lên và nói: Ủa cô, ủa quan nhơn, rồi chạy lại ôm Thu Hà và rưng rưng hai hàng giọt lụy.

Thu Hà ngó lại thấy thể nữ Xuân Đào, thì mừng và hỏi: Sao mi ở đây? Và ở đây với ai?

Xuân Đào nói: Từ khi tôi ở thạch đình gặp Võ quan nhơn, nửa đêm đến đó kiếm cô, chẳng dè thấy thơ cô để lại thì tưởng cô đã trầm thân tự tử, nơi chốn vực thẳm biển sâu rồi, nên tôi theo quan nhơn về ở với mẹ tôi đây, từ ấy đến nay, chẳng dè ngày nay cô cháu đặng trùng phùng, và đặng thấy Võ quan nhơn đây, thì mừng nầy biết sao mà nói đặng, đó rồi mẹ con Xuân Đào mời các anh em vào nhà và dọn một phòng riêng cho Thu Hà ngơi nghỉ.

Thu Hà vô giường thì cúi mặt làm thinh chỉ ngồi thiêm thiếp, xem lại thì gương đào giả rượi, mày nguyệt nhăn nho, vì đương so đo một mối tơ tình, nó xăng xích bên lòng, không vò mà rối.

Kế đó Võ Đông Sơ bước lại đứng một bên và nói: “Ái khanh bây giờ trong mình thể nào? Sao xem sắc mặt có vẻ thảm đạm ưu sầu, hay là quí thể có điều chi chẳng yên, xin nói ra cho biết.

Thu Hà day lại thấy Đông Sơ đứng kế một bên, thì lấy tay xô Đông Sơ dang ra, rồi cúi mặt làm thinh, chẳng nói một lời chi đáp lại.

Đông Sơ thấy vậy thì lấy làm lạ kỳ, rồi tiếp mà hỏi nữa: “Ái khanh ôi! Bấy lâu kẻ chơn trời người góc biển, biết bao nhiêu là tháng đợi ngày trông, nay hai ta đặng gặp nhau đây, lẽ thì chẳng xiết vui mừng, nhưng cớ sao ái khanh lại nỡ làm thinh, mà chẳng tỏ một lời hơn thiệt? Thế thì ái khanh đã quên những lời ngày xưa thệ ước, những lúc câu chuyện giọng tình, nên lẳng lặng làm thinh, mà tỏ rằng lòng kia lơ đãng đó chăng? Hay là ái khanh đã quên cái người ôm ấp một khối chung tình từ ấy nhẫn nay với ái khanh, rất thương yêu trìu mến đó chăng?

Ái khanh ôi! Ái khanh hãy ngó lại mà coi, cái người ấy bây giờ đương đứng trước mặt một kẻ rất trìu mến thương yêu đây, và người ấy bây giờ đương đứng mà ao ước trông mong, một điều phối hiệp lương duyên cùng ái khanh, không cơn nào mà nguôi lòng đổi ý cho đặng, người ấy bấy giờ đây là Võ Đông Sơ, kia ai là Thu Hà thì xin đoái tình mà xem lại?”

Thu Hà nghe rồi đứng dậy ngó Đông Sơ cách lơ láo và trả lời rằng: “Tôi chẳng phải là ái khánh của người ấy, và cũng chẳng phải là Thu Hà của Đông Sơ đó đâu, những lời ngày xưa thệ ước, nay đã xem như bọt nước chảy dòng sông; cái khối chung tình ngày xưa nay xem như một bóng dương quang nó là tan giọt tuyết, người ấy tuy bây giờ đứng đó, nhưng tôi chẳng dám gần, người ấy tuy bây giờ ở đây, nhưng tôi không nhìn đặng.”

Nói tới đây liền lấy tay ôm ngực, và sắc mặt buồn xàu, kế đám giặc nghi kỵ ưu phiền lừng lẫy nổi lên, rồi đánh một trận với đám giặc ân tình trong trái tim, làm cho cả một tòa lương tâm đều phập phồng hồi hộp, đó rồi Thu Hà mặt mày choáng váng, té xỉu nơi giường, còn Đông Sơ nghe mấy nhiêu lời, thì ngọn lửa phẫn khích trong lòng, hực hực xông lên, làm cho héo ruột xàu gan, rồi cả mình đều rướm rướm mồ hôi, đổ ra như tắm.

Đông Sơ ngó Thu Hà sững sờ một hồi, và trầm tư sự nghĩ rằng: Lạ thay, từ khi tri ngộ Thu Hà tại hoa viên đến nay, ta chưa hề có điều chi phụ nghĩa bạc tình cùng nàng, và cũng chẳng có điều chi làm cho nàng phiền lòng mích dạ, cớ sao nay lại buông lời lạt lẻo, xem ra như người đã bội nghĩa vong tình, hay là nàng đã gá cuộc nhơn duyên với nơi nào, nên mới nỡ mượn những lưỡi búa lời dao, đặng mà cắt đứt dây tình xưa nghĩa cũ đó chăng? Hay là nàng bị giang hồ lưu lạc, đã nhiều phen họa dập tai đồn, làm cho nàng hoảng hốt tâm thần, mà ra kẻ kinh hồn lãng trí.

Nghĩ vậy rồi bước tới và hỏi rằng: “Ái khanh, tôi xin hỏi một lời. Khi tại sông Nhĩ Hà, ái khanh có nhớ một người nào bơi thuyền cưỡi sóng mà xông pha giữa chốn vạn trận phong đào, đem một sanh mạng mà liều với sông biển nước trời, chẳng kể cái cảnh ngộ hung hiểm gian nguy, chẳng kể cái tiền đồ cuồng phong nộ lãng. Chỉ biết lấy một lòng nhiệt thành ân ái, mà đối đãi với một kẻ yêu dấu tình nhơn trong lúc ngộ nạn lâm nguy. Nếu mà chẳng may bị lượng sóng vô tình nó chôn dập giữa chốn trường giang, thế thì ái khanh cũng phải cảm động lòng thương và nhỏ một giọt nước mắt ân tình, ngỏ khóc cho kẻ vì mình mà phải chịu oan hồn uổn tử đó chớ? Nhưng may mà ngày nay cái sanh mạng của kẻ ấy hãy còn sống nơi cõi dương gian nầy và đương đứng trước mặt ái khanh đây, là Võ Đông Sơ, mà gắn vó kêu nài cùng ái khanh một lời rất thiết yếu rằng: vì cớ nào mà ái khanh chẳng nhìn đến kẻ nghĩa cũ tình xưa? Xin ái khanh hãy tỏ hết cái tâm sự dấu diếm nơi lòng, và nói thiệt căn do cho tôi rõ, dẫu mà hai ta chẳng phải nhơn duyên trời định, khiến cho ái khanh chẳng đoái tình thương, thì tôi cũng lấy một chí khí đại độ trượng phu, mà để cho người thong thả theo lòng sở dục. Còn như có điều chi bức ép hay là bị một thế lực mạnh mẽ nó buột ràng, làm cho ái khanh rủn chí phiền lòng, thì tôi sẽ hết sức gánh vác đởm đương chẳng để cho ái khanh phiền lòng cực trí chi hết. Nếu ái khanh chẳng tưởng mà nói rằng Thu Hà chẳng phải là người tình nghĩa của Đông Sơ nầy, vậy thì Thu Hà là người của ai? Xin hãy nói cho nghe thử?

Thu Hà nghe Đông Sơ gạn hỏi mấy lời, thì nghĩ mà đau lòng ly biệt, xót ruột ân tình, làm cho thỉnh thoảng trên má hồng nhan, đã chứa cha hai hàng giọt lệ, rồi day lại mà nói với Đông Sơ rằng:

“Bấy lâu tôi cũng ngỡ Thu Hà nầy là một người vợ chưa cưới của Đông Sơ; chẳng dè ngày nay Thu Hà thành ra một người vợ đã cưới rồi của Vương Bích.

Bấy lâu cũng tưởng mượn bước giang hồ lưu lạc, đặng cho khỏi cái dây oan trái nó buột ràng; chẳng dè ngày nay cái kiếp đọa hồng nhan, nó chưa chịu nhả nhớm, buông tha, hãy còn đeo đuổi mà bắt vào tay bức hiếp.”

Đông Sơ nghe rồi nhíu mày ngó sững Thu Hà và hỏi: “Ái khanh hãy nói cho tôi rõ. Vương Bích ở đâu? và vì cớ nào mà ái khanh gọi rằng vào tay bức hiếp?”

Thu Hà nói: anh tôi và Vương Bích mới gặp tôi nơi lữ quán, nói rằng trong khi gả cưới, đã có hôn thơ bằng cớ, và hai bên thân tộc rõ ràng, rồi chiếu tờ tập nã của quan phê, mà nói rằng: Tôi bị tội bội ước đào hôn, nên người và anh tôi tìm theo mà bắt lại, may nhờ Triệu quí hữu thừa cơ rồi giả kế mà cứu tôi trong lúc giữa đường, song tôi nghĩ dẫu cho cao chạy xa bay, thì sớm muộn cũng chẳng khỏi vào tay oan trái đó nữa.

Vì vậy tôi nay còn gì mà gọi rằng một người tình nghĩa yêu dấu của Đông Sơ, vì tôi đã bị làm một người bức ép buộc ràng của Vương Bích”. Nói rồi thì mạch nước mắt chung tình, đã cuộn cuộn tràn ra, làm cho hai tròng thu ba phải dầm dề hột lụy.

Còn Đông Sơ nghe rồi thì tơ tình rối ruột, trán đổ mồ hôi, thật là một việc rất trắc trở khó khăn, dẫu cho ai thiết thạch tâm trường, gặp lúc như vầy, cũng phải sững sờ ngơ ngẩn, huống hồ Đông Sơ là kẻ đã giao lời thệ ước, nặng gánh chung tình, lẽ nào nghe vậy mà chẳng xúc động tâm thần, bầm gan tím ruột.

Đó rồi Đông Sơ làm thinh đứng sững, nghĩ nghị một hồi; bèn day lại kêu Thu Hà và hỏi: “Ái khanh nói rằng Vương Bích có chiếu tờ tập nã, và có dựng chứng hơn thơ, nhưng chẳng biết trong giấy hôn thơ ái khanh có ký tên hay chăng?”

Thu Hà nói: “Tôi đã từ hôn chẳng chịu, lẽ đâu còn chịu ký tên.”

Đông Sơ nói: “Nếu ái khanh thiệt chẳng ký tên, thì can chi mà ái khanh còn nghi ngờ lo sợ. Dẫu cho Vương Bích quyết lòng ép buộc, mà đầu cáo cùng quan trên, thì ái khanh cứ thiệt khai ngay, quan trên cũng chẳng lý nào mà ép duyên chồng vợ đặng, vả lại việc vợ chồng cưới gả, thì do nơi hai bên trai gái thuận tình, dẫu cho cha mẹ cũng chẳng nỡ ép uổng việc nhơn duyên. Huống hồ anh em có quyền chi mà buộc ràng sự trăm năm tơ tóc. Nếu ái khanh lòng còn gnhi ngại, thì tôi xin Hoàng thượng ngự bút tứ hôn cho hai ta, dầu cho Vương Bích kiện tới thiên đình, cũng chẳng làm chi hai ta cho đặng.”

Thu Hà nghe mấy lời Đông Sơ biện bạch, thì bao nhiêu những sự ưu sầu nghi kỵ, chấp chứa nơi lòng, tức thì chẳng đuổi mà tư nhiện tan đi, chằng dầm mà tự nhiên tiêu mất, rồi đổi lại một tình trạng rất hoan hỉ vui vẻ, hiện ra một sắc diện rất đẹp đẽ mặt mày, mừng thay oanh én gặp bầy, hết cơn ly hận tới ngày hiệp hoan. Cái mừng nầy nói ra khôn xiết, mà viết cũng chẳng hết  lời, đó rồi Thu Hà bước lại ôm Đông Sơ mà thỏ thẻ giọng tình, và thỏ thẻ và nói:

“Lang quân ôi! Lang quân sẽ xin ngự bút tứ hôn cho đôi ta sao? Vương Bích chẳng làm chi hai ta đặng nữa sao?

Lang quân ôi! lang quân ôi! Nếu mình chẳng hết lời phân trần cặn kẽ, thời tôi mãn bị một sự kinh hãi nghi sầu nó làm cho tôi rối loạn tâm thần; mất cả trí khôn, hết điều tư tưởng chi nữa, đến nỗi gặp mà chẳng dám nhìn, xem dường một kẻ lãng hạnh vong tình, và một người ăn lời thệ ước kia vậy.

Lang quân ôi! Nay tôi mới thiệt là Thu Hà của Đông Sơ, nay tôi mới thiệt là vợ chưa cưới của Đông Sơ, chớ chẳng còn nghi ngờ lo sợ chi nữa, vậy nay đôi ta đã đặng nhứt trường hội ngộ, thì xin tính sao cho trọn chữ ân tình, trước là đẹp đẽ cuộc giai ngẫu lương duyên, sau là khỏi tay Vương Bích và anh tôi, người theo buộc ràng ép uổng.”

Đông Sơ day lại choàng tay qua vai Thu Hà rồi kề môi dựa má, lấy giọng an ủi mà rằng: “Ái khanh ôi! Cũng bởi tôi đa mang việc nước, mà làm cho ái khanh phải lạc bước giang hồ, cũng bởi cơn thời vận gian nan, nó làm cho cái vóc yểu điệu hường nhan, phải giảm bớt vài phần khí sắc.”

Ôi! Trong lúc mai kề liễu dựa, mận ấp đào ôm nầy, thì chẳng biết bao nhiêu mà vẽ cái tình trạng rất thân ái thương yêu, làm cho ngọn lửa ân tình phưởng phất, lừng lên rồi cả hai đều hồn mê ruột rối. Bỗng nghe trước cửa rần rần vó ngựa, rảng rảng lạc đồng, kế thấy Triệu nương và thể nữ Xuân Đào, hơ hãi chạy vào, và kêu và nói:

“Tiểu thơ, tiểu thơ, Vương Bích và công tử Bạch Xuân Phương, hai người đương giục ngựa buông cương rần rần chạy tới kia kìa.”

Đông Sơ nghe nói liền rút gươm vội vã bước ra, Thu Hà thất kinh chạy theo níu lại và nói: “Lang quân, xin lang quân ở nơi phòng nầy với tôi, đặng để coi Vương Bích cử động thế nào, rồi chúng ta sẽ tùy cơ ứng biến”.

Lúc ấy Triệu Dõng đương đứng trước khách đường, xảy thấy hai người cưỡi ngựa rầm rầm chạy tới, thì biết là Bạch Xuân Phương và Vương Bích, sợ chúng nó vô nhà thình lình, thì gặp Thu Hà; liền lật đật chạy ra, đứng ngăn trước ngõ.

Vương Bích xuống ngựa chăm chỉ bước vô, thấy Triệu Dõng mặc đồ võ trang, bộ coi nghiêm chỉnh, khác lúc giả dạng tên đánh xe, nên không nhìn đặng, bèn kêu mà hỏi rằng: Tên kia, ngươi có thấy hai người gái chạy vào đây chăng?

Triệu Dõng nói: Tôi chỉ thấy hai người trai là hai chú đó thôi, chớ không thấy ai nữa.

Vương Bích nghe Triệu Dõng trả lời như vậy, bèn dòm cô nhà đặng coi có ai chăng, xảy thấy có bóng đờn bà lấp ló phía trong, thì nghi và nói: Người nói không ai, sao trong nhà có dạng đờn bà con gái đó vậy? Người hãy tránh, để ta xét coi, và nói và sấn sướt bước vô.

Triệu Dõng nổi xung, lấy tay cản lại và nói: Ngươi muốn xét thì phải xin phép cái cánh tay ta đây, bằng ngươi ỷ thế làm ngang, thì nó không hề để cho mi bước tới một bước.

Vương Bích nghe nói thì mặt đỏ phừng phừng, và nói: Để ta bước vô coi mi làm chi ta cho biết, nói rồi xốc tới bước vô, Triệu Dõng tức thì lấy tay nắm ngang ngực Vương Bích, quăng ra một cái rất mạnh, làm cho Vương Bích hỏng chơn văng ra xa hơn năm thước rồi té nhào xuống đất, Triệu Dõng nhảy lại đạp chơn trên lưng, muốn đánh thêm một thoi, cho rồi đời ngang ngược.

Bạch Xuân Phương thấy Triệu Dõng sức mạnh phi thường, xem thế ắt cao cường võ nghệ, thì chạy lại mà can rằng: “Xin tráng sĩ bớt lòng thạnh nộ, vì Vương hữu trong cơn nóng nảy, mà ra sự lỗi lầm, nếu thiệt chẳng có hai gái vào đây, thì chẳng cần chi mà sanh điều tranh đấu, nói rồi lại dắt Vương Bích trở ra, rồi cả hai lên ngựa đi về một nước.

Triệu Dõng mặt còn phừng phừng sắc giận, đương đứng trợn mắt ngó theo, xảy nghe có người phía sau bước tới vỗ vai một cái và nói rằng: Mừng cho Triệu quí hữu đắc thắng.

Triệu Dõng day lại thì thấy Đông Sơ và các chị em đều chạy ra mừng rỡ.

Thu Hà nói: “Nhờ có Triệu quí hữu mau chơn ra cản trước ngõ, nếu không thì anh tôi và Vương Bích đã xốc vô nhà, gặp tôi và lang quân ở đây, ắt sanh điều đại sự.”

Kế đó Đông Sơ day lại biểu tên bộ hạ đi mướn một cỗ xe, rồi rước Thu Hà và hai anh em Triệu Dõng trở về tư dinh, và dọn dẹp môt phòng cho Thu Hà và Triệu nương ngơi nghỉ, còn Đông Sơ thì tính làm một tờ biểu chươn, bày tỏ sự tình, đặng xin Hoàng thượng ngự bút tứ hôn, ngỏ cùng Thu Hà vầy duyên can lệ.

Related Images:

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 25

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 25Hồi thứ 25:

Cơn lận đận tai qua rồi họa tới

Lúc thình lình nghĩa cũ gặp tình xưa


 Ghi chú từ người đánh máy:

Tác phẩm này sáng tác vào những năm đầu thế kỷ 20, khi đó chữ Quốc Ngữ đang được hình thành. Do đó cách dùng từ và cách dùng dấu hỏi – dấu ngã khác so với hiện đại.

Để tránh việc hiểu sai “lỗi chính tả” cho các bạn trẻ, người đánh máy xin được “sửa lỗi chính tả” cho giống ngày nay. Đồng thời xin được đính kèm hình chụp Bản In Gốc do Thư viện Quốc Gia Việt Nam số hóa. Qua đó độc giả dễ dàng tìm hiểu – so sánh sự khác biệt, thay đổi của chữ Quốc Ngữ trong gần 100 năm qua.

Hình chụp Bản In Gốc năm 1926


Lúc này trăng sáng mờ mờ, mưa tro phay pháy. Thu Hà với Triệu nương ngồi trong than thở, và sắc mặt giăng phủ một lớp màn sầu, lớp thì lo cho Triệu Dõng chẳng biết đi đâu, lớp thì thương cho Triệu nương vì nghĩa theo mình, mà phải anh em phân rẽ, ngoài trước thì hai tên đánh xe làm thinh lẳng lặng, chỉ lo giục ngựa chạy mau, trong lúc đường vắng canh khuya chẳng nghe chi lạ hơn là nghe những tiếng vó ngựa nó hòa với tiếng bánh xe, bỏ vận kịch kịch re re, chạy nghe rần rần rột rột, làm cho khách hồng nhanh lạc bước, nghĩ tới khúc biệt hận ly sầu, thì ngơ ngẩn về đâu, rồi giọt lệ chứa chan, mà phải hồn tiêu phách lạc, chẳng bao lâu xe đã ra khỏi tỉnh thành, và phăng phăng thẳng vào đồng nội, quanh qua lộn lại, chạy ước hồi lâu, ngựa đã đổ mồ hôi, mà đường còn xa thăm thẳm.

Khi chạy tới mé rừng, bỗng thấy một cái quán ở dựa bên đường, tên đánh xe nói: xin để ngừng xe nghỉ ngựa một chút cho khỏe rồi sẽ đi.

Vương Bích và Bạch Xuân Phương cũng đều xuống ngựa và dắt lại cột nơi mé rừng, rồi cả hai vô ngồi trong quán.

Nguyên hai người nầy là hai tay bợm rượu, đã quen theo cuộc tửu điếm trà đình, nên thấy trong quán có để ít hồ rượu ngon, hơi bay nực mũi, thì con trùng rượu trong bụng đã rọ rạy bò lên, làm cho hai cậu thấy rượu thì ngứa cổ bắt thèm, liền kêu tên quán biểu đem một hồ rót ra, rồi hai người chén tạc chén thù, và uống và chuyện trò rổn rảng.

Kế tên mặc áo tơi ngoài xe bước vô, lại trước hai cậu và nói: thưa nhị vị quan nhơn, ngựa của nhị vị hôm giờ chạy mệt, vậy để tôi dắt ra sau, kiếm cỏ cho ăn, đặng nghỉ một chút cho khỏe rồi sẽ đi cũng chẳng muộn.

Vương Bích nhe tên kia hỏi vậy, thì nói: “Ừ, được vậy thì tốt. Nói rồi day lại uống rượu và đàm đạo với Bạch Xuân Phương.

Tên mặc áo tơi kia lật đật lại mở hai con ngựa dắt ra phía sau rừng, rồi lấy roi dốc mỗi con một roi rất mạnh, hai con thất kinh nhảy sãi vô rừng rồi chạy mất; tên ấy liền trở ra xe nói nhỏ với Thu Hà và Triệu nương rằng: “Xin tiểu thơ và em ngồi cho vững, đặng tôi giục ngựa chạy mau, bây giờ phải tính kế thoát thân, dĩ đào vi thượng, thì mới khỏi.”

Hai cô nghe nói ngó lại, thấy tên ấy là Triệu Dõng mà giả dạng mặt đồ theo mấy đứa đánh xe, thì ngạc nhiên chưng hửng, Triệu Dõng nói rồi liền nhảy lên ngồi trước cỗ xe, quất ngựa một roi, la chạy, ngựa ấy thình lình bị quất một roi, thất kinh nhảy dựng hai chơn trước lên rồi mang xe vụt chạy.

Bạch Xuân Phương và Vương Bích đương ngồi chuyện trò uống rượu, bỗng thấy xe chạy, lật đật bước ra kêu xe, xe ngừng lại, ngừng lại.

Triệu Dõng nghe kêu càng quất ngựa chạy mau, hai người kêu thôi rát họng, mà xe chẳng chịu ngừng, bèn chạy ra sau tính cưỡi ngựa rượt theo, nhưng ngựa đã mất đâu chẳng thấy.

Hai người lính quýnh đương đứng ngẩn ngơ ngó mông một hồi rồi chạy tuông vô rừng mà kiếm. Còn Triệu Dõng ở trước xe, một tay cầm cương, một tay quất ngựa, xe chạy như bay, tên đánh xe kia thấy Triệu Dõng đánh ngựa thì nóng ruột nói thôi anh, gò cương cho chạy chậm chậm kẻo đường sá tối tăm, nếu rủi ro đụng hố sụp hầm, ắt chúng ta phải gãy tay lọi cẳng.

Triệu Dõng nói: “không sao phòng sợ, ta biết cưỡi ngựa cầm cương, có hề chi mà mi ngại, và nói và quất ngựa trót trót, rồi day lại kêu tiểu thơ và nói: Xin tiểu thơ và em ngồi cho vững.

Thu Hà thấy Triệu Dõng giả dạng và thiết kế mà cứu mình, thì khấp khởi mừng thầm, nhưng còn sợ một nỗi hai người kia rượt theo, nên và ngồi và day lại ngó chừng đàng sau, mà trong lòng rất phập phòng hồi hộp.

Khi ra khỏi rừng rồi, thì trời trong trăng tỏ, hai bên đường thì bụi cây lúp xúp truyền núi thấp cao, chạy đặng một đỗi xa xa, xảy thấy một cây đại thọ sùm sề, và đường phân ba ngã; một ngã chạy qua Nam Quang, còn một ngã chạy qua phía Tây Bắc, Triệu Dõng đứng trước cỗ xe ngóng coi một hồi rồi nói: Nếu chúng ta chạy ngã đại lộ Tây Bắc thì đường sá dễ đi, song sợ Vương Bích và Xuân Phương rượt theo, vậy phải chạy qua ngã Nam Quang đặng kiếm chỗ mà ẩn thân đào nạn thì mới tiện.

Tên đánh xe kia nói: Trời ôi! Đường qua Nam Quang bụi bờ gay trỡ, rừng núi hiểm ngay lắm, nếu đi đường đó thì ắt xe gãy ngựa què, gia tài tôi có con ngựa với cái xe, để mà độ nhựt kiếm ăn, nếu anh biểu đi đường nầy, đặng hại tôi cho chết đói sao? Tôi không đi đâu.

Triệu Dõng nghe nói nổi xung, trợn mắt lườm lườm như khu chén, ngó tên đánh xe kia và nói: Xe mi đã cho ta mướn, thì ta đặng phép làm chủ trong lúc hành trình, ta biểu sao mi phải nghe vậy, nếu mi nghịch ý chẳng tuân ta đạp mi xuống xe cho cọp ăn, chừng ấy mi đừng oán trách, nói vừa dứt, bỗng thấy trong bụi cây lúp xúp, ló ra hai ngọn đèn nhấp nhán sáng lòa, hồi đầu còn thấy xa xa, phút chốc đã lần lần đi tới.

Triệu nương bèn kêu Triệu Dõng và chỉ và la: Anh, Anh, đèn nhà ai lấp ló trong bụi kia cà, hay là đèn ma nó hiện ra đó vậy?

Triệu Dõng với tên đánh xe vừa ngó lại, thì thấy hai ngọn đèn ấy quả thiệt lần lần đi tới, kế nghe rống lên một tiếng dậy đất vang rừng, chừng ấy mới biết hai ngọn đèn đó là hai con mắt cọp, nó phóng xạ hào quang nên chiếu ra như đèn thiệt kia vậy, tên đánh xe kia thất kinh la lên, Trời ôi! Cọp, cọp kia kìa, và nói và rung như thằn lằn đứt đuôi. Thu Hà và Triệu nương cũng đều kinh hãi.

Triệu Dõng nói: Có tôi đây không sao phòng sợ, kế con ngựa nghe oai cọp rống, thì oãn hồn vụt nhảy như bay.

Triệu Dõng đứng trước cổ xe, hai tay nắm cương và nói: Tiểu thơ và em ngồi cho vững, nói rồi day lại hai tay gò cương chừng nào, thì con ngựa càng nhảy rột rột chừng nấy, còn xe thì lắc lại nghiêng qua, vồng lên sụp xuống như tuồng muốn lật.

Tên đánh xe kia hoảng vía kinh hồn, mặt mày tái lét, kế cây gọng xe bên hữu sút ra, một đầu rơt xuống lòng thòng dưới đường, đụng đất nghe khua lốp bốp, con ngựa bị cây gọng lớn đập vào hông, lớp va vô cẳng, hoảng kinh ngóng cổ ngay đuôi rồi nhảy nghe vụt vụt như tên bay, hai cánh tay Triệu Dõng mạnh mẽ như thần, nhưng gặp nhằm con ngựa nầy là ngựa tơ, vóc dạng lớn cao, sức lực rất nên hùng tráng, chẳng kể yên cương, không kiên kiều khấu, nên Triệu Dõng gò cương trì lại chừng nào, thì càng lôi xe lướt bánh mà chạy chừng nấy, hai bàn tay Triệu Dõng bị nắm cương kềm thúc, đã mỏi rục phồng da, và nóng hực như lửa, miệng thì kêu đánh xe kia, biểu coi chừng kẻo đứt dây lôi, song tên kia sợ té, hai tay nắm xe chắc cứng, còn miệng thì la chết chết như gõ thoi.

Thu Hà và Triệu nương trong xe thấy vậy cũng hoảng kinh, song hai người đều nống trí dằn lòng, lẳng lặng làm thinh, để cho Triệu Dõng tỉnh tề đặng lo kềm chế con ngựa.

Lúc nầy ngựa đã chảy mập miếng mập mồm, và mình thì đổ mồ hôi như tắm. Bỗng nhe Triệu nương kêu; Anh, anh, phía sau có người ta cưỡi ngựa rượt theo kia kìa.

Triệu Dõng nghe nói ngó lại, thì thấy xa xa quả có hai người đương giục ngựa chạy tới như giông.

Thu Hà thất kinh kêu Triệu Dõng và nói: Trời ôi! Nếu anh tôi và Vương Bích rượt theo, thì chúng ta ắt không thế gì mà trốn khỏi.

Triệu Dõng nói: Xin tiểu thơ chớ lo tới đâu hay đó, kế thấy trước đường có một cái cầu bắc ngang qua sông, hai đầu cầu có xây bốn cây thạch trụ.

Triệu Dõng bèn ráng sức gò cương đặng nhắm thế qua cầu, song gò cương chừng nào, thì ngựa cũng nhảy rột rột như giông chừng nấy. Triệu Dõng thất kinh và tự nhĩ rằng nếu ngựa nhảy như vầy, thì qua cầu ắt có rủi ro nguy hiểm lắm, nhưng đương lúc tâm thần rối loạn, chẳng biết tính sao, chỉ lo sửa ngựa kềm cương, rồi đánh liều nhắm ngay giữa cầu mà chạy, và kêu Thu hà với Triệu nương biểu phải vịn xe cho chắc, hễ nghe la nhảy thì nhảy cho mau, còn phía sau hai người cưỡi ngựa rượt theo, rần rần chạy tới, bỗng nghe tiếng kêu văng vẳng sau xa. Xe xe, ngừng lại, ngừng lại.

Thu Hà thấy cái cảnh ngộ rấp tới sau lưng, và cái tiền đồ hung hiểm trước mắt, thì ngồi trong xe mà thầm than rằng: Trời ôi! Cái cảnh ngộ gì mà bất trắc gian nan như vầy, trước thì có sông cầu càn trở, sau lại thêm người ngựa rượt theo, chẳng biết cái thân nầy có tội lỗi chi với tạo hóa thiên công, nên ngày nay khiến cho nợ oan gia nó cứ theo mãi mãi.

Ớ ngựa kia ôi! Ta cùng mi vốn không thù hận, cớ sao mà mi sanh chứng ác nghiệt dữ dằn? Mi chạy đi đâu mà chẳng kể bờ bụi yên cương? Mi chạy đi đâu mà chẳng kể tiền đồ nguy hiểm đó vậy? Hay là mi quyết đem ta mà bỏ vào chốn cùng đồ tuyệt mạng, hay là mi quyết đem ta mà xô vào nơi vực thẳm sông sâu đó chăng? Nên mi vội vã lướt dặm băng ngàn mà nhảy không ngừng vó, đó vậy?

Thu Hà than vừa dứt lời, thì thấy ngựa và xe đã nhảy lấn lên cầu, kế nghe bánh xe đụng vô trụ đa cái rầm, Triệu Dõng la nhảy một tiếng rất lớn, thì xe và ngựa đã nhào lăn xuống sông, xe văng một nơi, ngựa trôi một phía.

Ôi! Thảm thay cho Thu Hà với Triệu nương là hai gái, mình hạc xương mai, thân bồ vóc liễu, mà gặp một tai nạn rất dữ dằn xảy đến thình lình, như sấm nổ sét văng, thì nghĩ sự chết sống con người, xem nhẹ như mảy lông, và lẹ dường nháy mắt.

Ôi! Thảm thiết thay cho Thu Hà là một gái giai nhơn tuyệt sắc, mà bị cái thời ma vận quỷ, nó cứ đeo đuổi xui giục vào chốn biển nghiệt thành sầu, nó khiến cho gặp cái trở lực rất khốn khổ đảo điên, gặp một cảnh ngộ rất gian truân hung hiểm, lúc dưới biển thì bị sóng dồi gió dập, khi lên bờ thì bị cản trước ngăn sau, thương cho chút phận thơ đào; mới lên khỏi biển lại nhào xuống sông! nên sách Tàu có câu rằng:

Ốc lậu cánh trùng liên dạ vũ,

Thuyền trì hựu ngộ đã đầu phong.

(Nghĩa là nhà dột lại gặp mưa rào, ghe chạm lại gặp gió ngược)

Trong lúc tai lâm nạn chí, phách lạc hồn phi, kể hai người cưỡi ngựa rượt theo vừa tới, bỗng thấy phía trước xe ngựa đều nhào xuống sông, thì thất kinh giục ngựa sải đến như bay, chừng tới đầu cầu thấy một người té trên động cát, còn một người đương chới với giữa sông, người cưỡi ngựa ấy tức thì nhảy xuống lội ra, vớt đem vô bờ, và rất nên khinh dị, rồi một tay ôm người ấy để trên đầu gối, còn chơn kia thì quỳ xuống bãi cát và la lên rằng:

“Ủa nầy Bạch Thu hà phải chăng? Ùa nầy tình khanh phải chăng? Thu hà nào đã trầm thân tự tử? Còn Thu Hà nào nay lại gặp đây?”

Thu Hà nghe hỏi giựt mình, ngó lại thì cái trí mơ màng kinh sợ khi nãy làm cho nàng ngơ ngẩn như giấc chiêm bao, rồi tức thì la lên: Ủa Võ Đông Sơ, Ủa lang … tới đây muốn kêu lang quân thì ngập ngừng mà nín lại, rồi liền chờn vờn đứng dậy, lấy tay xô Đông Sơ dang ra, và nét mặt lộ ra một cách rất lơ là buồn bực, dường như một người nguôi lòng rủn chí, bạc ước vong tình, rồi cúi mặt làm thinh, chẳng nói chi hết.

Kế Triệu Dõng dưới nước trồi lên, thấy thì tưởng Bạch Xuân Phương với Vương Bích, nên lật đật bươn bả lội vô, chừng lại gần thấy Võ Đông Sơ thì mừng quýnh và la lên rằng: ” Ủa Võ ân huynh, ân uynh ở đâu rượt tới, thình lình, làm cho tôi thất kinh, tưởng Bạch Xuân Phương nên đánh xe chạy hoảng”.

Đông Sơ thấy Triệu Dõng và Triệu nương thì mừng rỡ chào hỏi lăng xăng, và nói: “Tôi đi tuần vãng phía Tây Bắc trở về, dọc đường thấy xe, ngỡ là xe của bọn gian nhơn, nên giục ngựa rượt theo, chẳng dè ngày nay chúng ta thình lình, mà đặng nhứt trường tụ hội, thì cũng là một cuộc rất hân hạnh kỳ phùng, làm cho những sự mơ tưởng ước ao bấy lâu, nay thoạt nhiên đổi ra một cảnh ngộ rất vui lòng toại chí.”

Triệu Dõng day lại Thu Hà và hỏi: Tiểu thơ có hề chi chăng?

Thu Hà nói: Không sao, kế nghe phía bên đầu cầu có tiếng rên la, Đông Sơ với tên bộ hạ và Triệu Dõng lật đật chạy lại coi ai, thì thấy tên đánh xe nằm dưới đầu cầu, hai tay ôm chơn và rên và nói:

“Trời ôi! Thời vận mạt rồi, gia tài rụi hết, ý ôi! Ai khiến cho tôi rủi ro đến thế, gặp chi cái mối ác nhơn, ý ôi! Đã làm cho xe gãy ngựa què, mà còn bị quẹo tay lọi cẳng nữa chớ.

Trời ôi! Tôi đã nói đường đi gay trở, mà còn một hai cãi sước chẳng nghe, may không chút nữa ngựa đạp xe đè, chắc phải dập sườn lòi ruột mà chết, ôi, ôi, hại tôi chi vậy, chuyến nầy tôi lãnh cái tay cán vá, với cái cẳng cà khiêu nầy đem về mà báo hại vợ con, ắt nó chủi nghe không hết.”

Triệu Dõng nghe nói lật đật bước lại đỡ lên, thì thấy chẳng chi trọng bịnh cho lắm, duy thấy tay thì cong cong cán vá và cẳng thì nhắc nhắc cà khiêu, lưỡi chắt chắt như thằn lằn, còn miệng la đau đau như seo séo đó thôi.

Đó rồi Triệu Dõng hỏi Đông Sơ rằng: Từ khi ân huynh cách biệt đến nay, chẳng biết ân huynh đi đâu, xin nói cho em rõ?

Đông Sơ nghe hỏi thì trả lời rằng: Từ khi tôi phụng mạng tuần dương, dẹp yên hải khấu, rồi trở về gặp hiền hữu tại sông Nhĩ Hà. Đó rồi về Đông Kinh dâng địa đồ tỉnh Quảng Đông cho Lê công, chẳng dè gặp thơ đồng trao thơ cho tôi, nói rằng tiểu thơ bị anh là Bạch Xuân Phương ép gả cho Vương Bích, nên tiểu thơ không chịu, bèn trốn qua Hải Ninh. Lúc đó tôi tính qua Hải Ninh đặng tìm tiểu thơ. Kế có thánh chỉ sai tôi đi tuần thủ Nam Quang. Khi đi ngang qua Quảng Yên, nghe nói tiểu thơ lạc vào sơn động. Vì vậy nửa đêm tôi lén thám sơn động, đặng tìm kiếm tiểu thơ.”

Triệu Dõng hỏi: Khi ân huynh lên sơn động có gặp tiểu thơ không?

Đông Sơ nói: “Khi tôi lên sơn động có gặp tên chủ sơn động là Hoàng Nhứt lang. Người nầy cũng là một tay anh hùng hảo hớn. Người bèn dắt tôi ra thạch đình đặng hội diện cùng tiểu thơ, chẳng dè tiểu thơ để lại một phong thơ nói rằng nhảy xuống biển mà trầm thân tự tử. Vì vậy tôi tưởng tiểu thơ đã thác, bèn đến chùa Tây hà, thiết lập bài vị đặng để phượng tự tiểu thơ. CHẳng dè tiểu thơ còn sống mà ngày nay đặng gặp tại đây. Vậy thì chưa rõ duyên cớ thể nào, xin hiền hữu thuật lại cho tôi nghe thử.”

Triệu Dõng bèn thuật khi cứu tiểu thơ tại thạch đình rồi đưa thẳng qua Hải Ninh tìm dì mà không gặp, bèn vào lữ quán đình trú, kế đó lại gặp Bạch Xuân Phương và Vương Bích bắt tiểu thơ lên xe chở đi. Vì vậy tôi phải thiết kế giả làm tên đánh xe mà cứu tiểu thơ thoát khỏi.

Đông Sơ nghe rồi lấy làm mừng rỡ và cám ơn Triệu Dõng vô cùng. Rồi nói: “Cảm phiền hiền hữu kiếm coi nhà ai gần đây, đặc dắt tiểu thơ và Triệu nương tạm vào nghỉ ngơi một chút.”

Triệu Dõng liền bước lên cầu ngóng xem bốn phía, xảy thấy có một cái nhà ẩn ẩn trong chòm cây, ở gần mé lộ, thì chỉ cho Đông Sơ, đó rồi các anh em đều dắt nhau vào nhà gõ cửa.

Related Images:

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 24

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 24Hồi thứ 24:

Chùa Tây Hà thục nữ tới hành hương

Nơi lữ quán oan gia theo nối gót


 Ghi chú từ người đánh máy:

Tác phẩm này sáng tác vào những năm đầu thế kỷ 20, khi đó chữ Quốc Ngữ đang được hình thành. Do đó cách dùng từ và cách dùng dấu hỏi – dấu ngã khác so với hiện đại.

Để tránh việc hiểu sai “lỗi chính tả” cho các bạn trẻ, người đánh máy xin được “sửa lỗi chính tả” cho giống ngày nay. Đồng thời xin được đính kèm hình chụp Bản In Gốc do Thư viện Quốc Gia Việt Nam số hóa. Qua đó độc giả dễ dàng tìm hiểu – so sánh sự khác biệt, thay đổi của chữ Quốc Ngữ trong gần 100 năm qua.

Hình chụp Bản In Gốc năm 1926


Khi ra tới tỉnh Hải Ninh, Triệu Dõng dắt tiểu thơ và em là Triệu nương lên mướn một khách phòng sạch sẻ, rồi ba chị em ở đó nghỉ ngơi. Qua bữa sau, Thu Hà nói với Triệu Dõng rằng: Cảm phiền Triệu quí hữu làm ơn đi kiếm dùm nhà dì tôi là Mã thị Phu nhơn coi ở đâu, đặng đến viếng thăm và có nơi đình trú cho phương tiện.

Triệu Dõng vâng lời lật đật ra đi, chẳng dè Mã thị đã theo chồng đi trấn nhậm phương xa, vì vậy nên ba người phải ở tạm lại lữ quán ít ngày đặng nghe ngóng tin tức Võ Đông Sơ rồi sẽ toan bề tìm qua xứ khác.

Bữa nọ nhằm tiết Trung Nguyên, ngày rằm tháng bảy, tại mé Tây Hà có một cảnh chùa rất nguy nga tráng lệ. Nào là thiện nam tín nữ, nào là tài tử giai nhơn, xe ngựa nhộn nhàn, sắm sửa trà quả hương đăng, rủ nhau lăn xăng đến chùa, kẻ thì khẩn phước cầu duyên, người thì qui y thọ phái.

Thu Hà thấy vậy thì nói với Triệu nương rằng: Nay nhơn dịp ngày lành tháng tốt, chị em ta dắt nhau lên chùa, trước là bái phật hành hương, sau là dạo xem phong cảnh cho giải muộn, đó rồi hai chị em mướn xe ra đi. Khi lên tới chùa lạy Phật rồi ra hậu đường xem coi, bỗng thấy một bàn hương án sơn son thiếp vàng rực rỡ, chính giữa để một bài vị, hương đăng nghi ngút, hoa quả tốt tươi.

Thu Hà liền bước lại xem, thấy trên bài vị có khắc một hàng chữ như vầy: “Đông Kinh nữ công tử Bạch Thu Hà linh vị” thì thất kinh liền kêu Triệu nương lại xem và nói: Sự nầy cũng một sự rất lạ, chẳng biết cớ sao ai đem tên tôi vào đây mà thờ phượng như vầy? Nói vừa dứt thì thấy một bên có khắn thêm một hàng chữ nhỏ rằng: “Ngự lâm quân đô húy Võ Đông Sơ phụng lập”.

Thu Hà với Triệu nương ngó nhau sững sờ chẳng biết cớ sao mình còn sống đây, mà Đông Sơ lại lập bài vị tên mình mà thờ cũng là một điều rất lạ?

Triệu nương nghĩ một hồi rồi nói: “Vậy thì chắc là Võ Đông Sơ tưởng tiểu thơ thác rồi, nên mới lập bài vị nơi chùa đặng để làm kỷ niện, và tam nguyên tứ quí thờ phượng tiểu thơ, nếu tiểu thơ muốn tỏ căn do, xin hỏi Đạo trưởng thiền sư chùa nầy thì biết.”

Kế thấy một vị thiền sư phía kia đi tới rồi lại trước hương án, đánh ba tiếng chuông và đốt hương khấn vái.

Thu hà bước tới và hỏi: Bạch quá thiền sư, chẳng biết Bạch Thu Hà trong bài vị nầy là ai, và sự tích làm sao, xin thiền sư nói cho tôi rõ.”

Thiền sư nói: “Tôi đây chẳng rõ, song cách một tháng nay, có quan đô húy Võ Đông Sơ đến nói: Nữ công tử Bạch Thu Hà nầy là người ở Đông Kinh, đã nhảy xuống biển mà tự tử, nên xin lập bài vị nầy nơi chùa, và gởi tiền bạc cho chúng tôi, đặng mua sắm hương đăng mà phụng tự.”

Thu Hà nghe nói thì ngó Triệu nương và gặt đầu rồi day lại hỏi: “Vậy bây giờ đây thiền sư có biết Võ Đông Sơ ở đâu chăng?”

Thiền sư nói: ” Tôi nghe nói người đã đi tuần thủ phía Nam Quang, chẳng biết chừng nào trở lại.”

Thu Hà nghe rồi liền cảm ơn thiền sư và dắt Triệu nương trở ra trước chùa, đứng xem phong cảnh, xảy thấy trong đám đông phía kia, có một người đương đứng lom lom xỏ mắt chăm chỉ ngó mình, thì sảng sốt hãi kinh rồi mặt mày liền tái xanh thất sắc. Xem như một đóa đào hoa đương tốt tươi rực rỡ dưới bóng dương quang, bỗng chốc nhụy xũ hoa tàn, hồng phai phấn lợt, rồi kêu Triệu nương và nói: “Cô làm ơn vịn giùm tôi ra xe cho mau mau.”

Triệu nương nghe kêu, liền bước lại nắm tay Thu hà, thì tay chơn đều lạnh, Triệu nương thất kinh và kêu và hỏi: Tiểu thơ sao vậy tiểu thơ?

Thu Hà lắc đầu, và mắt ngó qua phía kia dớn dác và nói: cho mau, cho mau vịn tôi ra xe một chút.

Khi ra tới xe thì hối tên đánh xe giục ngựa chạy mau, còn mình dựa vào mui, một tay vịn xe, một tay chận ngang trên ngực, dường như bị chừng kinh tâm, trong ngực rất phập phồng hồi hộp.

Xe chạy một đỗi, Thu Hà day mắt ngó lại phía sau, thì vùng la lên; biểu chạy cho mau, người ta theo, người ta theo kia kìa.

Triệu nương lấy làm lạ, chẳng biết ai theo liền day đầu ngó lại, thì quả nhiên thấy một người đương bươn bả theo sau, Triệu nương liền hối tên đánh xe chạy đi cho kíp.

Khi xe về tới lữ phòng, ngó lại thì người ấy đâu mất, đó rồi Thu Hà xuống xe bước vào phòng, ngồi dựa nơi ghế, sắc mặt buồn hiu, dường như có việc tai biến xảy đến thình lình làm cho tâm thần đều hoảng hốt.

Kế Triệu Dõng ngoài cửa bước vô, thấy Thu hà mặt mày khác sắc, thì lấy làm lạ, lật đật bước lại và hỏi: “Thưa tiểu thơ, hôm nay tiểu thơ trong mình có đau chứng chi, thì xin nói, đặng tôi kiếm thầy thuốc thang điều trị.”

Thu Hà lắc đầu và nói: “Không không, xin Triệu hữu đừng rước thầy mất công, bịnh tôi ngày nay đây, dẫu cho thánh dược thần y có đây, thế cũng vô phương điều trị.”

Triệu Dõng nói: “Thưa tiểu thơ, hay là tiểu thơ có điều chi kinh hãi, mà cảm xúc nơi lòng, thời nói cho tôi rõ. Nếu tôi có thể phân ưu cùng tiểu thơ, thì dầu cho thiên lao vạn khổ, tôi cũng chẳng dám từ nan, nếu tiểu thơ chẳng chịu tỏ thiệt bày ngay, để khi đến việc, thì tính sao cho kịp.”

Thu Hà nghe Triệu Dõng nói vậy, thì trầm tư tự nghĩ một hồi rồi trả lời rằng: “Triệu quí hữu ôi! Nếu Triệu quí hữu chẳng nài khó nhọc, thì xin làm ơn mau mau đem tôi qua xứ khác mà thoát thân, nếu ở đây tôi sẽ bị người bức ép buộc ràng, và chắc tôi phải liều thân mà tự tử một lần nữa.”

Triệu Dõng nghe thì nhíu mày và lấy làm lạ rồi hỏi: “Ở đây thì sẽ bị người bức ép? Mà xin tiểu thơ nói cho tôi rõ. Người bức hiếp ấy là ai?”

Thu Hà nói: Người bức hiếp ấy là người tôi mới gặp tại chùa Tây Hà, và rượt theo tôi khi nãy, nói tới đây, thì giựt mình đứng dậy, dớn dác ngó mông, kế nghe tiếng giày lộp cộp ngoài cửa đi vô. Triệu Dõng lật đật bước ra coi ai, thấy hai người mặt đồ mã kỵ xung xăng đi vô.

Triệu Dõng liền bước tránh qua phòng kia, đứng núp rình coi, thấy hai người ấy bộ tịch băng xăng đi thẳng tới phòng Thu hà thì dừng chơn đứng lại, rồi cả hai dắt nhau bước vô, Thu hà ngó ra thấy người bước vô trước thì thất kinh, té ngồi xuống ghế, rồi ngó lại thấy người bước vô sau là người gặp nơi chùa, thì càng sững sờ và mặt mày thất sắc.

Triệu nương chẳng biết người trước là ai, song thấy người sau thì tức thì nhìn biết là người rượt theo xe khi nãy.

Nguyên hai người nầy, một người là Bạch Xuân Phương là anh ruột Thu Hà, còn một người là Vương Bích là người cưới hụt Thu Hà khi trước.

Nguyên từ khi Bạch Thu hà từ hôn trốn đi, thì Vương Bích và Bạch Xuân Phương, dắt nhau đi tìm kiếm khắp nơi. Khi đi tới tỉnh Hải Ninh hai người đều vào lữ quán thê ngụ.

Bữa nọ Vương Bích lên chùa dạo xem phong cảnh, xảy gặp Bạch Thu Hà thì vội vã rượt theo. Chừng thấy Thu hà vào khách phòng, thì lật đật trở lại thông tin cho Bạch Xuân Phương hay, rồi hai người dắt nhau tới khách phòng mà kiếm.

Khi Bạch Xuân phương thấy Thu hà ngồi dựa trong phòng, liền bước vô lấy giọng nghiêm trang quở trách và nói: “Thu Hà, em sao rất tệ, làm cho bối rối đạo nhà. Cớ sao nửa đêm lén bỏ ra đi, mà chẳng chịu vầy duyên cùng Vương Bích? Trước đã chẳng tuân theo lời gia huấn, sau là chẳng kể đến luật quan trên, vả lại mình là con nhà trâm anh vọng tộc, mà đem thân lưu lạc giang hồ, như một đứa hạ tiện nữ lưu kia, thì còn chi gọi rằng một gái khuê môn danh giá? Nay đã có Vương Bích đây, vậy em phải trở về mà vầy cuộc nhơn duyên, trước là việc hôn phối sẽ đặng hoàn thành, sau là tránh tiếng thiên hạ người chê bai nghị luận.”

Thu Hà nghe anh nói vậy, thì sắc mặt buồn xàu, và trả lời rằng: “Thưa anh, xin anh chớ nhọc lòng ép buộc, vì em đã quyết ý từ hôn, em nay cũng như bát nước đổ đi, lã nào còn toan bề hốt lại thì sao đặng.”

Vương Bích thấy Thu Hà chẳng chịu, thì bước tới và nói rằng: “Xin tiểu thơ hãy hồi tâm xét lại, rồi nghĩ đó mà coi, việc hôn nhơn là một việc đại sự trong đạo cang thường, chớ chẳng phải như việc tầm thường nhỏ mọn. Vả lại khi cưới gả thì đã có quan viên thị chứng, hai bên thân tộc rõ ràng. Và có sính lễ hôn thơ, tôi còn giữ đây để làm bằng cớ. Nếu tiểu thơ quyết ý từ hôn chẳng chịu, thế thì tôi phải kiêm tương nội vụ mà đầu cáo cùng quan trên. Chừng ấy tôi e cho tiểu thơ chẳng những là bị tội bội ước đào hôn, mà Bạch công tử đây là anh của tiểu thơ cũng chẳng tránh khỏi tội đồng mưu liên lụy đó nữa. Tiểu thơ là người thông minh hào mại, lẽ đâu chẳng rõ pháp luật triều đình, xin tiểu thơ hãy thẩm đoán trầm cơ, nếu để cho tồi bại gia phong, thì còn chi là danh giá của con nhà trâm anh vọng tộc.

Vương Bích nói rồi, thò tay vào túi lấy tờ tập nả đưa ra. Thu Hà thấy tờ tập nả có chữ quan phê, thì thất kinh và tự nghĩ rằng: “nếu mình để cho người bất bình sanh sự, một mai kiện tới quan trên, hì ra việc tồi bại gia phong, và anh mình với mình chẳng khỏi mang điều tội lệ.” Nghĩ vậy rồi cái lòng kinh nghi nó đánh giặc với trí khôn, làm cho nét mặt hồng nhan đã hiện ra một vẻ thảm đạm ưu sầu, và hai tròng thu ba đã rưng rưng giọt lệ, kế đó Bạch Xuân Phương tiếp nói: “Vậy thì em phải sắm sửa đi theo hai ta, nếu cượng lý bất tuân, thì lập tức ta phải mượn phép quan trên trừng trị, nói rồi bước ra kêu tên quán, biểu đi mướn một cỗ xe ngựa cho hẳn hòi, đặng chở Thu Hà qua Thái khê là chỗ của Vương Bích và Bạch Xuân Phương thê ngụ. Chỗ ấy xa cách tỉnh thành chừng 50 dặm.

Một hồi lâu, nghe tiếng ngựa xe rần rần chạy tới, thấy hai người ngồi trước cỗ xe, một người mặc đồ xanh, và một người đầu đội một cái nón ngựa sụp xuống phủ mặt, và vai choàng một áo tơi đặng để che mưa.

Bạch Xuân Phương ra hỏi: ngựa ấy chạy hay không?

Tên đánh xe kia nói: Thưa quan nhơn ngựa nầy hay lắm.

Bạch Xuân Phương thấy ngựa vạm vỡ thì bằng lòng rồi vội vã trở vô biểu Thu hà ra xe tức tốc.

Triệu nương thấy Thu Hà ra xe thì lật đật bước ra, ngó xem tứ phía, có ý kiếm anh là Triệu Dõng, nhưng chẳng thấy Triệu Dõng ở đâu, còn Thu hà thì bịn rịn Triệu nương, chẳng chịu rời nhau, vì vậy nên Triệu nương cũng phải lên xe đi theo, đặng chị em giúp đỡ nhau trong lúc hành trình cho có bạn, còn Vương Bích với Xuân pương hai người đều cưỡi ngựa chạy theo sau xe mà hộ tống tiểu thơ.

Related Images:

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 23

Tân Dân Tử – Giọt máu chung tình – Hồi thứ 23Hồi thứ 23:

Bị trôi nổi một thuyền tuông sóng gió

Gặp hiểm nguy, hai gái luận tinh thần


 Ghi chú từ người đánh máy:

Tác phẩm này sáng tác vào những năm đầu thế kỷ 20, khi đó chữ Quốc Ngữ đang được hình thành. Do đó cách dùng từ và cách dùng dấu hỏi – dấu ngã khác so với hiện đại.

Để tránh việc hiểu sai “lỗi chính tả” cho các bạn trẻ, người đánh máy xin được “sửa lỗi chính tả” cho giống ngày nay. Đồng thời xin được đính kèm hình chụp Bản In Gốc do Thư viện Quốc Gia Việt Nam số hóa. Qua đó độc giả dễ dàng tìm hiểu – so sánh sự khác biệt, thay đổi của chữ Quốc Ngữ trong gần 100 năm qua.

Hình chụp Bản In Gốc năm 1926


Lúc nầy Triệu Dõng đứng trên cồn đá kia, thấy chiếc ghe bị gió, bê lần ra khơi, lắc lại nghiêng qua, trồi lên hụp xuống như bong bóng, thì trong lòng lo buồn hồi hộp, kinh hãi xiết bao, nhưng chẳng biết tính sao, đặng lội theo mà tiếp cứu, còn Thu Hà với Triệu nương ở trên ghe đương ngẩn ngơ lính quýnh, lại thêm gió dập sóng dồi, phần thì lo sợ cho Triệu Dõng đánh với tên kia, chẳng biết thắng bại thể nào, phần thì ghe càng ngày càng trôi ra xa, và sóng càng ngày càng lớn, lượng thì dựng lên trước mũi, dường như xốc đến mà chận ngả đón đường, lượng thì chồm tới sau ghe, dường như áp lại mà giựt buồm bẻ lái, nào là cá xà cá mập, vơ vơ vởn vởn lội theo bên ghe, nào là sức ngạt oai kình, vùng vẫy xung xăng, hả miệng trương vi, táp nghe bầm bập, tuồng như nó đợi người sa cơ thất thế, đặng nuốt sống ăn tươi, ấy là một giống dị loại vô tình, thừa dịp mà hại người lương thiện.

Cái cảnh ngộ rất dữ dằn hung hiểm ấy, dẫu cho một đứng anh hùng khí phách, cũng phải tán đởm kinh tâm, huống hồ hai gái liễu yếu đào thơ như Thu Hà với Triệu nương nầy, mà lại gặp lúc vang trận cuồng phong, thiên trùng nộ lãng như vậy, thế thì cũng phải điên hồn não ruột, nhưng Thu Hà đứng dựa khoan ghe cách tĩnh tề dạn dĩ, rồi day lại nói với Triệu nương rằng: “Chị em mình tuy là phận quần xoa nhi nữ, song cũng biết lấy một tinh thần mạnh mẽ mà đối với cái cảnh ngộ hiểm nguy nầy cho dạn dĩ vững vàng, chẳng nên thấy cái cảnh ngộ dữ dằn ấy mà rúng động tâm thần, và để sự kinh hãi kia lừng lẫy lên mà làm cho xàu gan héo ruột.

Những người như vậy là một người liệt nhược tinh thần, xác thịt chưa chết mà linh hồn đà chết trước là vậy đó, cái chết mà phải nhơn phải nghĩa, thì dám lấy sanh mạng mà liều với sông biển nước non. SOng hiềm là hiềm việc chưa đáng chi, mà bởi vì một tôi, mang vận đảo điên, làm cho hai anh em cô, phải mang điều hoạn họa, thì tôi sao nỡ yên lòng.”

Triệu nương nói: “Xin tiểu thơ chớ ngại anh em tôi chỉ biết lấy sự phò nguy cứu nạn, tựu nghĩa thi ân, mà gánh vác nơi vai, làm một gia tài sự nghiệp, dẫu cho vào sanh ra tử thế nào, cũng chẳng nao lòng núng dạ tôi xét lại cái cảnh ngộ hiểm nguy ấy là một chỗ nghiệt trường của tạo hóa, để đem một trở lực rất khổ sở gian nan mà nộ những kẻ yếu vía nhát gan, và hại những người vận cùng mạng bạc; song cũng là một chỗ cao đẳng học đường, để mà tập luyện cho dạn dĩ mạnh mẽ cái chí khí tinh thần của kẻ anh hùng cùng người biệt nữ trong thế giới.

Vậy thì cái cảnh ngộ ngày nay đây, là một chỗ nghiệt trường của mạng vận, hay là một chỗ trường học của anh hùng, thì xin phú cho tạo hóa định phân, chí như sự chết mà được một nghĩa vụ với xã hội nhơn quần, thì tôi xem cái chết ấy dường một mùi ngọt miếng ngon; còn sống mà chẳng ích chi với non nước quê hương, thì xem cái sống ấy chẳng khách chi loài túi cơm giá áo kia vậy.”

Thu Hà nghe Triệu nương nói mấy lời thì ngạc nhiên rồi nói: “Tôi chẳng dè cô nương là một gái đào thơ liễu yếu mà nói đặng những lời có tư tưởng cao thượng và ý vị thâm trầm, dẫu cho đứng bực tu mi cũng ít người sánh kịp.”

Thu Hà đương nói chuyện với Triệu nương, xảy thấy một lá buồm trắng trắng trong mé cù lao ló ra, rồi phăng phăng chạy tới, thì hai chị em chăm chăm mắt ngó, và trong lòng hồ nghi cho ghe của bọn Hoàng Nhứt Lang rượt theo.

Khi chiếc ghe ấy gần tới, thì thấy 6,7 người ra đứng trên mui ghe, song lúc ấy trăng bị mây án mờ mờ, nên không thấy rõ, bỗng nghe bên ghe ấy kêu lớn một tiếng và hỏi rằng: “Tiểu thơ và hiền muội bình yên vô dạng?”

Triệu nương nghe hỏi thì biết anh là Triệu Dõng song chẳng biết nghe ấy là ghe nào, kế thấy Triệu Dõng bước ra chào mừng hớn hở và nói: Khi tôi đương đứng trên tồn đá, may gặp chiếc ghe chạy ngang qua tôi bèn xin ra đây mà tiếp cứu, ấy cũng một sự may mắn hồng phúc của chúng ta, bây giờ mới đặng chị em nhứt trường tụ hội.

Nói rồi Triệu Dõng liền nhảy qua ghe sửa soạn buồm chèo tử tế, rồi thuận gió chạy vào Hải Ninh đặng dọ thám tin tức Võ Đông Sơ luôn thể.

Related Images: