Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 20 – Kỳ ngũ

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 20 – Kỳ ngũ

Phiên âm (*)

Xuân sầu hoa hữu thái,

Thu tận nhạn vô thư.

Thiếp ý liên tâm khổ,

Quân tình liễu nhãn sơ.

Đỗ quyên đề vị tuyệt,

Hồ điệp mộng hoàn hư (1).

Đa thiểu tương tư lệ,

Lưu thành thủy mãn cừ.


Dịch nghĩa: Bài năm

Xuân sầu hoa có dáng vẻ buồn,

Thu hết nhạn không có thư.

Ý thiếp lòng sen đắng,

Tình chàng mắt liễu sơ.

Cuốc kêu mãi chưa dứt,

Mộng bướm vẫn là hư huyễn.

Ít nhiều lệ tương tư,

Chảy thành nước đầy ngòi.


Chú thích

(1): Hồ điệp là con bươm bướm, thường chỉ là giấc mộng.


Hoài Anh dịch thơ

Xuân sầu hoa dáng thẫn thờ,

Thu tàn nhạn chẳng mang thư, lòng phiền.

Ý thiếp đắng ngắt lòng sen,

Tình chàng mắt liễu chỉ nhìn phớt qua.

Cuốc kêu mãi chẳng dứt mà,

Tỉnh ra mộng bướm vẫn là huyễn hư.

Ít nhiều giọt lệ tương tư,

Chảy thành làn nước ngập cừ đầy khe.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 19 – Kỳ tứ

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 19 – Kỳ tứ

Phiên âm (*)

Nhân thế đa phiền não,

Bế môn viễn thị phi.

Sĩ sư (1) đồng giới sắc,

Trang Tử cộng vong cơ. (2)

Tập tĩnh thi ma phục,

An thiền tửu khách vi.

Quế Lâm lai diện bích, (3)

Thủy giác đạo tâm vi.


Dịch nghĩa: Bài bốn

Vào đời nhiều phiền não,

Đóng cửa xa lánh thị phi.

Cùng giới sắc với đấng Sĩ sư,

Cùng không có cơ tâm như Trang Tử.

Tập quen tĩnh ma thơ phục chờ,

An lòng thiền khách rượu ít.

Quế Lâm đến quay mặt vào vách,

Bắt đầu hiểu lòng đạo huyền vi.


Chú thích

(1): Sĩ sư: tức ông Cao Dao, quan coi về hình pháp thời vua Thuấn.

(2): Vong cơ: không có tâm cơ.

(3): Diện bích: quay mặt vào vách, ý chỉ thiền định.


Hoài Anh dịch thơ

Vào đời phiền não càng nhiều,

Chi bằng đóng cửa lánh điều thị phi.

Giới sắc theo gương Sĩ sư,

Không cơ tâm có khác thì thầy Trang.

Quen tĩnh, ma thơ nấp giường,

An thiền, khách rượu ngày càng ít đi.

Mặt quay vào vách, nghĩ suy,

Mối hay tâm đạo huyền vi lạ thường.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 18 – Kỳ tam

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 18 – Kỳ tam

Phiên âm (*)

Địa đa ly biệt thụ,

Nhân trọng đoạn trường thi.

Lạp chúc lưu sầu lệ,

Xuân tàm thổ hận ti. (1)

Hoành không mê sở vọng,

Viễn thủy ký tương tư.

Bất tận thương tâm xứ,

Quế lâm nhật mộ thì.


Dịch nghĩa: Bài ba

Đất nhiều cây ly biệt,

Người trọng thơ đạon trường.

Ngọn nến chảy lệ sầu,

Tằm xuân nhả tơ hận.

Nhìn ngang không thấy mờ mịt,

Nước xa gửu niềm tương tư.

Chỗ đau lòng vô hạn,

Là lúc Quế Lâm trời tối.


Chú thích

(1): Do hai câu thơ trích trong bài Vô đề  của Lý Thương Ẩn.

Xuân tàm đáo tử ti phương tận,

Lạpchúc thành hôi lệ thuỷ can

(Nghĩa là:

 Tằm xuân đến chết tơ mới hết,

Nến thành tro lệ mới khô.)


Hoài Anh dịch thơ

Đất có nhiều cây biệt ly,

Con người trọng nhất bài thi đoạn trường.

Nến hồng lệ rỏ sầu thương,

Tằm xuân tơ nhả còn vương hận lòng.

Nhìn ngang mờ mịt bầu không,

Niềm tương tư gửi theo dòng nước xa.

Nơi thương tâm nhất của ta,

Là Quế Lâm lúc trời tà nhá nhem.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 17 – Kỳ nhị

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 17 – Kỳ nhị

Phiên âm (*)

Vi tài thù thịnh thế,

Cô ảnh đối tàn giang.

Trực dĩ quân vương sự,

Nan lai phụ mẫu bang (1).

Hàn chung minh cổ tự,

Viễn khách ngọa thương giang.

Sổ điểm mai hoa lạc (2),

Sơn thành cố quốc xoang.


Dịch nghĩa: Bài hai

Tài mọn đáp đền đời thịnh,

Bóng lẻ đối chiếc thạp cũ.

Mãi lo việc quân vương,

Khó tới nước cha mẹ.

Chuông lạnh ngân chùa cổ,

Viễn khách nằm ở sông xanh.

Mấy điểm hoa mai rụng,

Điệu của nước cũ ở thành núi.


Chú thích

(1): (Chú thích của Ngô Nhơn Tĩnh) Tổ quán ở huyện Sơn Âm, Chiết Giang.

(2): Mai hoa lạc cũng là tên một điệu nhạc.


Hoài Anh dịch thơ

Tài mọn đáp đời thịnh,

Bóng lẻ đối lu tàn.

Việc quân vương mải gánh,

Nước cha mẹ khó sang.

Chuông lạnh ngân chùa cổ,

Viễn khách ngủ thương giang.

Mấy điểm hoa mai rụng,

Điệu nước cũ nghe vang.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 16 – Khách trung tạp cảm

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 16 – Khách trung tạp cảm

Phiên âm (*)

Tứ hải phong trần tịnh,

Cửu thiên vũ lộ nùng.

Khứ niên phương ương chưởng,

Kim nhật tạm thung dung.

Gia viễn thư ưng trệ,

Quan nhàn ấn diệc phong.

Triêu triêu vân ngoại vọng,

Bất yếm thị quần phong.


Dịch nghĩa: Tạp cảm nơi đất khách

Bốn biển cơn gió bụi lặng,

Chín tầng trời mưa móc đượm nhuần.

Năm ngoái còn nắm dây vòng cổ ngựa,

Ngày nay tạm được thong dong.

Nhà xa thư thường đến chậm,

Việc quan nhàn ấn cũng phong lại.

Sáng sáng nhìn ngoài mây,

Cái không chán là dãy núi.


Hoài Anh dịch thơ

Bốn biển lặng cơn phong trần,

Chín trời mưa móc dượm nhuần thỏa mong.

Năm ngoái vó ngựa ruổi rong,

Hôm nay tạm được thong dong nhẹ người.

Nhà xa, thư chậm đến nơi,

Quan nhàn, ấn cũng phong rồi, vui thay!

Sớm sớm nhìn phía ngoài mây,

Nhìn nhau không chán ấy bầy núi kia.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Ngô Nhơn Tĩnh – Thập Anh đường thi tập: 15 – Mãi thạch nghiên

Ngô Nhơn Tĩnh - Thập Anh đường thi tậpThập Anh đường thi tập: 15 – Mãi thạch nghiên

Phiên âm (*)

Ủy ngã sinh bình đáo xứ tầm,

Thiên nhai cộng nhĩ khách trung ngâm.

Đoan Khê (1) bất hữu sanh thiên cổ,

Phiến thạch na năng trị vạn câm.

Dữ thế ninh tri vô đoạt mục,

Ư dư tối ái thị kiên tâm.

Đương minh Nhâm Tuất sơ đông nguyệt,

Vị quốc thù ân đáo Quế Lâm.


Dịch nghĩa: Mua nghiên đá

Thỏa lòng ta bình sinh tìm khắp chốn,

Nơi chân trời cùng mày bạn ngâm thơ đất khách.

Không có danh ngàn thuở như nghiên Đoan Khê,

Mảnh đá sao có thể đáng giá ngàn vàng.

Đành biết với đời không lộng lẫy lóa mắt,

Cứ như ta thích nhất là kiên tâm.

Khắc chữ: Tháng mười năm Nhâm Tuất,

Vì đền ơn nước đến Quế Lâm.


Chú thích

(1): Đoan Khê: nơi sản xuất nghiên đá nổi tiếng ở Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay.


Hoài Anh dịch thơ

Bình sinh tìm kiếm khắp vùng,

Có mày: đất khách bạn cùng ngâm thơ.

Không danh như Đoan Khê xưa,

Mảnh đá sao đáng giá mua nghìn vàng.

Nhìn không lóa mắt rỡ ràng,

Với ta thích nhất: tâm càng phải kiên.

Khắc: đầu đông Nhâm Tuất niên,

Đáp đền ơn nước tới miền Quế Lâm.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images: