Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 29 – Dạ tọa

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 29 – Dạ tọa

Phiên âm (*)

Xuân  hàn dạ sắc thân,

Độc tọa tứ do ngâm.

Hương tận kim lô lãnh,

Đăng tàn ngọc lậu trầm.

Các phong lương yến thụy,

Song vũ thấp trùng âm.

Kim cổ tam canh mộng,

Càn khôn nhất phiến tâm.


Dịch nghĩa: Ngồi ban đêm

Xuân lạnh sắc đêm khuya dần,

Một mình ngồi nghĩ tứ làm thơ.

Hương cháy hết lò vàng lạnh,

Đèn tàn giọt nước đồng hồ trầm trầm.

Gió gác thổi lạnh con én ngủ,

Mưa ngoài song làm tiếng trùng ẩm ướt.

Kim cổ mộng ba canh,

Trời đất một tấm lòng.


Hoài Anh dịch thơ

Xuân lạnh đêm khuya khoắt,

Ngồi nghĩ tứ thơ ngâm.

Hương tắt lò vàng lạnh,

Đèn tàn giọt lậu trầm.

Én ngủ lạnh gió gác,

Tiếng trùng ẩm mưa dầm.

Kim cổ ba canh mộng,

Giữa trời đất giãi tâm.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 28 – Thính vũ

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 28 – Thính vũ

Phiên âm (*)

Vạn điểm thanh hà tế,

Khất văn nhĩ tứ trường.

Động Đình bi Thuấn đế (1),

Vu hiệp oán Tương vương.

Dục hộ hoa tâm lãnh,

Hoàn lân diệp sí lương.

Tiêu tiêu thuên ngoại vũ,

Độc ngọa khách trung sàng.


Dịch nghĩa: Nghe mưa

Muôn giọt tiếng sao nhẹ,

Thoạt nghe tứ khách miên man.

Hồ Động Đình buồn cho vua Thuấn,

Khe núi Vu hiệp oán Sở Tương vương.

Muốn che chở cho lòng hoa lạnh,

Còn thương cánh bướm rét.

Thánh thót mưa ngoài trời,

Một mình ngồi trên giường nơi đất khách.


Chú thích

(1): Thuấn: vua đời thượng cổ ở Trung Quốc. Ông có tài trị nước và rất có hiếu.


Hoài Anh dịch thơ

Muôn giọt tiếng sao nhẹ,

Tứ khách rộn trăm đường.

Động Đình buồn Thuấn đế,

Vu hiệp ia1n Tương vương.

Lòng hoa lạnh muốn ủ,

Cánh bướm rét càng thương.

Ngoài trời mưa thánh thót,

Một mình ngồi trên giường.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 27 – Kỳ thập nhị

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 27 – Kỳ thập nhị

Phiên âm (*)

Nam Bắc phân phương quốc,

Càn khôn thị nhất gia.

Tống tình xuân yểu điệu,

Khiển hứng nguyệt quang hoa.

Liễu phất hoàng kim diệp,

Tuyết khai bạch ngọc hoa.

Dao khan xuân thảo sắc,

Vô hạn lục thiên nhai.


Dịch nghĩa: Bài mười hai

Nam Bắc chia ra từng nước,

Đất trời cũng là một nhà.

Tống tình xuân yểu điệu,

Gợi hứng trăng sáng đẹp.

Liễu phất lá như vàng ròng,

Tuyết nở hoa ngọc trắng.

Xa xăm sắc cỏ xuân,

Biếc vô hạn chân trời.


Hoài Anh dịch thơ

Bắc Nam chia từng nước,

Trời đất một nhà thôi.

Tống tình xuân yểu điệu,

Gợi hứng trăng sáng tươi.

Liễu phất lá vàng diệp,

Tuyết nở hoa ngọc ngời.

Sắc cỏ xuân xa ngắm,

Vô hạn biếc chân trời.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 26 – Kỳ thập nhất

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 26 – Kỳ thập nhất

Phiên âm (*)

Ái nguyệt vị quan môn,

Lân hoa biệt viễn thôn.

Hải sầu ngư hữu lệ,

Sơn hận điểu năng ngôn.

Bất tận Trang Chu (1) mộng,

Vô biên Thục đế (2) hồn.

Vị thùy xuân tịch mịch,

Ức nhĩ dạ ôn tồn.


Dịch nghĩa: Bài mười một

Yêu trăng chưa đóng cửa,

Thương hoa biệt thôn xa.

Biển sầu cá có lệ,

Núi hận chim biết nói.

Bất tận, mộng Trang Chu,

Vô biên, hồn Thục đế.

Vì ai mà xuân tịch mịch,

Nhớ nàng trong đêm ôn tồn.


Chú thích

(1): Trang Chu tức Trang Tử (369-286 TCN) là người có tài học rộng, vang danh thiên hạ.

(2): Thục đế: vua nước Thục tên là Đỗ Vũ, theo truyền thuyết ông mất nước nên khi chết hồn hóa làm chim quyên, ở ta hay gọi là con cuốc, con quốc.


Hoài Anh dịch thơ

Yêu trăng cửa chửa cài then,

Thương hoa đành biệt thôn miền xa khơi.

Biển sầu cá có lệ rơi,

Núi hờn chim biết cất lời nói năng.

Bất tận là mộng thầy Trang,

Vô biên, hồn Thục đế loang máu hờn.

Vì ai quạnh quẽ xuân buồn,

Nhớ nàng thủ thỉ ôn tồn trong đêm.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 25 – Kỳ thập

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 25 – Kỳ thập

Phiên âm (*)

Sinh bình hà sở lạc,

Ẩm tửu độc Ly Tao.

Sở địa phong ba hiểm,

Vu sơn mộng mị lao.

Vạn lý giang hồ viễn,

Quân thần nhất niệm cao.

Khứ quốc ưu thiên vấn (1),

Mưu thân quý xuyết tao.


Dịch nghĩa: Bài mười

Sinh bình lấy gì làm vui,

Uống rượu đọc Ly Tao.

Đất Sở phong ba nguy hiểm,

Núi Vu mộng mị uổng công.

Ngàn dặm giang hồ xa,

Niềm quân thần vẫn trọng.

Xa nước buồn lo hỏi trời,

Mưu cho thân mình thẹn húp hèm rượu.


Chú thích

(1): Trong tập Ly Tao của Khuất Nguyên có bài Thiên vấn (Hỏi trời).


Hoài Anh dịch thơ

Sinh bình vui thú những gì?

Chỉ ham uống rượu đọc Ly Tao mà!

Đất Sở nguy hiểm phong ba,

Non Vu mộng mị rốt là uổng công.

Giang hồ xa thẳm ngàn trùng,

Niềm quân thần giữ trong lòng dám sai.

Xa nước buồn lo hỏi trời,

Mưu cho mình, thẹn nhấp môi bã hèm.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

 

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 24 – Kỳ cửu

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 24 – Kỳ cửu

Phiên âm (*)

Ngô nhân hồn nhược nhạn,

Nam bắc cộng phi minh.

Tiên hậu phân tân chủ,

Thê trì ức đệ huynh.

Dung dung minh nguyệt viện,

Mạc mạc mộ vân thành.

Vạn lý đồng vi khách,

Thiên nhai nhất phiến tình.


Dịch nghĩa: Bài chín

Bọn ta giống như nhạn,

Nam bắc cùng bay kêu.

Trước sau phân chủ khách,

Đậu lâu nơi nào nhớ anh em.

Đầy đặn trăng sáng ở viện,

Mờ mịt thành mây tối.

Vạn dặm cùng là khách,

Chân trời một tấm tình.


Hoài Anh dịch thơ

Bọn ta với nhạn khác nào,

Cùng bay nam bắc cùng kêu ngắn dài.

Trước sau chủ khách phân ngôi,

Đậu lâu mong nhớ bồi hồi anh em.

Đầy đầy trăng sáng viện đêm,

Mờ mờ chiều tối đùn thêm mây thành.

Cùng thân đất khách nổi nênh,

Nơi chân trời một tấm tình gửi nhau.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images: