Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 18 – Hồi thứ mười tám – Chung

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả Trương Duy Toản viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 18 - Hồi thứ mười tám - ChungBình thủy kỳ phùng: Hồi thứ mười tám – Chung

Đêm ấy ăn uống vừa xong, hai người mới dắt nhau đi coi hát bóng, rồi thì về ngủ bình an. Qua đến nửa đêm thình lình nghe tàu thổi ốc vang rân, phút chút máy ngừng.

Ngô Bác Lãm mới kêu cô nọ mà rằng:

– Chỗ nầy hay có sa mù hiểm trở lắm, chuyện chi tàu đang chạy lại ngừng, chắc có điều chi bức trắc chớ chẳng không; để tôi tuốt lên sân, coi chi cho biết.

Nói rồi bèn choàng áo chạy lên thang. Lên vừa mới đến từng trên, thì nghe một cái rầm rất dữ, anh ta phải té lăn cù, khi lồm cồm đứng dậy vừa xong, thì thiên hạ buồng nào buồng nấy thảy ào ra chật nức, mày mặt kinh hoàng, hỏi han tở mở, song chẳng ai biết là chi cả.

Ngô Bác Lãm mới chạy tuốt ra trước mũi, có ý kiếm quan tàu mà hỏi coi cho rõ việc gì; chẳng dè chạy chửa bao xa thì tàu vùng nghiêng chúi một bên. Ngô Bác Lãm biết thế không xong, mới vội vàng quay trở lại liền, dốc xuống phòng nịt phao sửa soạn đặng cứu cô kia; song một là tàu đà nghiêng quá, hai là thiên hạ đều lộn xộn hãi kinh; nên anh ta trở xuống lộn từng, chạy kiếm phòng mình không đặng.

Vừa dợm tháo lui mà tìm từng khác, thì bao nhiêu đèn điển dưới tàu thảy đều vùng tắt một lượt làm cho thoạt tối thình lình, chẳng thấy đặng vật chi nữa ráo. Anh ta lúc đấy mới là lính quính chẳng biết làm sao; thiên hạ thì rần rần kẻ xô tới người lấn lui, làm cho con nít đờn bà lớp té lăn khóc la inh ỏi, thật nên thảm thiết vô cùng.

Lúc ấy tàu liền hụp xuống, Ngô Bác Lãm vừa hay nước đã đến mình, thì tai vội nghe một tiếng nổ rất to dường như sét đánh, anh ta chết giấc, bất tỉnh nhơn sự. Đến chừng tỉnh dậy mở mắt ra xem, thấy mình nằm trên một cái mặt bàn rất lớn, bốn phía đều là nước cả; những thùng, những bộng, những ván, những cây nó nổi bèo mặt nước; kế có một chiếc thuyền con xạc lại, hai người vói kéo anh ta mà để lên thuyền tử tế.

Chừng ấy mới hay rằng, vì bởi sa mù quá lẽ, nên tàu của anh ta đi đã bị một chiếc kia xắn trúng ngang hông, làm cho nước biển ào vô quá gấp, đụng nồi nước sôi mới nổ banh ra, nên chẳng kịp cứu ai cả thảy.

Hỡi ôi! Một chiếc tàu to lớn dường ấy, thì có khách chi một toàn thành thị nổi giữa biển khơi, mà trong giây phút đã đành chìm nơi đáy nước, coi dễ như chơi. Thiên hạ nội tàu tính hơn ngàn rưỡi, mà vớt đây thì chữa đặng năm trăm; cho nên số nịch thủy có hơn ngàn mạng.

Ngô Bác Lãm may nhờ nồi nước nổ mạnh mà văng nhằm trên tấm mặt bàn nên mới nổi phình trên mặt nước, mà gặp chúng vớt đây, chớ không cũng chẳng còn chi mạng. Anh ta chỉ bị trầy da đôi chỗ và trặc một cánh tay mà thôi.

Chỗ tàu chìm ấy là nơi vàm thánh Lô Răng (Saint Laurent) nên thuyền vớt người rồi thì chở riết vô bờ lập tức. Ngô Bác Lãm vừa đặng lên bờ, đã vội vàng chạy kiếm nơi mấy người chết sót lại đây mà coi họa may có ả Ca My trong số ấy chẳng?

Chẳng dè hồng nhan bạc phận, biệt mất thi hài, Ngô Bác Lãm lấy làm buồn thảm rơi lụy dầm dề; bèn ở nán lại đây hơn nửa tháng trời, mỗi ngày cứ rảo theo mé biển mà kiếm mà tầm, thì cũng gặp một hai cái xác bị sóng tấp vào, lại đằng hãng cho người lặn kiếm dưới tàu thì đem lên cũng bảy tám cái xác, mà chẳng cái thi nào phải của cô Ca My cả.

Ngô Bác Lãm bèn ngước mặt lên trời khóc mà rằng:

– Nợ trần dầu đã dứt rồi, thì sống chết tôi đâu dám trách. Song can cớ chi lại chẳng cho tôi lượm nhằm cốt hài đặng tôi tống táng cho an mà trả chút tí ti nghĩa trọng cùng nhau, thật là tức quá. Á! Nghĩ lại Tạo công thật nên rất chướng, thình lình mà gặp rồi cũng thình lình mà phân, thật là vạn sự chẳng chi bởi mình đặng cả.

————- Chung ————–

Related Images:

Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 17 – Hồi thứ mười bảy

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả Trương Duy Toản viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 17 - Hồi thứ mười bảyBình thủy kỳ phùng: Hồi thứ mười bảy

Cô Ca My nghe vậy thì cười mà rằng:

– Chàng luận thật không ai bác bẻ đặng bao giờ, nhưng mà trong đời tôi e cũng còn chỗ thiếu sự công bình chớ chẳng không đâu. Ví như ai cũng là người như nhau, cũng chịu sanh nơi cha mẹ, rồi cũng tiêu tán ra bụi tro cả thảy; cớ sao lại có kẻ tớ kẻ thầy, kẻ tôi kẻ chủ; dẫu cho thầy cho tớ, cho chủ cho tôi chi thảy cũng là người, cớ sao người tớ người tôi lại phải sợ người thầy người chủ; còn người thầy người chủ lại được phạt được rầy người tớ người tôi dường ấy thì công bình đâu đặng. Có phải là bởi bạc tiền mà nó hiếp một lẽ công đó chăng?

Ngô Bác Lãm bèn vội đáp rằng:

– Không đâu, nếu mình nghĩ như thế ấy, thì càng sai siển muôn phần. Cái tiếng tớ tiếng thầy, tiếng tôi tiếng chủ, ấy là của con người bày ra mà kêu gọi cho biệt phân đó thôi; chớ trong đời ai lại không phận sự hay sao? Tuy nói rằng tớ làm mọi thầy, tôi làm mọi chủ; chớ thầy há chẳng làm mọi tớ mà chủ há chẳng làm mọi tôi hay sao?

Cái chỗ tớ tôi mà kêu là làm mọi cho chủ thầy, nghĩa là hoặc quét nhà quét cửa, chùi ghế lau bàn, chải quần chải áo, giặt vớ đánh giày, dọn ăn bưng rượu vân vân … những công việc ấy thì ai ai cũng đà chán rõ. Còn như chủ thầy mà chạy ăn chạy mặc, sắm chiếu sắm giường, sắm tiền sẵn mà trả cho mỗi tháng mỗi năm ấy há chẳng phải là làm mọi cho tôi cho tớ đó sao?

Chủ thầy thì khỏi quét mà có nhà sạch, khỏi lau mà có ghế sạch; khỏi chải mà có đồ sạch; khỏi giặt mà có vớ sạch, khỏi đánh mà có giày sạch vân vân. Còn tớ tôi thì lại khỏi lo mà có cơm sẵn; khỏi tính mà có tiền sẵn; khỏi mua mà có áo sẵn, khỏi mướn mà có nhà sẵn vân vân … Vậy thì hai cái khấu trừ lại ai lại thiếu ai, ai lại làm mọi cho ai. Chỉnh có đổi nhau trong việc làm mà thôi chớ.

Còn nói rằng sao tớ phải sợ chủ, chủ được rầy tớ, thì ấy chẳng qua là tại một đàng xong bổn phận, còn một đàng chẳng xong bổn phận chớ có gì đâu. Thường người chẳng xong bổn phận mà thấy kẻ xong rồi bổn phận thì phải sợ luôn, còn người xong bổn phận thấy người chẳng xong bổn phận, thì phải giận mà rầy la luôn.

Bổn phận của chủ là sắm chỗ ở, sắm cơm ăn, sắm áo quần mặc, sắm tiền bạc trả vân vân …, mà chủ thường làm đủ bổn phận luôn; còn phận tớ là quét, chùi, lau, dọn vân vân …,  mà nếu hoặc quét không xong, chùi không sạch, dọn không rồi, thì há gọi rằng làm đủ bổn phận hay sao. Ấy vậy hễ chẳng làm đủ bổn phận ắt phải gục mặt mà chịu rầy chớ nói chi nữa đặng.

Ví như nay chủ chạy chẳng đủ cơm cho tớ ăn, chẳng mua đủ áo quần cho tớ mặc, chẳng kiếm đủ bạc tiền trả cho tớ xài, thì ấy là chủ không rồi phận sự đó; như thế tớ cũng rầy la chủ được mà chủ cũng gục đầu chịu vậy chớ có nói chi.

Cho nên sự được quyền rầy la ấy là tại người ta xong rồi phận sự, còn người ta bị la dứt ấy là bởi không rồi phận sự, chớ nào phải tại chữ chủ chữ tớ chi chi cả thảy.

Ví dụ như khi kia mình nói với kẻ nọ rằng: “Thôi anh để tôi vác lúa cho anh, rồi anh xay gạo cho tôi. Hai đàng ừ chịu bèn đổi công việc nhau mà làm; đến chừng mình vác lúa xong xuôi, thấy thằng nọ không lo xay gạo, thì có phải là tức chăng? Có phải là đáng rầy chăng?”

Vậy trong đời mỗi mỗi đều cân gióng thừa trừ rất kỹ, việc chi cũng thảy có công bình; chẳng nên than đất chẳng khá trách trời mà mang lỗi nặng. Chỗ nào mình ngỡ rằng Tạo hóa bất công ấy nghĩa là vì mình còn chưa thấu xét; chớ trời chẳng binh ai mà chẳng bỏ ai bao giờ. Chỉnh phải lo cho xong rồi phận sự, thì hay hơn đi so sánh vầy kia mà oán vọng quơ quàng.


Còn tiếp.

Related Images:

Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 16 – Hồi thứ mười sáu

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả Trương Duy Toản viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 16 - Hồi thứ mười sáuBình thủy kỳ phùng: Hồi thứ mười sáu

Nói về Ca My thì từ tàu vừa mở đỏi, đã xuống phòng mà sắp đặt trắp rương, có trót nửa giờ mới xong xuôi mọi việc. Đến khi trở lên sân đặng kiếm cậu ta, thì thấy đang đứng sững như trồng mà nghĩ suy chi đó, rồi lại vác mặt cười trời. Vậy cổ bèn bước đứng một bên mà chẳng động khua chi cả, để cho anh ta cười rồi ngó xuống mới gặp mà thôi, thì cổ mới cười mà hỏi rằng:

– Chuyện chàng đương có nghĩ suy thế khi hay lắm, song chẳng biết thiếp có được nghe chăng há?

Ngô Bác Lãm cũng cười mà rằng:

– Có chuyện chi mà mình chẳng đặng nghe bao giờ.

Rồi bèn thuật hết đầu đuôi những chỗ kỳ lạ của anh ta vừa mới nghĩ suy rồi đó; thì cô nọ bèn than rằng:

– Chớ chi con người đều có nghĩ suy như thế, thì đời đâu có khốn nạn cho đến dường ni. Ai trong bụng mẹ nhảy ra, lại chẳng nắm hai cái tay không, mình trần thân trọi; cớ sao lấy của đời mà ăn mà mặc cho to vóc lớn thây, qua trộng trộng chừng năm bảy tuổi chi, thì đã khỉ sanh ra cái tham tâm, mà biết gọi của mầy của tao tở mở, lần lần tuổi lớn bao nhiêu, thì cái tham tâm nó càng to lớn bấy nhiêu.

Khốn thay! Làm người sao không biết hỏi lấy mình: Vậy chớ của ở đâu mà dám gọi của tao như thế? Dẫn cho nói rằng của ấy cha tao để lại; sao mà chẳng hỏi thêm rằng: Vậy chớ của ấy ở đâu mà cha tao có đó? Ví rằng cha tao có ấy là của ông tao, thì vậy chớ của đâu mà ông tao có đó? Cứ vậy hỏi dần lên mãi, thì dầu cho chẳng phải cha mình; ắt cũng ông mình; mà cho chẳng phải ông cha mình đi nữa, thì cũng ông cha của ông cha mình chi chi đất đã trữ đã tích, đã góp đã thâu của đời lại đó chớ ai. Vậy nếu tra ra, ắt quả của đời tích trữ, sao mà còn dám gọi của tao?

Vả lại của tao sau khi tao chết tao chẳng ôm theo tao bỏ lại chi đó hử?

Chàng nghĩ đấy coi thiên hạ trên đời như thế, cho nên mới ghét đời, mà luống dốc lánh đời cho rảnh, há chẳng phải sao?

Ngô Bác Lãm cãi rằng:

– Không đâu, tôi đã có nói với mình ngày trước rằng đời tuy vậy đó, song chẳng nên ghét tránh chút nào; chỉnh phải thấy đời như thế mà thương xót lấy đời, lo lắng cho đời kẻo mà tội nghiệp. Vả lại bất câu là vật chi của tạo hóa sanh ra, thì thảy đều hữu ích, chớ nào có sanh chi vô ích bao giờ.

Bởi vậy phải tầm coi chớ cái tham tâm nó có ích chi chăng đó, mà hóa công sanh để trong lòng người? Chẳng lẽ trời đâu có ác đi nỡ sanh cho đâm chém nhau chơi. Vậy phải hiểu rằng con người nếu như chẳng có cái sự tham ni, thì cả địa cầu ắt phải vắng tanh lạnh ngắt; không tấn bộ, không văn minh, không học xa, không thấy rộng chi chi cả thảy; vì có ai tham mống việc gì, có ai tranh cạnh điều chi, mà nong nả, mà lo toan, mà nhảy bay, mà học kiếm; thì loài người ngày nay ắt phải còn như loại thú cầm đó thôi, chớ có khác chi cho đặng.

Nhưng vậy mà trong đời hễ vật chi mà có sấp, thì âu có ngửa, vật chi hễ có lợi thì ắt có hại kềm cập theo luôn. Vì thế cho nên trong sự hữu ích của cái tham tâm, nó mới hóa sanh ra điều khốn hại.

Vả lại việc chi trên đời cũng đều quí tại cái chữ thích trung cả thảy; bất cập ắt không rồi, thái quá thì phải khốn; kìa như cơm như gạo là món nuôi mình, chẳng nó thì mình đâu sống đặng, mà cũng là phải lấy thích trung, ăn ít ắt không khỏi đói, ăn nhiều lại phát ách lên; huống chi một cái tham tâm mà chẳng giữ bực thích trung, để cho nó tung hoành tự ý, thì bảo sao đừng khốn cho đời.

Ấy vậy sự thái quá đây nào phải tại nơi tạo hóa sanh ra thiếu mực thiếu lường mà con người chẳng biết lấy đâu cân độ, nên mới lầm lũi không dè sự quá ấy sao? Thật là chẳng phải. Tạo hóa sanh đâu đều có chỗ lượng chỗ đo cho mình sẵn cả, tại mình ham hố mê say quá lẽ, mà quên sự coi chừng đi chớ?

Như cơm thì cái bao tử lớn rộng bao nhiêu đã có sẵn rồi, hễ ăn vừa cứng vừa đầy ắt mình phải có hay liền, song lắm khi gặp đồ ngon miệng, mà mảng mắc mê ăn lầm lũi nuốt hoài, nên mới ra điều thái quá.

Còn tham thì trời đã sắm sanh có cái lương tâm để mà cân gióng cho biết chừng, mỗi khi hễ mình làm quá bực trung, thì mình ắt cũng hay liền đó chớ. Song cũng lắm khi vì quá chừng mê của mà quên mức quên chừng, ngon dầm lầm lũi cứ tấn tới, ấy mới ra điều thái quá.

Vậy đứng Hóa công nay đã hậu mình mà sanh ra cho thấy biết đặng rộng đặng xa một tí, thì há đành chẳng kiếm chước chi mà nhắc nhở chừng chừng thiên hạ, để đi khoanh tay ngó lảng ai khốn mặc ai, cũng như thấy kẻ ham ăn biết chút nữa nó đâu khỏi sự quá no mà ra phát ách, lại đành làm lảng mà rằng: “Cái thứ mê ăn để cho bỏ ghét”. Dường ấy há chẳng ác vạy?

Ấy vậy chừ mình rõ biết, hễ đời chẳng tham tâm, thì đời không nong nả; còn đời tham tâm quá thời đời lại gươm đao, nên mình phải tầm phương chi, lo kế chi, tính lẽ chi, mà nhắc nhở, mà gọi kêu cho đời ở thừa bực trung trong cái sự tham mãi mãi; đừng sụt đừng trồi, đừng không mà đừng quá, như thế mới phải phận người thấy biết đấy cho.

Tôi nhớ lại thuở tôi tuổi mười sáu, nơi xứ tôi tại chỗ xóm tôi, trước mặt có một dãy nhà sàn, cất dài theo một mé ngọn sông kia;

Nơi các nhà ấy thì bán những đỏi, những gai, những chèo những lá vân vân … Ngày kia vừa lối đâu ba giờ sáng, nghe tiếng người la ó om sòm; tôi bèn thức giấc chạy tuốt ra coi động tịnh điều chi cho biết; thì thấy chung quanh một cái sàn kia, đèn đuốc rạng ngời người ta chật cứng, lớp thì đứng trên bờ cầm súng lườm lườm, người thì lội xuống nước cầm chĩa cầm dao mà ruồng mà thọc; còn mấy tay leo đứng trên sàn, thì cũng chẳng ở không chi đó; người thì vạch kẹt ván xeo kẽ sàn, dòm xuống nước mà kiếm mà tầm, kẻ thì tay cầm đèn tay xách giáo mà thọt mà xom.

Vừa mới thấy qua thì tôi ngỡ là một con thủy quái chi chi đến đây phá xóm hại làng, chừ bị chúng bao vây mà kiếm giết. Chẳng dè đến khi hỏi rõ, thì mới hay rằng: Những bao nhiêu người hầm hầm như cọp đói mất mồi, những bao nhiêu súng, bao nhiêu chĩa, bao nhiêu giáo, bao nhiêu côn đều hờm mà bắn, mà đâm, mà lụi, mà đánh cũng một cái con người như ta đây vậy; cũng tai, cũng mắt, cũng thịt, cũng da; cũng một giống, một dòng một loài, một chủng như nhau; song vì người ấy thiếu nghèo, người ấy chẳng phước mà sanh ra nơi nhà cha có lúa muôn, ông dư bạc vạn; người ấy trí hóa cũng chẳng sâu xa mà bày kế nhiệm, lập mưu cao, đặt bẫy hay, đào hầm khéo, mà gạt, mà nhử, mà dối, mà lừa, làm cho tiền trong tủ chúng bay đến tủ mình; lúa trong vựa chúng tuôn đến vựa mình; trâu trong chuồng chúng chạy đến chuồng mình vân vân … mà chẳng ai thấy chẳng ai dè, chẳng ai biết cả thảy; cho đến cái chủ điền, chủ lúa, chủ trâu ấy hay mất mà chẳng biết mất đâu nữa kìa.

Vì người ấy thiếu bao nhiêu điều ấy, nên người ấy quê, người ấy vụng, người ấy đợi lúc cho chúng ngủ mê, sẽ lén hồi hộp phập phồng bò vào một cái nhà sàn kia mà tính trộm một đôi vật chi cho có giá mai hầu đem bán mà mặc mà ăn, cho no cho kín cái thân xác thịt; chẳng dè rủi làm khua động, chủ nhà thức giấc la lên, bèn quính quíu đâm đầu xuống nước tầm chỗ lánh thân, nên thiên hạ mới bao vây mà làm ra đến đỗi.

Lúc tôi thấy vậy thì ngán ngẫm cho đời; đã biết tuy thật của đời chớ chẳng phải của ai, nhưng đã có người chịu nhọc ra công tích tụ, mà mình đi rình mò lén trộm, thì là tội đó chớ nào không. Nhưng mà sánh lại những tay tham vụng tham khờ như thế, tham không đủ gọi tham; vì sự no lòng ấm cật châu cấp thê nhi, là điều cần kíp của người, thiếu đâu có đặng; với những thằng tham khéo tham quyệt như kia, tham sao những ăn những mặc thì gia quyến đà phủ phủ phê phê mà còn thâu thâu góp góp, thì ai là tội nặng hơn ai?

Cớ sao kẻ tham chưa đủ gọi tham, lại bị chúng coi như trùn như dế; cả xóm đều muốn giết muốn đâm, muốn dầm muốn xắt. Còn các bợm túi tham không đáy, tội nặng xấp ngàn, tham hung tham ác, tham độc tham sâu; tham cho đến tiền kia bởi ràng ràng dấu máu, lúa nọ còn ướt rược giòng châu của cả họ cả nhà người khác, mà lắm khi được kẻ yêu người vì, kẻ thưa người bẩm; lắm khi lại được đốc suất chủ trương những cuộc ví xom đứa tham ngu tham dại kia, ấy mới là kỳ cho chớ?

Vậy mình phải hiểu tuy người lầm lạc mà thưởng phạt bất minh như thế, chớ lưới trời mấy thuở lọt qua? Dẫu ai cho có trí cao tài giỏi thế nào, mà ẩn ác của mình cho khắp cả loài người đi nữa, thì đất trời đà dành để sẵn cái hình phạt cho luôn, chạy đâu khỏi đặng.

Nhưng mà Tạo hóa thật là cũng ngộ, biết cái thằng nó làm ác khéo, thì người dùng hình phạt khéo mà hành tội lại luôn. Vậy nên hình phạt ấy, nếu chẳng xét suy cho đáo để, thì chẳng hề thấy đặng bao giờ. Vì thế cho nên lúc tuổi trẻ tôi mới ngỡ là không ai trách phạt, mà than rằng đời chẳng công bình đó.

Bởi ấy cho nên làm người một cứ xét lo lấy phận mình, hai cứ kêu giúp bạn tác và lo lắng cho ích đời mà thôi; còn tội ai đừng thèm lo đến, cao dày chẳng lẽ điềm nhiên đâu mà phòng sợ.


Còn tiếp.

Related Images:

Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 15 – Hồi thứ mười lăm

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả Trương Duy Toản viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 15 - Hồi thứ mười lămBình thủy kỳ phùng: Hồi thứ mười lăm

Ngô Bác Lãm ở đây đặng một tháng trường, dạo xem đà khắp cả. Vậy ngày kia mới tính dắt nhau trở lại Ba Ri; bèn sửa soạn rương trắp xong xuôi, rồi hai người mới xuống tàu Anh mà sang Pháp địa.

Chuyến nầy không việc chi gấp rút, nên lựa tàu to đẹp mà đi chơi cho khoái. Xuống đến cầu tàu, thì chừng năm giờ mấy, thiên hạ đưa biệt bộn bàng. Vì Ngô Bác Lãm trong một tháng đây chơi bời quen lớn cũng nhiều, lại thêm bằng hữu của cô Ca My nghe rằng cô nọ nay thương một chú da vàng, thì ai ai cũng có ý tọc mạch đến coi người ni nhơn phẩm thế nào, mà xao động cái lòng sắt dạ đinh của cô nọ cưa nay đã từng nổi tiếng. Vì vậy cho nên thành ra Ngô Bác Lãm trong một tháng mà quen hơn ba mươi mấy bạn trai. Ngày ấy họ làm tiệc to mà thiết đãi; rồi mới đưa thẳng ra tàu.

Lúc ni Ngô Bác Lãm bèn nhớ lại mà nói thầm rằng:

“Hồi sáu tháng trước đây, cũng mình, cũng có ả ni, cũng lối giờ nầy, mà xuống tại cầu tàu Mạt Xây, thì chẳng thấy một ai tống tiễn. Còn ngày nay lại thiên hạ dầy dầy, bắt tay thôi đà mỏi cánh, giở nón thật đã đuối tay. Trước sau không mấy tháng, mà khi ấy mình tuy thấy người đờn bà ni, chớ mình có dè ngày nay lại còn đặng chung một tàu với nhau như vầy nữa bao giờ; thật là máy trời rất lạ.

Vả lúc ở tại Nam Kỳ bước cẳng ra đi, nào có tưởng nay gặp cuộc lạ thường vầy đâu? Lớp lang sắp đặt đâu những đời nào; hễ đã định rằng: Ngày nầy tháng nầy, tên nầy phải đến chỗ nầy mà làm những việc mô, chịu những điều gì, hưởng những cuộc chi, rồi năm khác tháng khác ngày khác, lại phải đi chỗ khác, rồi làm việc chi khác nữa; thì mỗi mỗi đều trốn lánh đâu xong, chạy chối khó đặng; sao sao cũng phải cho rồi phận sự mà thôi.

Nhưng vậy mà cái vai tuồng của thiên hạ coi sao nhiều cái rất rẻ rất đơn, ai ngó thấy cũng chừng chừng trước đặng; còn cái vai tuồng của mình đây, cớ sao mắc mỏ lạ thường, không định trước, không phỏng chừng chút chi cả thảy; nội mấy tháng mà làm chẳng biết mấy mươi vai, chạy biết mấy mươi chỗ, nghĩ bắt tức cười; coi lại chẳng khác mình là một cái nộm kia, trong có đủ đồ máy móc, làm cho cử động hoặc tay hoặc chơn, hoặc miệng hoặc mắt vân vân …, rồi thì mỗi khi tạo hóa vặn đâu, ắt mình cứ theo máy nó đẩy xô đó mà cử động; chớ mình chẳng hiểu chi cả thảy.

Nay đây xuống tàu về Pháp, mà không biết mai có phải còn ở dưới tàu chỉ mũi qua Pháp hay chăng nữa; chớ đừng nói chi biết đặng đến cuối tháng ni mình sẽ làm việc gì? Nhưng vậy mà cũng hay, nợ đời chưa mãn, thì làm chi cũng mạnh giỏi luôn.

Cho đến tiền bạc mà xài cũng không hiểu nay xài tiền ni; còn mai đây mốt đó, lại phải xài thứ tiền chi, hay cũng tiền nầy mãi mãi?

Khi hào chỉ (bạc cắc của Tàu), khi si linh (shillings, bạc của Anh), khi mạc (marks, bạc của Đức), khi quan (franc, bạc của Langsa), khi đô là (dollars, bạc của Mỹ Quốc), khi rúp (roubies, đồng vàng của Nga); khi xu khi bạc, khi giấy khi vàng, chẳng hơi đâu mà kể cho hết được.

Nhớ lại lúc mình bước ra khỏi cửa nhà mình, thì lộn lưng tiền bạc bao nhiêu? Mà trót năm nay đi nước nầy sang nước nọ; khi vượt biển, khi qua sông, khi băng đồng, khi trèo núi; đường đi của mình một tháng, bằng đường đi của chúng cả đời. Nhưng vậy mà cũng hay, nợ đời chưa mãn, thì cũng chưa thiếu thốn chút nào?

Cho đến vật thực mà nuôi mình, cũng không biết nay ăn bánh ăn thịt, mà mai ăn mắm ăn cơm, rồi mốt lại phải ăn chi chi nữa đó?

Từ ngày mình bước cẳng ra đi thì lại có mang theo chút cơm chút gạo nào đâu? Mà lúc cơm Chệt, lúc cơm Anh, lúc cơm Đức, lúc cơm Mỹ, lúc cơm Ý, lúc cơm Pháp, lúc cơm nọ lúc cơm kia; khi uống nước, khi uống trà, khi la ve, khi rượu chát; chẳng nhớ đâu mà kể cho hết đặng. Nhưng vậy mà cũng hay, nợ đời chưa mãn thì cũng chưa đói khát bữa nào.

Cho đến y phục mà che thân, cũng không biết nay mặc vầy rồi mai mặc khác, đến mốt lại mặc chi? Hay cũng mặc vầy mãi mãi. Nhớ lúc mình ra khỏi Nam kỳ, thì đem theo mấy áo, mấy quần, mấy giày, mấy nón? Mà khi đồ ta, khi đồ Pháp, khi đồ Mỹ, khi đồ Anh? Khi trắng, khi vàng, khi xám, khi nâu, khi đen, khi mốc; khi đồ mát đồ nhẹ tiết xuân tiết hạ tiết thu; khi đồ ấm đồ dày tiết đông tiết lạnh. Nhưng vậy mà cũng hay, nợ đời chưa mãn thì cũng chưa rách chưa lạnh bữa nào?

Chớ như đến người mà mãn dứt nợ trần, thì dẫu cho bạc tiền đầy kho nhóc tủ, lúa gạo nhẩy lẫm tràn đồng, áo quần chật rương vun trắp đi nữa, thì cũng không phương xài phá, hết thế nuốt ăn, chẳng bề bận mặc nữa rồi.

Vậy thì cần chi phải khắc phải bạc, phải kết oán đeo hờn, phải làm điều bạc đức tổn nhơn, mà chứa mà thâu chi cho vô ích”.

Nghĩ đến đây thì ngước mặt ngó lên trời mà cười ngất.


Còn tiếp.

Related Images:

Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 14 – Hồi thứ mười bốn

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả Trương Duy Toản viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 14 - Hồi thứ mười bốnBình thủy kỳ phùng: Hồi thứ mười bốn

Nói rồi lưỡng lụy giao lưu. Ngô Bác Lãm mới ôm vào lòng mà chùi nước mắt và dỗ rằng:

– Trong lời mình đọc nãy giờ đây thì tôi có thấy chỗ nào là bại đức, chỗ nào là chẳng trinh của mình là đâu có. Duy tôi thấy đức mình càng tỏ tiết mình càng cao mà thôi. Chỉnh tại nơi mình gắt gao với mình quá lắm nên mình sai hiểu đó mà. Thường mỗi vật chi trên đời, hễ có mặt thì âu có trái; sự chi trên đời hễ có quấy thì âu có phải luôn. Nhưng vậy mà cái quấy cái phải cái trái cái mặt nhiều khi nhằm cuộc biến mà nó làm cho con người phải coi sai phải nhìn lộn xưa nay kể biết bao nhiêu. Bởi vậy cho nên sự ông Hoàng kia tự tử đó, thì có động chi đến cái đức của mình sao mà mình lại gọi là bại đức.

Nếu xử đoán cho công bình, thì sự chết ấy ổng lỗi với mình lắm chớ, lỗi vì ổng tính quấy tưởng lắm. Vả chăng nghi một điều chi chẳng trúng há chẳng tổn đức mình sao, huống chi là ổng tin quyết tưởng thật chớ chẳng phải nghi ngờ, cho nên mới đành liều mạng sống như thế, thì há chẳng phải là điều bại đức của ổng đó sao? Còn cái sự chết ấy là bởi sự sai lầm nó giết ổng, sự bại đức nó hại ổng chớ mình có dính dấp vào đâu, mà phòng luống trách mình cho mệt. Hễ mình trách mình chừng nào thì tội ổng càng nặng chừng nấy làm cho mình mang tiếng chẳng rộng với kẻ qua đời, ấy là lỗi đó. Cho nên từ đây hãy tha tội sai lầm cho ông nọ mà quên bỏ cái việc ấy đi, chẳng nên nói nữa.

Còn cái chữ trinh thì cũng vị tất là hễ hoa con gái còn nguyên mới gọi là người tiết phụ. Bởi cuộc đời nó thiệt thiệt hư hư không chừng không đỗi, khi biến khi thường, chẳng nên lấy một mực hoài mà cân mà gióng. Tướng thua cũng vị tất là dở, tướng thắng cũng vị tất là hay; kẻ vong bản cũng vị tất là dã man, người chiếm được nước cũng chắc chi là văn hiến. Như quân Hung Nô đánh rốc cõi Âu châu, ai có gọi tướng Ất Ty La là trí (Attila, người Đông Á dẫn binh đánh phái cõi Âu châu mười một năm trời, từ năm 442 đến 453); như tỉnh Lo Ranh An Sát (tỉnh Alsace và Loraine Pháp thất là năm 1871) thất rồi ai có gọi binh Pháp là dở. Cũng như mình tuy phải bị người cưỡng bức, thì đâu đến nỗi gây ra cuộc ấy. Cho nên sự cưỡng bức ni là cớ tích của sự tiết trinh chớ có lạ chi. Cũng như kẻ ra trận mà gãy chơn, bị thương mà cụt cẳng, thì ấy là cớ tích của lòng can đảm; ai thấy đó mà dám khi dám nhạo hay sao?

Chớ phải như mình thinh không mà làm cho nhụy rữa huê tàn; cũng như kẻ chẳng trận mạc chi, vì tham vặt cho chúng xả tay chặt cẳng; thì ấy là cớ tích của cái đại tội mình làm, như thế mới đáng khi đáng ngạo cho chớ. Vậy cái sự mất hoa con gái ấy là một cái cớ tích mà thôi, cớ tích ấy hoặc khen hoặc chê tùy việc; cũng như thấy người kia có thẹo thì chỉnh biết rằng thẹo ấy là vì có bị thương mà thôi, chớ bị thương mà đáng khen ngợi hay đáng chê bai đều tùy theo việc.

Ví như nay có một đứa con gái kia thật chưa ai rớ đến, sonh bình nhựt nó cũng thường chuyện vãn với trai, thường thơ từ với chúng, thường mống vọng dâm ô; nhưng mà vì cha mẹ giữ chăn từ tí, kín cổng cao tường, màn che sáo phủ, làm cho cạn dứt đường lá thắm chim xanh; cô ta mới không có dịp mà thất thân, chưa có dèo mà làm quấy; thì sự ấy còn nguyên với sự chẳng nguyên của mình đây cái nào là quí?

Cũng như một chiếc tàu giấy với một chiếc thuyền cây kia; thuyền cây mà có nước là vì nằm trên mặt nước đã mấy mươi năm, bị chở bị chuyên đã lắm lúc; còn tàu giấy lại khô rang là bởi ở trong nhà kho lồng kiếng chưa hề xuống nước bào giờ. Chớ chi đem tàu giấy nầy mà thay chỗ thuyền cây; thì trong giây phút đã rã tan hình vóc, có đâu chịu nổi mấy mươi năm.

Như thế làm người há lấy sự khô của tàu giấy mà sánh với sự ướt của thuyền cây, rồi nói thuyền cây không bằng tàu giấy hay không?

Cô Ca My nghe vậy thì cảm tạ Ngô Bác Lãm chẳng cùng mà rằng:

– Thật chàng đã nên rộng lượng thiếp rất cảm tình, chớ thiên hạ mấy ai đặng vậy đâu nào?

Ngô Bác Lãm liền rằng:

– Làm con người đứng trong trời đất, hơi đâu đi sợ thiên hạ cho nhọc lòng, miễn là mình cứ phải mà làm thì thôi chớ. Ví như khi kia gặp người gần chết đuối, bèn sợ rằng: “nếu ta nhảy vớt người nầy thì chi cho khỏi áo quần phải ướt, ắt lát nữa đi ngang qua chợ, thiên hạ họ thấy họ cười”. Nghĩ như thế rồi đành đứng khoanh tay mà coi người ta chết hay sao? Hay là nhảy vớt tức thì, rồi lát nữa qua chợ, cái phường giá áo túi cơm, cái quân dã man ngu xuẩn nó có cười nhạo chi chi đi nữa, thì vinh mặt ngó ngang mà thầm nói trong bụng rằng: “Bây là đồ khốn biết chi đó mà phòng cười”. Dường ấy há chẳng khoái vậy?


Còn tiếp.

Related Images:

Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 13 – Hồi thứ mười ba

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả Trương Duy Toản viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Trương Duy Toản – Bình thủy kỳ phùng: 13 - Hồi thứ mười baBình thủy kỳ phùng: Hồi thứ mười ba

Đêm đó mẹ thiếp thức giữ cả đêm, thiếp mới dằn trí ép lòng làm bộ nguôi ngoai cho mẹ thiếp hết rình hết rập. Vừa được năm ngày, mẹ thiếp coi đà nới sự canh giờ, thiếp mới tuốt ra tiệm thuốc một ve nhỏ ê te (éther)  đem về khui ra uống ráo. Vừa ực khỏi cổ, thì mẹ thiếp vừa bước vô buồng, thấy ve ê te sạch bách bèn sợ hoảng hồn, mới chạy rước lương y vội vã.

Chuyến nầy cũng chưa chết nữa, thiếp mới tức mình tính trốn mà thôi. May đâu bữa kia có con ông thiên hộ ở Nhiêu Do nầy đến viếng, vì đã có quen nhau khi trước. Vậy tôi mới thuật hết mọi điều khổ não của thiếp và tính trốn đi xứ khác; thà lâu lâu gởi về nhiều ít bạc tiền mà thôi; chớ dẫu cho hiền thánh chi chi ở đó cũng không phương chịu nổi.

Hai chị em thiếp bèn sắp đặt chước mầu, cô nọ chuyển lần y phục của thiếp đi, rồi kỳ hẹn ngày giờ, hai đứa mới tuốt qua Mỹ quốc.

Đến nơi cô nọ sắp đặt cho thiếp xong xã, rồi cổ lại trở qua, tới nhà mẹ tôi làm mặt bơ thờ thăm viếng, cho mẹ tôi khỏi bụng nghi ngờ rằng cổ đem thiếp đào tẩu, mà noi dấu mò theo.

Thiếp qua đây đổi tên cải họ hát đặng hai năm dư gần nửa triệu. Cứ trong vài tháng thì thiếp phải cậy cô kia gởi về một ít trăm quan mà cấp dưỡng. Mẹ thiếp những ngỡ cô nọ hảo tâm, chớ đâu biết có tôi trong đấy.

Tới chừng năm ngoái đây thiếp mới hay tin rằng bà già đau nặng, còn em thiếp thì nay thằng nầy mai thằng nọ, tiền sẵn cứ ăn chớ chẳng lo chi cả thảy. Thiếp mới trở về vừa đặng mươi ngày thì mẹ thiếp từ lộc. Trước khi nhắm mắt bả mới kêu thiếp khóc mà đọc rõ mọi việc đầu đuôi, rồi xin thiếp tha lỗi; lại gởi gắm em thiếp.

Khi tống táng xong xuôi rồi, không lẽ phụ lời mẹ thiếp ký thác, nên thiếp mới dắt con em ác độc thiếp đó trở lại Huê Kỳ.

Đến năm nay thiếp đà hai mươi bả tuổi, buồn chán cuộc đời, não nồng thế sự, thiếp mới nhớ lại trong sự nghiệp của ông Hoàng, tuy thiếp phân phát hết rồi; mà còn một chút đất của ổng sắm tại Tu Ni, kêu là nhàn địa. Lúc ấy cũng vì xa trẹo mà thiếp chửa cho ai, thiếp mới đi coi cho rõ hình thế nó ra sao mà kêu như vậy.

Vậy thiếp bèn trở lại Nhiêu Do cho em thiếp ít chục ngàn quan, còn của cải bao nhiêu gởi vào hãng bạc; đất nhà thiếp đã sắm đây, thì thiếp cho hội làm phước, cho họ cất nhà thương, rồi thiếp mới thẳng xuống Tu Ni lần nầy là có ý chôn thân nơi ấy, dè đâu khiến phải gặp chàng.

Lúc thiếp đi khỏi Nhiêu Do nầy, thì chẳng cho ai biết là thiếp tính đi đâu cả thảy, đặng đừng ai động đến thiếp, hầu có thung dung cho mãn kiếp. Té ra nợ thế chưa rồi cho nên bởi còn lẳng nhẳng với chàng đây.

Cái ngày mà thiếp bắt chàng hứa dùm cho thiếp khỏi vướng nợ trần nữa đấy, là vì thiếp thấy cái tình nó chồng chập trong lòng thiếp đà quá nặng đi rồi, thiếp biết đã hết phương tháo trút, cho nên thiếp ráng làm cầu may có ý kéo cái danh phận nam nhi của chàng mà gài vào nơi giữa, cho nó ngăn cản hai ta, thì họa là còn có mong bề thoát đặng chăng. Chẳng dè mạng trời khó chạy thiếp phải vưng theo.

Vậy trước ngày chàng tiếp đặng tin ở Ba Ri đó chừng năm sáu bữa; thì thiếp coi nhựt báo thấy con em thiếp, chừ nó toa rập với một lũ kia, mạo tờ mạo giấy mà kiện đòi miếng đất của thiếp đã cho Hội tại châu thành nầy. Không biết nó làm thế sao mà Hội đà thất kiện, phải lo tức tốc mà dỡ nhà thương.

Bởi vậy cho nên khi thiếp tới Ba Ri với chàng, thì thiếp có tư điển tín cho Hội mà bảo Hội đợi thiếp qua. Hội bèn chống án, thiếp phải đến tòa làm chứng, thì án trước mới hủy xong. Thiếp cũng muốn vội vã trở lại Ba Ri với chàng, song còn mắc họ cầm cọng lôi thôi, rứt đà chẳng đặng.

Ấy, đó chàng nay rõ hết cội nguồn việc thiếp, thì chàng nghĩ đấy mà coi một đứa ca nhi khốn nạn, đức vốn không mà hạnh cũng chẳng, trước đà giết một mạng người, sau lại thất thân với phường hạ tiện, thì há đáng cho chàng thương trọng đến chừng ấy sao?


Còn tiếp.

Related Images: