Trịnh Hoài Đức – Tác phẩm

Trịnh Hoài Đức – Tác phẩmTrịnh Hoài Đức – Tác phẩm

Tác phẩm của Trịnh Hoài Đức gồm có:

  • Cấn Trai thi tập: Sách in ván gỗ, chữ rõ, hiện Thư viện KHXH Hà Nội còn lưu giữ (bản in 1819:A.780). Cấn Trai thi tập là toàn tập thơ của ông, gồm những sáng tác từ 1728-1819. Cấn Trai thi tập gồm 3 tập: Thối thực truy biên tập; Quan Quang tập; Khả dĩ tập.

  • Gia Định thành thông chí: là bộ địa lý học – lịch sử được ta2c giả biên soạn rất công phu, theo thể loại địa chí, ghi chép về 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên thuộc Gia Định thành dưới triều vua Gia Long (1802-1819).

Các vấn đề mà sách Gia Định thành thông chí quan tâm đến khá rộng. Sách gồm 6 quyển, với trình tự nội dung sau:

Quyển 1: Tinh dã khí (khu vực các ngôi sao)

Quyển 2: Sơn xuyên chí (chép về núi sông)

Quyển 3: Cương vực chí (chép về bờ cõi)

Quyển 4: Phong tục chí (chép về phong tục tập quán)

Quyển 5: Vật sản chí (chép về sản vật)

Quyển 6: Thành trì chí (chép về thành quách)


  • Bắc sứ thi tập: làm khi đi sứ Trung Quốc, trong đó có 18 bài thơ nôm liên hoàn “Đi sứ cảm tác”.
  • Lịch đại kỷ nguyên
  • Khang tế lục
  • Gia Định tam gia thi tập: thơ chung với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh.

Cả cuộc đời của Trịnh Hoài Đức gắn bó với đất và người Đồng Nai, Gia Định. Thơ văn của ông tràn đầy niềm tự hào, yêu mến quê hương. Có thể nói, trong các nhà văn, nhà thơ vào thế kỷ 17-18 ở Nam bộ, ít có người nào có vốn sống và hiểu biết phong phú về đất Đồng Nai, Gia Định như Trịnh Hoài Đức.

Related Images:

Gia Định Tam Gia: Niềm tự hào của một vùng đất

Gia Định Tam Gia

Trước khi vua Minh Mạng đặt Lục tỉnh Nam kỳ, tên Gia Định đã có. Vả lại, “Gia Định cũng là tên gọi chung đất Nam kỳ, như danh từ khác là đất Đồng Nai” (Theo Vương Hồng Sển; Tự vị tiếng Việt miền Nam; Nxb. Văn hóa; 1993; 371).

Năm 1689, vâng lệnh chúa Nguyễn, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược vào Nam, đã lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định. Tới năm 1800, Gia Định phủ được đổi làm Gia Định trấn. Và tới năm 1808, vua Gia Long đổi tên Gia Định trấn làm Gia Định thành. Tên Gia Định chỉ thực sự trở thành tên của một đơn vị hành chính cấp tỉnh từ năm 1833, khi vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành Lục tỉnh.

Nói dông dài như vậy để thấy những danh nhân như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định không nên bó buộc vào một địa phương nào cụ thể. Các ông dĩ nhiên phải sinh ra từ một nơi chốn nào đó, nhưng còn là những người tiêu biểu của cả vùng đất, thậm chí của cả quốc gia ở một thời đại.

Năm Mậu Thân 1788, chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại thành Gia Định, cho mở khoa thi để chọn nhân tài. Các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, vốn là bạn bè của nhau, cùng thi đỗ và được bổ làm chức Hàn lâm viện chế cáo, chuyên biên soạn sách.

Trong vòng năm mươi năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, ở Nam Bộ có ba nhà thơ tài danh nhất: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh và Lê Quang Định. Ba ông đã họp thành nhóm Gia Định Tam Gia, từ văn đàn của mình là Bình Dương thi xã.


Gia Định Tam Gia: Niềm tự hào của một vùng đấtTrịnh Hoài Đức

Trịnh Hoài Đức là nhà văn hóa lớn nhất miền Nam, cả cuộc đời gắn bó máu thịt với đất Đồng Nai – Gia Định. Mang trong mình hai dòng máu Việt – Hoa, nhưng Trấn Biên đã là quê hương ông từ thuở lọt lòng, năm Ất Dậu (1765).

Trịnh Hoài Đức xuất thân từ một gia đình khoa bảng. Cha ông tên là Trịnh Khánh, có tiếng văn hay chữ tốt. Trịnh Khánh làm quan chức Cháp canh tam trường cai đội, một chức vụ không lấy gì làm lớn.

Năm Trịnh Hoài Đức lên 10, ông Trịnh Khánh mất. Không thấy sử sách ghi cụ thể về gia cảnh, nhưng trong thơ sau này, Trịnh Hoài Đức tả ông đi nhiều nơi, được mẹ cho học chữ với các vị sư sãi. Điều đó chứng tỏ cuộc sống gia đình ông khó khăn, nhất là vào thời đó đang lúc loạn lạc.

Cuộc đời làm quan của Trịnh Hoài Đức thật vinh hiển, ít người sánh được. Nhưng ông không chỉ là vị quan to mà còn là nhà văn hóa lớn. Nổi bật trong văn chương của Trịnh Hoài Đức là tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước. Ông đã viết khá nhiều bài thơ về từng vùng đất như Trấn Biên, Gia Định, Hà Tiên … Quê hương, cuộc sống bình thường đã đi vào thơ văn của Trịnh Hoài Đức vừa ngọt ngào, thân thuộc vừa thiết tha, yêu thương.


Lê Quang Định

Lê Quang Định là một trong “Gia Định Tam Gia”, sinh năm 1759, mất năm 1813. Ông hiệu là Tấn Trai, tự là Tri Chỉ (nghĩa là biết dừng đúng lúc), quê ở Phú Vinh, Thừa Thiên. Cha ông từng giữ một chức quan nhỏ, mất khi đương chức. Lê Quang Định khi ấy còn nhỏ, theo anh vào đất Gia Định.

Vốn có tư chất thông minh, từ nhỏ đã giỏi văn chương, hội họa, được thầy lang Hoàng Đức Thành yêu thương và gả con gái cho.

Lê Quang Định may mắn được học thầy Võ Trường Toản và kết bạn thân với Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh.

Trong nhóm Bình Dương thi xã, Lê Quang Định không chỉ giỏi thơ văn, mà còn nổi tiếng có tài vẽ đẹp, viết chữ đạp. Lê Quang Định có tập thơ riêng mang tên Hoa nguyên thi thảo.

Khi nói tới sự nghiệp của Lê Quang Định, không thể không kể đến công trình quan trọng của ông là bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. Đây là bộ địa chí toàn quốc đầu tiên của triều Nguyễn được Lê Quang Định biên soạn xong năm 1806, theo chiếu chỉ của vua Gia Long.


Ngô Nhơn Tĩnh

Cho đến bây giờ người ta vẫn chưa rõ Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm nào. Chỉ biết ông tự là Nhữ Sơn, gốc người Quảng Tây, giống cảnh ngộ Trịnh Hoài Đức, tổ phụ chạy trốn triều Mãn Thanh sang cư trú ở Gia Định, thành người Việt.

Cùng với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh lập nên nhóm Bình Dương thi xã và trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất của vùng đất phương Nam thời bấy giờ.

Trong đời làm quan, Ngô Nhơn Tĩnh hai lần được cử đi sứ Trung Quốc (1789, 1802) và một lần đi sứ Chân Lạp (1807). Ông được tiếng là vị quan thanh liêm, chính trức, đã làm được nhiều việc có ích cho dân cho nước. Song có lẽ, do nguồn gốc xuất thân, sự gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân và nhất là mang tâm hồn giàu trắc ẩn của một nhà thơ, Ngô Nhơn Tĩnh luôn ưu thời mẫn thế.


Nguồn: Sưu tầm và biên soạn

Related Images: