Trương Duy Toản – Phan Yên ngoại sử – 07 – Chung

Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân

Vài lời từ người đánh máy:

Truyện này được xuất bản năm 1910 – những năm chữ Quốc ngữ còn sơ khai nên có nhiều từ cổ và cách ngắt câu rất khác so với hiện đại.

Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” theo hiện đại; giữ nguyên các hành văn để đọc giả cảm nhận được phong cách viết của các nhà văn xưa.


Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 07 - ChungChương VII.

Chung cuộc người ngay an phận,

Đáo đầu đứa dữ vong thân.


Nói về Trương Bá Vạn lúc nhảy xuống sông, vì bị trong mình có lộn hơn mười nén bạc nên nặng quá chẳng nổi lên đặng. Phần thì lúc ấy nước chảy lớn cho nên trên mặt thì coi nhẫn còn đổ xuống, song dưới đáy sông thì nước đã có hơi chảy vô rồi, Trương Bá Vạn bị bạc nó neo xuống đáy sông rồi nước đưa lần lần lên hoài; sấp bạn chẳng biết, thấy nước còn chảy ra thì cứ lặn kiếm từ chỗ mũi ghe dài xuống xuôi theo dòng nước trên mặt, chớ chẳng kiếm ngược trở lên cho nên mới tìm không đặng.

Ghe đi rồi ba bữa, Trương Bá Vạn ta mới ló mặt lên mà mập mạp hơn xưa, lại gặp nhầm quân hoang, nó mới mở lưng lấy hết bạc tiền, rồi bỏ thây trôi dật dờ trên mặt nước, làm làng xóm phải mua chiếu dệm bó lại, rồi đào lỗ mà dập bên mé sông ấy.

Đây nói về bọn Vương Thế Trân khi tàu buôn vớt lên rồi thay đổi quần áo khô khan hỏi thăm mới biết tàu ấy chạy thẳng qua Mã Cao. Ai nấy đều rầu. Vì tuy khỏi thác mà nay lại phải phiêu lưu đến xứ lạ lùng biết làm sao mà dung thân cho đặng? Cả bộ hành dưới tàu thấy mấy người bị hoạn họa ấy thì áp nhau xúm lại coi.

Có một người Thanh Khách tướng mạo phương phi, tuổi lối năm mươi ngoài, coi có khí tượng người sang, lại nhắm Vương Thế Trân rồi lấy viết, giấu mực đam lại viết hỏi Vương Thế Trân có phải là người Annam không?

Vương Thế Trân lấy viết viết lại nói phải. Ông ấy thấy biết hiểu chữ Tàu mà trả lời lại đặng thì mừng liền viết nữa hỏi:

– Vậy chớ đi đâu? Tính việc gì, làm sao mà đến bị tàu đụng.

Vương Thế Trân mới lấy viết tả hết thế mình tính, việc mình làm và cuộc mình đã gặp tự đầu chí đuôi cho người ấy biết. Viết rồi đưa cho người ấy coi thì coi bộ mầng rỡ trầm trồ hoài, vì tuy là Vương Thế Trân viết xỉu xỉu qua đặng nói chuyện, song người ấy biết quả là một tay văn chương lỗi lạc chớ chẳng phải tầm thường.

Vương Thế Trân thấy ý người ấy khen ngợi ưa mến mình liền lấy viết, viết ít câu mà than rằng:

– Nay tôi tuy khỏi chết song phải bị phiêu lưu đến xứ lạ lùng, tiếng tăm của người chẳng thạo thì biết lấy chi mà dung thân cho đặng.

Người ấy thấy vậy thì lật đật trả lời lại rằng:

– Tôi họ Quách, nhà giàu có lớn, thiên hạ thảy đều kêu tôi là Quách Thiên hộ, nhà ở tại Mã Cao song có lập nhiều tiệm buôn bán lớn ở Phố Mới và Hương Cảng. Nay một là thấy chú em hoạn nạn, hai là thấy tài tình của chú em thì tôi hết lòng thương. Vậy thì khi đến Mã Cao rồi tôi sẽ đem chú em về nhà tôi mà coi dùm việc sổ sách cho tôi, mỗi tháng tôi sẽ tính tiền công cho, để dành đó pòng ngày sau có trở về cố quốc. Còn bọn theo với chú em đó thì để đến nơi coi người nào xài đặng trong việc gì tôi sẽ trọng dụng, xin chú em chớ lo.

Vương Thế Trân coi rồi liền quì xuống mà thi lễ với Quách Thiên Hộ. Quách Thiên Hộ liền đỡ dậy mời ngồi. Từ đó hai người cứ hỏi cái nầy, viết cái kia hoài, sau vầy ra việc thơ phú với nhau.

Vương Thế Trân cũng biểu Cao Minh Lượng hãy làm chơi cho giải khuây và làm quen luôn thể. Quách Thiên Hộ có ý yêu chuộng hai người lắm, mà thứ nhứt là Vương Thế Trân. Mỗi bữa ăn đều kêu hai người ăn chung với mình.

Tàu chạy đặng ba ngày đêm, mới thấy dạng bờ cõi Trung Nguyên. Quách Thiên Hộ mới biểu mấy người đi theo Vương Thế Trân sửa soạn đồ đạc rương trắp đặng lên bờ, trong giây phút tàu đà cập bến. Quách Thiên Hộ liền dẫn hết bọn ấy về nhà mình. Về đến nơi mỗi người đều thấy nhà cửa nguy nga tôi tớ chật nhà thiệt quả là cự phú.

Từ ấy Quách Thiên Hộ phú thác hết thảy ciệc nhà cho Vương Thế Trân, lại giao cho Cao Minh Lượng coi việc sổ bộ cả thảy. Nếu có thơ từ ở đâu của các nhà buôn bán gởi đến thì hai người cứ việc làm thơ trả lời rồi đưa cho Quách Thiên Hộ ký tên mà thôi.

Việc trong ngoài đâu đó đều phân minh vén khéo sạch sẽ; Quách Thiên Hộ lấy làm vừa lòng đẹp ý lắm. Ở đó vừa đặng sáu tháng, ngày kia trời mưa đêm, có một bọn cướp ước có năm mươi tên kéo tới bao nhà Quách Thiên Hộ mà đánh phá.

Quách Thiên Hộ thất kinh liền kêu hết thảy sấp gia đinh, vô mở kho phát mỗi người mỗi món binh khí, đồng ở trong giữ gìn chẳng cho phá cửa. Vương Thế Trân thấy vậy thì biểu Quách Thiên Hộ lựa cho mình một món binh khí cho vừa rồi sẽ ra cự với bọn ấy.

Quách Thiên Hộ thấy tướng Vương Thế Trân mỏng mảnh thì tưởng là biết văn không mà thôi; cho nên nghe Vương Thế Trân nói như vậy thì là rằng:

– Đừng có điên, chúng nó hơn năm bảy mươi, mà ăn cướp ở đây chớ chẳng như các chỗ đâu, đứa nào cũng võ nghệ cao cường cả. Mình cứ ở trong mà giữ đừng cho chúng nó phá cử đặng thì là may lắm đó. Chớ nếu nó vô đặng thì nó đả phá hết gia tài mà trứng mén nó cũng chẳng chừa.

Đương nói dang ca thì bọn ăn cướp đã phá đặng cửa trước ào vô rồi. Quách Thiên Hộ liền kêu trời một tiếng rồi té xỉu xuống đất. Lúc đương nguy cấp, Vương Thế Trân ngó ngoái lên trên vách thấy có treo một cây roi đồng dài chừng sáu bảy thước mộc, liền nhảy lại giựt xuống rất vừa tay mới nhảy tới cự với bọn ăn cướp ấy.

Đánh chẳng đầy ba hiệp đã cho thằng chánh đảng một roi nát óc, rồi lùa bọn ấy ra ngoài sân hết, chúng nó mới bao vây tứ phía. Vương Thế Trân một mình cự với năm mươi tay võ nghệ mà chẳng nao núng chút nào cả.

Lúc ấy, trong nhà Cao Minh Lượng mới đốc chúng gia dịch đỡ Quách Thiên Hộ lên giường rồi cứu cấp hồi lâu mới tỉnh lại. Quách Thiên Hộ liền hỏi thăm bọn ăn cướp, thì Cao Minh Lượng thưa rằng:

– Đương giao phong với Vương Thế Trân ở nơi trước sân.

Quách Thiên Hộ mới trèo lên lầu ngó xuống mà coi mà chẳng thấy chi vì đèn đuốc tắt queo hết. Quách Thiên Hộ liền lật đật biểu người trong nhà mau nổi đuốc lên, đem lên lầu treo thòng xuống cho sáng kẻo e tối tăm Vương Thế Trân chẳng thấy mà sơ thất chăng?

Khi đèn đuốc nổi lên rồi thì Quách Thiên Hộ thấy quân ấy vây chặt Vương Thế Trân ở giữa, còn Vương Thế Trân thì huơi cây roi như rồng bay phượng múa, coi thấy một lằn sáng sáng qua lại giữa đám ấy mà thôi chớ chẳng thấy mình Vương Thế Trân cho đặng, mà hễ thấy cái lằn sáng ấy tới đâu thì người ngả tới đó. Chưa đầy hai giờ mà quân ấy chết có mấy mươi người còn lại mấy mươi trự đồng kéo nhau chạy mất.

Quách Thiên Hộ sợ Vương Thế Trân rượt theo nó nên lật đật kêu vô mầng rỡ khen ngợi hết sức. Sáng ngày Quách Thiên Hộ liền đi báo cho quan hay, rồi lo việc chôn cất bọn ăn cướp bị giết.

Nguyên cây roi treo trên vách mà Vương Thế Trân lấy hồi nãy là của ông già Quách Thiên Hộ hồi trước, người ấy võ nghệ cao cường, song vì chẳng gặp thời cho nên chuyên có một nghề mãi võ giang hồ mà thôi. Sau Quách Thiên Hộ nhờ có của bên vợ mới làm ăn ít năm khá rồi lại gặp đặng mỏ bạc tại cù lao Đại Dự cho nên mới nổi giàu to như vậy. Cây roi ấy từ ngày ông già Quách Thiên Hộ chết rồi thì treo đó mà làm dấu tích chớ chẳng ai dám rờ đến vì nó nặng gần bốn mươi cân.

Đám ăn cướp ấy tàn rồi thì cả xứ đều biết tên Vương Thế Trân. Từ đó nhiều tay anh dõng hay tìm đến mà làm quen làm lớn. Ông Quách Thiên Hộ lại tính chia cho một phần gia tài. Vương Thế Trân hết sức từ chối mà chẳng đặng, nên phải thọ lãnh. Tính hết cả thảy phần của anh ta đặng bảy mươi ba muôn chín ngàn năm trăm sáu mươi tám lạng bạc, còn mỗi người trong nhà Quách cũng thưởng kẻ một trăm người năm bảy chục lượng hết.

Quách Thiên Hộ lại viết thơ biểu thằng con trai ở Hương Cảng phải về đặng xin Vương Thế Trân tập rèn võ nghệ hầu sau có gìn giữ qui mô, chớ biết Vương Thế Trân làm gì cũng trở về Nam Việt chẳng lẽ ở hoài bên nầy cho đặng.

Còn Vương Thế Trân, lúc nầy tuy là ở nơi nhà ông Quách Thiên Hộ rất nên sung sướng, muôn việc đều khỏi lo, lại khi không mà được của cải gia tài như vậy, song chẳng lấy chi làm vui. Vì hằng lo lắng chẳng biết việc quốc gia. Ấy là lòng trung nghĩa của đứng đại trượng phu thế vậy đó.

Chẳng đầy một tháng thì con trai của Quách Thiên Hộ đã về đến, Vương Thế Trân mới đem hết bình sanh sở học của mình mà truyền ráo, trót năm ngoài mới xong xuôi. Rồi đó liền từ giã Quách Thiên Hộ mướn một chiếc tàu buồm chở hết sự sản đồng với Cao Minh Lượng và cả bọn thủy thủ xuống mà trở về Nam Việt.

Hai người lúc từ biệt nhau thì lụy ứa dầm dề, dẫu cho anh em ruột cũng chẳng bằng. Tàu kéo neo chạy trọn bảy ngày, trời êm gió thuận qua ngày thứ tám thì thuyền đã vào cửa Cần Giờ; trót một ngày thì đã đến Phan Yên.

Đến nơi, Vương Thế Trân bước đặng lên bờ rồi ngó tứ phía thấy dời đổi khác thường. Đi chẳng mấy năm về coi chốn quê xưa mình coi sao điêu hao buồn bực lạ lùng thì rơi nước mắt. Ấy cũng vì loạn lạc giặc giã nên mới mau đổi dời như vậy. Hỏi thăm lại những thân bằng cố hữu của mình ngày trước thì kẻ thác người đi. Buồn thôi đáo để.

Vương Thế Trân mới mướn một căn nhà, mua sắm đồ đạc xong xuôi rồi thì tức tốc đi lên Trảng Bàng đặng có thăm viếng Nhan tiểu thơ. Đi đến nơi hỏi thăm người ta thì ai ai cũng nói tiểu thơ đã hóa hồ ly, còn người dì tiểu thơ thì đã ly trần cách vài tháng trước rồi.

Nghe như vậy thì Vương Thế Trân lăn nhào xuống đất mà khóc, rồi liền đó trở về Phan Yên xuất tiền bạc rước thầy chùa về làm chay làm phước, mình mặc đồ tang lạy khóc, thiên hạ đều động lòng.

Cúng quải như vậy đặng ba ngày bỗng đâu bữa chót lối ba giờ chiều có một người đến coi đám chay ấy rồi hỏi thăm thiên hạ mới đọc đầu đuôi lại, tên ấy liền la lớn lên rằng:

– Nhan tiểu thơ còn sống mà người nầy làm cái gì lạ vậy?

Vương Thế Trân đương khóc lạy nghe tiếng la như vậy thì tưởng mình là chiêm bao liền mở mắt lớn mà ngó thiên hạ một hồi không nói chi cả. Người ấy lại kêu Vương Thế Trân mà hỏi rằng:

– Chú em là ai mà làm chay làm phước cho Nhan tiểu thơ đó?

Vương Thế Trân bây giờ mới biết thiệt có người nói chớ chẳng phải chiêm bao, liền nói rằng:

– Tôi là chồng, tên Vương Thế Trân. Nhơn vì loạn lạc vợ chồng phân cách nhau đã ba năm nay. Bây giờ trở về hỏi thăm thì nghe thiên hạ nói vợ tôi đã bị thiêu mà chết lại hóa ra hồ ly. Cho nên tôi bởi thương vợ phải làm như vầy cho hết lòng.

Người ấy liền nói:

– Nhan tiểu thơ chưa chết đâu, hiện bây giờ đương ở tại nhà ông Triệu Tổng đốc. Còn tôi là gia dịch của Triệu Tổng đốc đây. Từ tiểu thơ về ở yên nơi nhà chủ tôi thì chủ tôi hằng sai người nhà đi tầm kiếm công tử khắp nơi mà chẳng gặp. Nay nhơn sai tôi đi đòi bạc, ngang qua đấy thấy làm chay tôi hỏi thăm mới biết, nên lật đật nói cho công tử hay. Thôi bây giờ công tử hãy mau mau đến dinh quan Triệu Tổng đốc kẻo tiểu thơ ngày đêm trông đợi.

Vương Thế Trân nghe đặng tin ấy thì tuy là chưa mấy tin song chẳng khác như rồng lên mây cá gặp nước, mầng thôi khấp khởi. Liền dạp việc trai đàn, tức tốc thay đổi y phục thẳng đến triệu phủ. Đến đó chồng vợ gặp nhau khóc òa, hai đàng đều đem việc vãn sự mình ra mà đọc nghe rất thảm sầu.

Rồi đó Vương Thế Trân về cất nhà cửa tử tế mới qua cưới nàng Nhan Khả Ái về. Vợ chồng Triệu Tổng đốc đứng gả. Những thân bằng cố hữu đều tựu đến yến diên, tiêu thiều chập trổi vui vẻ biết sao mà nói cho cùng đặng.

Từ ấy, Vương Thế Trân sẵn có của lại ông Triệu Tổng đốc coi Nhan tiểu thơ cũng như con gái mình vậy nên lúc đưa về cho Vương công tử thì tang liêm rất hậu, cho nên trở nên một người giàu có lớn.

Sau Nhan thị sanh đặng hai trai thảy đều thông minh, học hành có danh. Vợ chồng từ ấy thung dung an hưởng thanh nhàn, tiếng rền trong sáu tỉnh.

Còn Cao Minh Lượng từ ấy cũng nhờ có của ông Quách Thiên hộ mà đặng khá, lại cất nhà ở kế với Vương Thế Trân, hai nhà đãi nhau như tình cốt nhục.

Nhơn lúc rảnh rang việc nhà, Vương Thế Trân mới sai người đi kiếm mấy tay phú hộ ngày trước có hùn với mình, như người nào đã qua đời rồi thì cho mời con cháu đến, bày ra một tiệc rất nên trọng thể mà đãi.

Lúc mãn tiệc rồi, Vương Thế Trân mới đứng dậy nói với mấy người ấy rằng:

– Vả ngày trước mấy ông có giao tiền của cho tôi mà đi lo việc đồn điền miệt Bình thuận, nơi giáp giái Trung Nam lưỡng kỳ. Song vì thời vận đảo điên cho nên những tiền của ấy lớp thì chìm nơi đáy biển, lớp thì tứ tán ra hết, làm cho tôi phải trần thân mà trải, chịu nhiều cuộc hiểm nguy. Nhưng mà tuy vậy chớ thật cũng bởi cuộc nông tang ấy tôi mới phải phiêu lưu đến khách địa mà lập đặng cái sự nghiệp đồ sộ như ngày nay đây, nên tôi chẳng dám quên ơn chư quí ông bao giờ. Vậy nay tôi xin thối hồi lại cho chư ông số tiền ấy. Song vì ngày trước lúc ghe chìm nơi Nam hải thì những sổ sách đều mất hết cho nên tôi chẳng nhớ đặng của ai là bao nhiêu. Vậy tính theo số vốn tôi lãnh này nọ là 956.000 quan, tính ra bạc thì là 7.967 nén, Thôi nay tôi xin giao đủ số ấy cho chư quí ông về mà chia với nhau, chớ tôi chẳng biết sao mà dám chia cho đặng.

Nói dứt lời thì thấy trong nhà khiêng ra mười mâm bạc nén vung chùng để nơi giữa bàn.

Mấy vị phú gia ấy đồng từ chối chẳng ai chịu lãnh cả, lại nói rằng:

– Anh em tôi trong cơn loạn lạc ấy thì bị mấy bọn côn đồ phi tử nó cướp giựt biết bao nhiêu, chúng tôi còn không tính thay. Huống việc ấy là việc của anh em chúng tôi đồng ưng hùn với Vương đại nhơn mà lo bề trí phú chớ chẳng phải Vương đại nhơn ép uổng chi anh em tôi. Đến nay có rủi mà tiêu mất hết, ấy là tại nơi vận thời của anh em tôi không khá nên mới khiến ra như vậy, lại làm cho Vương đại nhơn phải bị nhiều điều nguy hiểm. Còn sự nghiệp ngày nay đại nhơn an hưởng đấy là bởi nơi tài tình và mạng vận của đại nhơn mà ra, chớ có cậy chi trong số tiền của anh em tôi đâu. Vả lại, nếu như đại nhơn là người bất tài, rủi phải bỏ thây nơi đất khách thì anh em tôi có thường nhơn mạng cho đại nhơn không? Mà nay phòng dám lãnh của nầy?

Vương Thế Trân thấy không ai chịu lãnh thì chẳng biết làm sao bèn nói:

– Thôi mấy ông ngày nay không lãnh của nầy thì tôi cụng không dám thâu giữ nó. Vậy nay đương lúc triều đình hữu sự, nhà nước nghiêng nghèo, Nguyễn chúa đã bỏ ngôi Nguyên soái nhiếp quốc chánh mà tức Vương vị rồi, đương lo tu bổ chiến thuyền sắm sanh khí giái. Vậy nay tôi phải xuất thêm cho đủ số một muôn nén đặng mà đem dưng cho nhà nước hầu có phí dụng trong việc quân binh. Kẻo làm trai đứng trong quốc vương thủy thổ mà gặp lúc nước nhà có việc, mình lại chẳng giúp đặng điều chi cả thì lấy làm thẹn quá.

Mấy tay phú hộ nghe vậy thì đồng ưng chịu và khen tạ Vương Thế Trân chẳng cùng.

Rồi đó Vương Thế Trân mới đem một muôn nén bạc ấy đến trước mặt Đại Việt quốc Nguyễn Chúa mà dưng. Vua lấy làm khen ngợi chẳng cùng, lấy lời phủ hủy rồi phong cho một tấm biển thếp vàng có đề bốn chữ lớn “Háo nghĩa khả phong” nhằm năm Canh Tí (1780).

Nay con cháu Vương Thế Trân nhẫn còn giữ tấm biển ấy mà làm dấu tích rất nên vinh diệu tổ tông.

—————————— Chung —————————–

Related Images:

Trương Duy Toản – Phan Yên ngoại sử – 06

Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân

Vài lời từ người đánh máy:

Truyện này được xuất bản năm 1910 – những năm chữ Quốc ngữ còn sơ khai nên có nhiều từ cổ và cách ngắt câu rất khác so với hiện đại.

Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” theo hiện đại; giữ nguyên các hành văn để đọc giả cảm nhận được phong cách viết của các nhà văn xưa.


Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 06Chương VI:

Một gái đã thoát phường kị nữ,

Hai tướng trừ những lũ côn quan.


Nói về Trương Bá Vạn đương ngủ vẫn nghe có tiếng than vãn, mới cựa mình thức dậy đặng coi là ai liền nghe một cái đùng ngoài trước mũi ghe, thì thất kinh lật đật lại chỗ tiểu thơ nằm mà mò bèn chẳng thấy chi hết. Mới tức tốc nổi đèn lên, hối bạn bè lặn kiếm.

Lại hứa rằng, ai vớt đặng thì mình sẽ thưởng năm trăm nén bạc. Cho nên bọn ấy hết lòng tìm kiếm lặn hụp cả giờ mà chẳng đặng chi cả.

Trương Bá Vạn thấy vậy thì thương tiếc chẳng cùng, sụt sùi đôi giọt, liền bước ra mũi ghe đốc suất cho quân thủy thủ lặn mò. Chẳng dè oan oan tương báo, vì anh ta nóng nảy, chỉ mò bên nầy bảo lặn bên kia, bước tới nhảy lui chẳng đứng an một chỗ. Rủi đâu ở trước mũi ghe mới vừa bước lại mui liền vấp nhằm cột chèo mũi mà té nhào xuống sông chẳng ai cấp cứu cho kịp. bạn liền áp xuống lặn mò kiếm anh ta.

Chuyến nầy bạn mới vừa lặn xuống thì liền vớt đặng một người, coi lại thì quả là Nhan tiểu thơ chớ chẳng phải là Trương Bá Vạn. Cả thoàn đều lấy làm lạ, liền để vài người ở trên ghe lo việc cấp cứu tiểu thơ, còn bao nhiêu thì ào xuống quyết kiếm cho đặng Trương Bá Vạn. Vì chúng nó biết nếu bây giờ mà vớt đặng Trương Bá Vạn thì dẫu cho biểu chia nửa gia tài mà cho, ắt va cũng chẳng chối từ nữa.

Mà kiếm thôi sáng trắng cả đêm mà cũng chẳng thấy chi cả. Còn tiểu thơ ở trên ghe thì bà già tên thợ săn liền biểu con mình xóc nước tử tế, rồi bả mới nổi lửa lên mà ơ cho tiểu thơ. Đặng chừng nửa giờ thì tiểu thơ thở ra một tiếng rồi mở mắt ra. Ngó thấy mạ con người thợ săn đó và mình còn ở trên ghe liền kêu trời mà than rằng:

– Trời ôi! Tôi tưởng quyết bỏ thân nơi dòng nước cho khỏi sự nhuốc nhơ, dè đâu ngày nay còn ở lại trong ghe nầy ấy quả là trời muốn cho tôi phải để xấu muôn năm rồi đó.

Mẹ tên thợ săn thấy vậy động lòng can rằng:

– Tiểu thơ ôi! Cuộc đời bĩ cực thới lai chớ khá chấp nê mà chịu thiệt. Xin tiểu thơ hãy lo lấy cái thân, rồi thỉn thoảng tới đâu hay đó. Chẳng lẽ hoàng thiên hữu nhãn lại đi binh vực đứa gian tà mà bỏ người trung chánh bao giờ?

Tiểu thơ thấy vậy thì tạ ơn mẹ con tên thợ săn rồi từ ấy làm thinh chẳng than vãn chi hết. Đến sáng ra sấp bạn bè tầm kiếm Trương Bá Vạn chẳng đặng liền tính với nhau rằng:

– Thôi bây giờ vớt chẳng đặng chủ mình thì tiền đâu mà xài, vậy thôi mình phải giả chước gạt Nhan tiểu thơ đem về cho đến Phan yên, rồi đem bán nó cho thanh lâu, kiếm sở hụi mà chia nhau xài chơi.

Tính như vậy, chúng nó mới nói với tiểu thơ rằng:

– Nay chủ tôi đã thác, vậy thì hãy đi thẳng cho đến Phan yên. Chủ tôi bình nhựt có quen lớn với mấy tiệm buôn bán lớn ở chỗ ấy, vậy để đến nơi chúng tôi sẽ đem gởi tiểu thơ ở đó ít ngày rồi chúng tôi xuống Định tường đi báo tin cho nhà chủ chúng tôi hay, rồi chúng tôi sẽ đem ghe trở lại mà đưa tiểu thơ về xứ.

Tiểu thơ lúc ấy đã cùng nước rồi, chúng nó nói sao nghe vậy chớ biết làm sao bây giờ.

Đó chúng mới nhổ sáo thả thẳng về Phan yên. Đến nơi đó mới đi lên bờ hết để có một mình Nhan tiểu thơ với mẹ con tên thợ săn mà thôi. Lúc chúng nó tính toán ấy thì có anh thợ săn nghe, cho nên lúc nầy tên thợ săn mới đọc các việc chúng nó sẽ làm cho tiểu thơ và bà già anh ta nghe.

Tiểu thơ nghe nói thì thất kinh. Bà già lại biểu con mình là tên thợ săn phải làm thế nào đặng cứu tiểu thơ kẻo tội nghiệp. Tính tới tính lui hồi lâu mà chẳng ai có kế chi cả. Xảy đâu tiểu thơ vùng nhớ lại liền nói rằng:

– Thôi xin dì cùng anh thợ chớ lo, tôi mới nhớ lại tôi có một người cô có chồng khi trước ngồi Tổng đốc An Giang, họ Triệu. Sau Lê trào bại bình rồi thì chẳng chịu đầu giặc, liền trở về tổ quán là nơi Phan yên đây mà lập nghiệp. Dượng tôi lại có hai đứa con, một đứa tên là Triệu Ân, một đứa tên là Triệu Nghĩa. Cả hai đều võ nghệ siêu quần. Vậy xin anh làm ơn lên kiếm hỏi thăm cho ra rồi tỏ đầu đuôi cho dượng tôi nghe thì mọi việc ắt xong.

Tên thợ săn nghe vậy liền nói rằng:

– Tưởng là ai chớ nhà Triệu tổng đốc tôi biết, nhà chẳng xa gì, thôi để tôi đi.

Nói rồi nhảy lên bờ chạy riết.

Nói về tại Phan yên có một người đờn bà tên là Liễu Chiêu Xuân có lập một tòa thanh lâu rất nên xinh đẹp, trong nuôi tinh nhưng là huê khôi danh kị chẳng biết bao nhiêu. Chung quanh tòa thanh lâu ấy có một miếng vườn rất lớn trồng những là dị thảo kỳ huê chẳng thiếu gì, phía sau vườn ấy lại có một cái nhà để chơi cờ bạc.

Mụ Liễu Chiêu Xuân nầy lại có nuôi hơn ba mươi côn đồ và hai anh thầy võ đặng mà phòng sự cướp giựt trong cuộc đổ bát ấy và gìn giữ mấy chị huê khôi.

Ngày ấy, sấp bạn của Trương Bá Vạn mới kéo nhau đến nói việc Nhan tiểu thơ cho mụ Liễu Chiêu Xuân cùng giá cả xong xuôi rồi thì mụ Liễu Chiêu Xuân liền giao cho nó đủ số một trăm lượng bạc, rồi mời luôn chúng nó ra sau đặng vầy sòng.

Xong rồi liền bảo một tên thầy võ đi với hai kiệu phu đem kiệu xuống mé sông mà rước Nhan tiểu thơ. Lúc ấy, ở dưới ghe còn có một mình bà già tên thợ săn và Nhan tiểu thơ mà thôi, chúng nó mới bồng để lên kiệu rồi khiêng thẳng về chẳng ai ngăn cản chi cả. Bà già tên thợ săn thấy vậy thì lật đật nom theo sau đặng coi cho biết nó khiêng về đâu.

Khi thấy nó khiêng vô cửa vườn đó rồi thì mới trở về. Còn tên thợ săn đi lên nhà Triệu tổng đốc rồi thì đọc hết đầu đuôi sự tích của Nhan tiểu thơ cho Triệu tổng đốc nghe. Triệu tổng đốc nghe quả là cháu mình liền tức tốc sai Triệu Ân và Triệu Nghĩa xuống cứu Nhan tiểu thơ mà đam về.

Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 06
Triệu Tổng đốc liền kêu Triệu Ân và Triệu Nghĩa xuống cứu Nhan tiểu thơ.

Tên thợ săn bèn dắt anh em Triệu công tử trở xuống ghe. Đến nơi thì thấy ghe không, đã mất Nhan tiểu thơ mà bà già cũng chẳng thấy. tên thợ săn thất kinh tưởng có lẽ khi lúc quân ấy xuống bắt tiểu thơ mẹ mình ra cản trở chi đây, nên một là nó xô xuống sông hai là nó bắt luôn về nhà nó mà hành hạ, đánh đập chi đây.

Đương lo sợ thình lình bà già chạy về thở hào hển mà nói rằng:

– Con đi sao lâu quá, bây giờ nó đã bắt tiểu thơ đem về nhà nó rồi.

Mấy người đồng hỏi:

– Vậy chớ nhà nó ở đâu?

Bà già lấy tay chỉ mà nói rằng:

– Đi mút cái đường nầy đây rồi quẹo lại phía tay trái thấy có một cái nhà lầu cao, ngoài có vách tường và có cây cối rậm rạp, đó là chỗ nó khiêng tiểu thơ vào đó.

Nhị công tử liền nói:

– Thôi biết rồi, ấy là nhà mụ Liễu Chiêu Xuân đó.

Nói rồi dắt nhau đi thẳng đến nhà gõ cửa, liền có một con đòi ra mở cửa. Ba người đồng bước vào nhà; mụ Liễu Chiêu Xuân ra chào hai vị công tử rồi hỏi rằng:

– Chẳng hay nhị vị công tử hôm nay đến nhà tôi ắt có việc chi dạy bảo chăng?

Triệu Ân liền nói rằng:

– Mới nghe rằng, mụ có mua đặng một nàng quấc sắc thiên hường, vậy xin cho tôi xem thử coi ra thể nào?

Mụ Liễu Chiêu Xuân mới nghe nói thì tự từ trong bụng rằng: “Lạ cà. Con nầy mới đem vô tới cửa sao mà công tử lại hay, có ai mà thông tin cho đặng mau lắm vậy. Vả lại bọn nầy thuở nay chẳng ưa đều huê nguyệt, mà coi bộ hôm nay sắc diện đàng hoàng chớ chẳng phải có hơi rượu trà gì, mà phòng nói rằng có tam phân túy ý nên dạng làm những việc phi thường trong thế có duyên cớ chi đây. Thôi chi bằng mình giấu nhẹm thì hay hơn”.

Nghĩ như vậy liền nói rằng:

– Từ ba tháng nay tôi có kiếm đặng con nào lạ đâu, họa là công tử nghe lầm sao chớ?

Triệu Nghĩa tánh nóng nảy nín không đặng liền trợn mắt nói rằng:

– Mới khiêng vô cửa đây mà còn chối cái gì?

Mụ Liễu Chiêu Xuân liền tiếp rằng:

– Không đâu, cái đó là con dâu tôi đó. Nó đi về thăm nhà nó rồi mới qua đây, chớ không phải là ai đâu?

Triệu Nghĩa lại nói:

– Xin mụ kêu con dâu mụ ra đây coi.

Mụ Liễu Chiêu Xuân liền nổi nóng nói lớn rằng:

– Con dâu của người ta mà coi nỗi gì. Nói sao vô lễ lắm vậy?

Triệu Nghĩa cả giận liền nhảy tới đá cho một đá nhào lăn, mụ bèn vội vã lồm cồm ngồi dậy chạy ra sau nhà dóng ba tiếng kiểng lên thì thấy hơn ba mươi người đều cầm binh khí ở sau vườn chạy tới.

Anh em Triệu công tử và tên thợ săn đồng đồng nhảy ra giựt mỗi người một cây song sắt nặng chừng mười mấy cân. Anh em Triệu công tử liền biểu tên thợ săn:

– Hãy đi kiếm mụ Liễu Chiêu Xuân mà khảo mũ cho mũ chỉ ra tiểu thơ, còn bọn nó đây để anh em tôi dẹp cho.

Nói rồi anh em đồng nhảy ra khỏi nhà mà đợi quân ấy tới. Vừa đến nơi thì hai anh thầy võ áp đánh anh em côn tử, còn bọn côn đồ vây bao chung quanh. Hai công tử chẳng nao núng chút nào cả, cứ việc chống cự. Chưa đầy ba hiệp, Triệu Nghĩa đã cho một anh thầy một cây song bể óc. Kế Triệu Ân cũng cho anh nọ một cây ngang hông chết tốt.

Ba mươi quân côn quan ấy liền ó lên một tiếng đồng vây chặt hai công tử. Hai người nỗ lực tung hoành đánh thôi đứa thì gãy tay đứa thì bể óc còn sót chừng mười đứa liền đâm đầu bỏ chạy. Hai công tử chẳng theo, mới trở vào nhà mà kiếm tiểu thơ.

Khi hai công tử đánh với bọn côn quan ấy thì tên thợ săn đã tuốt vô bắt mụ Liễu Chiêu Xuân đem trói bỏ dưới đất lấy roi đánh mà hỏi chỗ giấu tiểu thơ, thì mũ liền năn nỉ xin dung, mũ sẽ đem ra cho. Mũ mới dắt tên thợ săn lên từng lầu trên rồi kêu bọn kị nữ biểu dắt Nhan tiểu thơ ra.

Khi Nhan tiểu thơ thấy tên thợ săn thì khóc òa rồi lạy mà nói rằng:

– Ân nhân ôi! Nếu chẳng có ân nhân hết lòng cức tôi thì tôi ắt chẳng khỏi chỗ hổ nguyệt luông đàm nầy rồi?

Tên thợ săn thấy vậy thì lật đật biểu mấy con ki nữ đỡ Nhan tiểu thơ dậy và nói:

– Xin tiểu thơ hãy xuống tạ ơn nhị vị công tử ở dưới, chớ tôi có ơn chi lắm mà phòng tạ.

Nhan tiểu thơ nghe nói liền bước xuống lầu, tên thợ săn cũng đi theo. Vừa lúc hai công tử ở ngoài đánh tan quân ấy rồi mới bước vô liền gặp; hai công tử mới xá mà nói rằng:

– Hai em đến trễ, để cho chị nãy giờ khí sợ lắm há? Thôi xin chị hãy kíp theo anh em tôi về nhà đặng cho phụ thân tôi hay, kẻo ở nhà có lẽ trông đợi lắm đó.

Tiểu thơ liền đi theo hai công tử mà trở về nhà Triệu tổng đốc. Hai công tử cũng mời luôn tên thợ săn đi luôn về nhà đặng có đền ơn. Tên thợ săn nói:

– Khoan đã, xin một vị công tử dắt tiểu thơ về còn một vị hãy đi với tôi ra sau nầy mà bắt cho hết bọn bất nhơn đã đam tiểu thơ mà bán đó ra đây mà trị tội nó rồi sẽ về sau.

Triệu Nghĩa liền chịu ở lại biểu Triệu Ân đi về trước. Triệu Ân dắt tiểu thơ đi rồi thì Triệu Nghĩa đi với tên thợ săn ra sau vường bước vô nhà đổ bác thì thấy bọn ấy còn đang mê sòng ở đó đủ mặt.

Hai người vô rồi liền khóa chặt cửa lại rồi nạt lớn rằng:

– Loài súc sanh sao còn chưa quì mà chịu trói còn cờ bạc gì nữa?

Bọn ấy vừa ngó lên nhìn biết tên thợ săn lại có dắt theo người nào nữa coi tướng mạo đường đường oai phong lẫm lẫm thì thất kinh. Hai thằng du côn của Trương Bá vạn mới mướn hồi phóng hỏa cướp tiểu thơ ấy liền nhảy tới đánh tên thợ săn, bị Triệu công tử đón lại cho một đứa một đá nằm sải tay dưới đất, hai người liền áp lại bắt trói.

Mấy đứa kia thấy vậy thì quì lạy xin dung nói rằng:

– Mọi việc bày biểu là tại hai thằng đó chớ chẳng phải tại chúng tôi đâu.

Triệu công tử liền khiến đánh một đứa bốn mươi côn rồi đuổi đi, còn hai thằng đầu đảng ấy thì cho một đứa một đao, hồn về địa phủ. Việc rồi bỏ đó dắt nhau về.

Lúc ấy là đời ly loạn, mụ Liễu Chiêu Xuân cũng chẳng biết thưa kiện với ai, nên phải lo chôn cất mấy cái thi hài ấy rồi làm thinh chớ chẳng dám hó hé chi nữa cả.

Còn tiểu thơ thì về đến nơi vô làm l64 dượng rồi thì bước vào trong mà làm lễ cô. Triệu phu nhơn thấy vậy thì đỡ cháu dậy ôm vào lòng mà khóc, rồi biểu Nhan tiểu thơ đọc hết việc nhà cho mình nghe, nghe tới chừng nào càng khóc thêm chừng nấy. Đến khi đọc hết rồi thì Triệu phu nhơn nhào lăn xuống đất khóc mà nói rằng:

– Anh chị tôi bình nhựt chẳng làm điều chi bại đức mà sao chết thảm thiết như vậy? Cho đến đỗi thân cháu tôi cực khổ nhiều bề mà tôi cũng không hay đặng. Ấy cũng vì xa xuôi cách trở, phần thì loạn lạc khắp nơi, chớ cô cũng nhiều khi muốn đi về quê hương mà thăm một chuyến. Song dượng cháu ở nhà nói để thủng thẳng cho bình tịnh rồi sẽ hay. Té ra nay gặp đặng cháu thì lại chẳng thấy đặng mặt anh chị thảm thiết biết chừng nào!

Tiểu thơ thấy vậy thì vội vã đỡ Triệu phu nhân lên lấy lời khuyên giải. Triệu phu nhơn bèn nói:

– Thôi nay cháu hãy ở đây cho an phận rồi cô sẽ sai người đi dọ tin tức chồng cho cháu.

Từ ấy tiểu thơ mới đặng an thân. Triệu Tổng đốc vì chẳng có con gái, lại thấy tiểu thơ nết hạnh nghiêm trang, tài tình đúng bực thì đem lòng thương như con ruột.

Còn mẹ con tên thợ săn thì Triệu Tổng đốc cũng dùm vốn liếng cho buôn bán, từ ấy cũng thung dung.


Còn tiếp

Related Images:

Trương Duy Toản – Phan Yên ngoại sử – 05

Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân

Vài lời từ người đánh máy:

Truyện này được xuất bản năm 1910 – những năm chữ Quốc ngữ còn sơ khai nên có nhiều từ cổ và cách ngắt câu rất khác so với hiện đại.

Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” theo hiện đại; giữ nguyên các hành văn để đọc giả cảm nhận được phong cách viết của các nhà văn xưa.


Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 05Chương V:

Cao quỉ kế cường đồ trơ mặt,

Ngộ mưu gian liệt nữ liều thân.


Cách đặng vài ngày chi đó, có một bọn ăn cướp ở miệt Tây Ninh kéo xuống, phân nửa là người Chàm, có hai tên đầu đảng: một người tên Ngưu Cường, một người tên Mã Kiện ào xuống Trảng Bàng mà cướp giựt bất kỳ trâu bò, bất kỳ gà lợn của ai đều bắt ráo.

Ngày kia tên Mã Kiện phó đảng vừa cỡi ngựa ngang qua nhà Nhan tiểu thơ nhằm lúc tiểu thơ bước ra ngoài mà phơi tơ, anh ta liền chạy đại vô bắt để lên lưng ngựa mà trở về trại mình. Nhan tiểu thơ kêu khóc lạc giọng nó cũng không buông.

Về vừa đến nơi, kế lấy anh chánh đảng là Ngưu Cường hay đặng liền cho quân đòi đến mà quở rằng:

– Vả ta làm đầu trong đảng nầy, thì nếu ai có đặng món chi cũng phải đem đến mà thưa trình cho minh bạch, có đâu nhà ngươi bắt con gái người ta lại tự chuyên chứa lấy một mình chẳng cho ai hay thì tội ấy khó dung cho gã.

Mã Kiện thấy nói vậy thì nổi giận nói rằng:

– Như việc tiền bạc chi thì đem về phải trình thưa phòng có chia chác, chớ cái nầy là cái lương duyên túc đế của tôi, duyên ai nấy gặp lại phải thưa trình mà làm chi?

Hai đứa cãi lẫy hồi lâu liền đánh lộn. Đánh đến tối mò chẳng ai hơn ai. Đêm ấy liền chia hai bổn bộ binh ra rồi đốt đuốc lên đánh nữa. Đánh sáng đêm cũng chẳng ai hơn thua, sáng ra lại đánh cho đến chiều. Đánh thôi hai bên chẳng biết là bao nhiêu.

Lúc ấy, Trương Bá Vạn hay sự như vậy thì tính kế đặng có đoạt tiểu thơ. Bên kia Ngưu Cường và Mã Kiện quyết việc chết sống với nhau thì cũng bởi sắc tiểu thơ, còn bên nầy Trương Bá Vạn trằn trọc đêm ngày tính tới lo lui, cũng về duyên Nhan thị đó.

Đang khi ngồi suy tính, vụt nhớ sực nhớ việc cướp người buông lửa của Hoạn Thơ làm ngày nọ, liền cười mà nói rằng:

– Xong rồi! Song nay thây ma đâu cho sẵn đem bỏ vô lửa mà làm tang cho đặng. Còn ví bằng chẳng có tang thì bọn ấy ắt theo mà tập nã thì mình cũng khó dấu cho nhẹm.

Nghĩ như vậy bèn nói:

– Thôi nay ta phải làm như vầy mới tiện.

Tức thì liền đi kiếm thợ săn biểu trong một ngày phải bắt cho đặng một con chồn, dầu giá mấy cũng mua. Xế qua tên thợ săn đam về một con cáo rất lớn; Trương Bá Vạn liền hỏi:

– Vậy chớ nhà chú có vợ con chi không?

Tên thợ săn trả lời rằng:

– Nhà tôi có một mẹ già, nên đi săn bắn về kiếm thịt đổi gạo nuôi mẹ mà thôi, nhơn nghèo nên chưa dám có vợ.

Trương Bá Vạn thấy vậy liền lấy ra năm nén bạc cho tên thợ săn và biểu phải về dọn dẹp lấy đồ đạc, chở bà mẹ qua đi theo mình về Định Tường thì mình sẽ lo bề vợ con và sẽ giúp vốn cho mà buôn bán, chớ ở đây làm chi chốn rừng bụi cho cựa cái thân.

Tên thợ săn thấy vậy thì cả mừng, liền về lo sắp đặt đặng có đi theo Trương Bá Vạn. (Anh Trương Bá Vạn tính đem tên thợ săn theo về xứ đặng cho khỏi bể việc con chồn về sau).

Việc xong rồi mới đi mướn ít quân hoang cũng biểu nó thi theo mình về xứ đặng có phục dịch trong nhà. Đứa nào chịu thì tức tốc đưa bạc tiền và biểu phải đem quần áo lại tức thì đặng tối có đi; lại đi mướn sẵn một chiếc ghe để đó.

Tối lại tên thợ rừng cùng hai đứa gia dịch mới mướn đó đã đến, thì Trương Bá Vạn cho ăn uống no say hết. Qua đến canh hai liền kéo qua trại của Mã Kiện mà coi, thì thấy Mã Kiện với Ngưu Cương đương đánh vùi với nhau nơi trước trại; trong trại trống trơn chẳng có một ai cả.

Bốn người liền lỏn vô ngả sau, đi thẳng vào trong gặp đặng Nhan tiểu thơ đương ngồi trong buồng mà khóc. Trương Bá Vạn liền bước đến nói rằng:

– Cô em đừng khóc, qua đến cứu em đây.

Nhan tiểu thơ ngước mặt lên thấy Trương Bá Vạn thì lại thêm buồn, song nghĩ bây giờ đã cùng nước, thôi miễn là mình ra cho khỏi hổ nguyệt luông đàm rồi tới đâu hay đó, chớ biết sao bây giờ, liền đáp rằng:

– Như quan nhơn có lòng tốt cứu tôi đặng phen nầy, thiện ân ấy ví bằng tái tạo.

Trương Bá Vạn liền biểu phải đi theo mình mà ra khỏi chỗ ấy, rồi để thây con chồn trên giường của tiểu thơ, nổi lửa lên mà đốt. Đốt rồi bốn người đồng đem tiểu thơ ra khỏi trại để lên kiệu khiêng  thẳng xuống ghe, rồi trở lên nhà tom góp đồ hành lý trả tiền nhà xong xuôi đồng xuống ghe đi về Định Tường.

Đàng nầy, Mã Kiện đương đánh với Ngưu Cương vùng thấy sau trại lửa lên đỏ trời, thì thất kinh liền thâu quân trở lại đặng có chữa lửa. Đàng kia, Ngưu Cương thấy lửa cháy trại Mã Kiện thì cũng có ý sợ chết tiểu thơ đi, cho nên để cho Mã Kiện về chữa lửa chẳng nói chi hết.

Mã Kiện khi chữa tàn lửa rồi thì đáo soát kiếm Nhan tiểu thơ. Kiếm đến trong buồng thì đốc quân giở cây củi lên mà kiếm, dở vừa rồi thì thấy có một con chồn nhăn răng méo miệng, che1y queo trên giường mà chết, chớ chẳng thấy tăm dạng tiểu thơ đâu hết. Thiên hạ đều thất kinh.

Từ ấy cả xứ đều nói Nhan tiểu thơ quả là hồ ly chớ chẳng phải người ta. Bà dì Nhan tiểu thơ cũng chẳng biết sao mà nói.

Bọn Ngưu Cương, Mã Kiện từ thấy mất Nhan tiểu thơ rồi thì cũng vô tâm luyến chiến, cho nên hòa hảo với nhau anh em như cũ, song cách chẳng bao lâu cũng bị giặc Tây Sơn tận diệt.

Còn Trương Bá Vạn bắt đặng Nhan tiểu thơ rồi đồng xuống ghe noi theo sông Vàm Cỏ mà trở về Định Tường. Đi gần hai ngày mới đến Bến Lức. Đến đây thì vừa hết canh một tính đậu ghe đó sáng lên chợ mua ăn rồi sẽ đi. Từ ngày xuống ghe thì Trương Bá Vạn lập nết nghiêm trang chẳng mở hơi chi cả, vì có ý để cho đến nhà rồi sẽ mặc sức, có mất đi đâu mà phòng vội.

Nhưng mà vì Trương Bá Vạn là một tay đệ nhứt phong tình lại gặp lúc lửa rơm gần gũi, thì có dễ chi mà dằn lâu cho đặng. Cho nên đêm ấu đậu ghe rồi, Trương Bá Vạn mới bò lần lại bên chỗ Nhan tiểu thơ nằm, ôm cứng Nhan tiểu thơ vào lòng mà nói rằng:

– Em ôi! Từ lúc đụt mưa nơi nhà cũng vì em mà anh xương thịt xõ mòn khổ tâm cực trí biết bao nhiêu, ngày nay mới đặng gần bên em. Nếu hôm nay em chẳng đoái tình mà sấp lưng day mặt nữa, thì anh chắc chẳng sống đặng rồi. Mạng sống của anh ngày nay ở nơi tay em đó. Đã biết em lúc ni như chim lồng cá rọ, nếu anh cưỡng bức thì há lại chẳng đặng sao? Nhưng mà anh muốn làm sao chi vui đẹp cả hai bên mới phải, chớ anh chẳng muốn riêng vui một mình; nếu nay anh cưỡng bức em thì thật là phỉ bình sanh chí sở nguyện của anh rồi đó, song ắt là em phải buồn chớ chẳng không, mà nếu em buồn thì anh há vui cho đặng sao? Vậy nếu ngày nay em chẳng khứng thờ anh là chồng, nói rằng anh chẳng xứng gần nơi bên mình tiên nữ nầy thì thà là anh cam thác, chớ chẳng muốn cho trái lòng em mà có một điểm buồn chi cho em cả. Em ôi! Xin hãy rộng suy kỹ xét mà đoái tưởng tình nầy. Ví một tiếng ừ của em mà cứu đặng một mạng sanh linh của tạo hóa há chẳng phải là lòng nhơn sao?

Nhan tiểu thơ nghe vậy thì nghĩ thầm rằng: ‘Nó mà làm như vầy, ấy là bởi nơi cái sắc của mình đó, nay bề nào mình cũng ở trong tay nó; tuy bây giờ nó nói vậy chớ cùng đường rồi nó há dễ chẳng ra tay sao? Nếu mình chẳng trước tính để đến đó rồi thì dầu có thác cũng chẳng rửa đặng cái nhơ kia. Tính tới tính lui ngàn chết muôn chết cũng là một cái chết. Nay phải gạt nó đi mới đặng”.

Nghĩ như vậy liền nói:

– Thôi xin chàng hãy buông tôi ra cho tôi phân hết mọi lời rồi thì tôi chịu, chớ đến đỗi nầy còn không sao cho đặng. Vả tôi là gái có chồng, nay làm ra như vậy thì tôi đã thất tiết với chồng tôi rồi đó. Lại nay chồng tôi đi khỏi cũng chẳng biết chết sống thể nào, mà dẫu chồng tôi có sống đi nữa thì đến lúc mạng chung tôi cũng chẳng có lẽ mà còn tang phục chi nữa cho đặng, vì lúc ấy tôi đã có chồng khác rồi còn chi nữa. Vậy nay tuy vậy chớ tôi cũng chưa thất thân với chồng; thôi xin cho phép tôi trước ngày thất thân để cho tôi đặt bàn hương án tế tự tang khó cho chồng tôi ba ngày rồi sẽ hiệp vầy cầm sắt cũng chẳng muộn chi?

Trương Bá Vạn nghe vậy thì mừng rỡ lắm, liền ưng chịu rồi hun hít một hồi mới trở lại chỗ mình mà ngủ.

Nhan tiểu thơ coi chừng anh ta ngủ mê rồi liền sẽ lén bò ra trước mũi ghe ngước mặt lên trời mà than rằng:

– Tạo hóa ôi! Sanh tôi ra tài sắc chi cho lắm, rồi lại ghét ganh mà làm cho truân chuyên đến thế nầy. Từ lọt lòng cho đến ngày nay là mười tám tuổi hằng thấy tinh những cuộc sầu thảm, hiểm nghèo mà thôi; chớ chưa hề thấy đặng chút sướng, chút vui nào cả.

Nói đến đây thì đôi hàng sái lụy rồi lại kêu Vương công tử mà than rằng:

– Công tử ôi! Tôi cũng tưởng có ngày cang lệ hiệp vầy, đặng tôi ra thân tôi tớ mà đền đáp ơn ngày nọ, dè đâu từ nầy tôi phải phụ phàng công tử. Hoàng thiên ôi! Xin hoàng thiên chứng chiếu, tôi có thác đây xin cho hồn tôi bay đến nơi chồng tôi ở đặng mà từ giã đôi lời. Còn tôi mà có xuống đến tuyền đài rồi thì tôi cũng khẩn nguyện Diêm Vương xin cho tôi lại làm thân trâu ngựa chi đó đặng mà đền đáp cái ơn ngày nọ cho Vương công tử thì mới vừa lòng. Công tử ôi! Ngày công tử đi vợ chồng biệt nhau, tôi có ý lo cho công tử trải gió dầm sương cho nên trong bài tiễn biệt tôi có nói “thiếp chốn cô phòng dầu an phận. Chạnh người mưa nắng dặm quan san”. Ấy là tôi tưởng thân tôi ở nhà chắc là yên ổn chớ có dè đâu ra đến đỗi nầy. Hèn chi khiến công tử ngày ấy lại có câu rằng “một bước một lo vì liễu yếu”.

Vừa than đến đây thì nghe có tiếng động trong thoàn cho nên Nhan tiểu thơ e Trương Bá Vạn hay đặng thì ắt là khó nỗi liều mình, cho nên vội vã nhảy đùng xuống sông.


Còn tiếp

Related Images:

Trương Duy Toản – Phan Yên ngoại sử – 04

Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân

Vài lời từ người đánh máy:

Truyện này được xuất bản năm 1910 – những năm chữ Quốc ngữ còn sơ khai nên có nhiều từ cổ và cách ngắt câu rất khác so với hiện đại.

Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” theo hiện đại; giữ nguyên các hành văn để đọc giả cảm nhận được phong cách viết của các nhà văn xưa.


Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 04Chương IV:

Vì sắc, chú Trương toan chước quỉ,

Bởi mưa, nàng Ái bị mưu gian.


Việc Vương Thế Trân theo tàu người Anh Quấc mà qua Mã Cao thì còn lâu.

Đây nói về Nhan tiểu thơ ở nơi nhà với dì thì cứ chuyên nghề tằm tơ với ươm dệt, dì cháu nuôi nhau qua ngày đã đặng bốn tháng có dư. Ngày kia vừa xế qua, trời vùng mưa lớn, dì cháu lật đật chạy ra vần lu mà hứng nước. Vần vừa rồi muốn bước vô khép cửa lại thì có một người ở đâu không biết, vì mắc mưa nên xán xả vào xin đụt.

Người ấy diện mạo khôi ngô, áo khăn đẹp đẽ, tuổi lối ba mươi coi có khí tượng nho gia. Người dì Nhan tiểu thơ thấy vậy trải chiếu mời ngồi, lại đem nước trà bảo uống vào chén kẻo lạnh rồi hỏi:

– Vậy chớ chẳng hay cậu là người chi, coi bộ chẳng phải người ở trong xứ nầy, đi đâu phải bị mưa gió như vậy.

Người ấy liền đáp rằng:

– Tôi tên Trương Bá Vạn nhà cự phú ở Định Tường. Nhơn có một đứa gia dịch của tôi nó trốn, lấy hết hai trăm nén bạc. Nay nghe tin nó về ngụ trong xóm nầy, vì nó có bà con bên vợ nó ở đây, cho nên tôi mới đến mà tầm kiếm nó.

Nguyên Trương Bá Vạn nầy là một tay phong tình đệ nhứt cho nên lúc nói chuyện thì lom lom mắt ngó Nhan tiểu thơ hoài. Nhan tiểu thơ biết ý liền bước vào trong buồng mà ngồi.

Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 04
Trương Bá Vạn, nhà cự phú ở Định Tường

Trương Bá Vạn thấy vậy thì biết là người có nết, lại càng thêm thầm yêu trộm mến hơn nữa, bèn ướm thử bà già rằng:

– Chẳng hay nhà dì ở đây có mua bán chi chăng, còn dượng ở nhà đâu vắng hé?

Bà già liền nói rằng:

– Người đờn ông tôi khuất đã lâu rồi, còn có một mình tôi mà thôi; mấy tháng nay mới nhờ có con cháu, chồng nó đem gởi nơi đây thì mới có bạn hủ hỉ với già. Hai dì cháu tôi có một nghề ươm dệt mà thôi chớ không có buôn bán chi hết.

Trương Bá Vạn thấy vậy thì hỏi phẳng rằng:

– Chẳng hay chồng cô em ở nhà đi đâu thế khi xa lắm sao mà phải đem gời cô em như vậy?

Bà già nói:

– Đời nầy là đời ly loạn, đờn ông con trai là chí tang bồng, biết đi đâu mà phòng nói.

Nghe như vậy thì biết chồng Nhan tiểu thơ chẳng phải mau về đặng, cho nên Trương Bá Vạn liền cười mà nói rằng:

– Đời người dễ có mấy lần xuân mà cô em kiên tâm thủ tiết như vậy thật cũng đáng khen lắm đó. Vả lại người đi cũng chẳng hẹn ngày về, phần thì nhà thiếu trước hụt sau, phận hồng nhan má phấn mà phải lăn lóc lo cho qua ngày tháng với đời, thế khí cũng buồn lắm hé?

Nhan tiểu thơ giả điếc làm ngơ cứ ở trong buồng chẳng thèm nói chi cả. bà già thấy nói vậy thì trả lời rằng:

– Cậu nói cũng phải, song mỗi người phải thủ phận an mạng chớ biết sao bây giờ.

Trương Bá Vạn mới tự tư trong bụng rằng: “Con nầy thiệt coi có hạnh, dẫu cho mình có đem hết bình sanh cái sở trường của mình mà dụng cam ngôn mỹ từ cho mấy cũng khó xiêu cho đặng. Song bà già nầy nếu dụng tiền tài mà câu bả, chắc bả phải ép nó chớ chẳng không?”

Nghĩ như vậy liền lấy ra ba bốn nén bạc, đưa cho bà già một nén nói rằng:

– Thưa dì, nãy giờ nếu chẳng có nhà dì thì cháu ắt phải bị ướt lạnh rồi, cho nên ơn ấy chẳng biết lấy chi mà báo đáp, phần thì giữa đường sá cho nên xin dì nhận lấy của mọn nầy mà uống trà. Ấy là tỏ chút tình cảm mến của cháu vậy. Còn ba nén nầy xin dì trao lại cho cô em, nói rằng tôi thấy duyên phận cô như vậy rất nên động tình, tôi xin dưng của nầy cho cô mà làm của tặng cho rõ lòng trinh bạch của cô, xin chớ từ.

Bà già thấy bốn nén bạc thì chóa con mắt cho nên chưa biết trả lời làm sao. Nhan tiểu thơ thấy vậy phải bước ra lên tiếng nói rằng:

– Xin lỗi quan nhơn, những việc quan nhơn làm nãy giờ ấy e trái đạo lý lắm chăng, xin quan nhơn hãy kỹ xét?

Trương Bá Vạn liền hỏi rằng:

– Sao gọi rằng trái đạo lý xin nói cho tôi rõ?

Nhan tiểu thơ liền nói:

– Vả quan nhơn chẳng là đờn ông, còn nhà tôi đây thì tinh những đờn bà, quan nhơn há chẳng biết câu nam nữ thọ thọ bất thân sao? Thôi quan nhơn có rủi bị mưa vộ đụt nhờ thì tạnh mưa rồi cứ đi, mình là đờn ông há đi tọc mạch mà gạn hỏi việc gia tình của người mà chi, rồi lại cho tiền cho bạc mà làm gì; ơn cho đụt mưa có chi mà đến đỗi lấy bạc mà tạ. Còn phận làm đờn bà thì phải lấy chữ tring làm trọng. Mà những việc tôi làm ấy cũng chẳng lấy chi làm lạ mà sao cho đến lấy bạc mà tặng. Nếu nay quan nhơn cho, rồi dìa cháu tôi lại thọ lãnh, thì người cho và người chịu của cho há chẳng để xấu muôn năm sao?

Trương Bá Vạn liền cười dài một tiếng rồi nói rằng:

– Hèn chi người ta cho đờn bà là quần vận yếm mang, lời thưa trí cạn phải mà! Thật chỗ thấy biết cô em còn cạn hẹp quá. Tôi tạ ơn đụt mưa ấy là phải lắm đó. Vì nếu cô em tính theo thường nhơn thì thiệt là chẳng đáng mà tạ ơn cho đáng một nén, song nếu mình là vạn lượng chi thân, mà đem một nén bạc tạ ơn khỏi ướt vóc ngàn vàng, có phải là bậy sao? Có phải là quấy sao? Còn việc tôi tặng cô em đó là vì tôi đương thiếu người sửa trắp ..”

Nói tới đó, Trương Bá Vạn ngừng lại đặng ngó chừng khí sắc của Nhan tiểu thơ coi mừng giận thể nào, thì thấy Nhan tiểu thơ đà có sắc giận. Trương Bá Vạn liền nói thêm nữa rằng:

– Song tôi có chí ước ao cho đặng một người hiền đức …

Đến đây lại ngừng nữa. Nhan tiểu thơ tức giận hết sức nín đà không đặng liền mắng lớn rằng:

– Chú nầy thật vô lễ quá, tôi là gái có chồng sao chú dám nói cái gì lạ vậy?

Trương Bá Vạn chẳng nao núng chút nào cười chúm chím nói lại như vầy:

– Cô em sao nóng lắm vậy, cái giận của cô em xin đình lại cho tôi nói hết, rồi lát nữa như có quấy thì sẽ giận lại mắc đi đâu sao mà vội lắm vậy. Cô em há chăng nghe có câu rằng: Khinh thinh phát ngôn yên trí phi nhơn tiềm tố sao? Nghĩa là nghe qua vụt nói đâu biết người phải quấy. Sao không cho tôi nói dứt lời rồi, như có quấy thì dẫu có mắng hay là chưởi tôi cũng chẳng phiền, vậy xin cho tôi nói cho hết. Thuở xưa có một vị vương gia nghe rằng xứ nọ có con thiên lý mã khiến người đến xứ ấy mà mua, chẳng may người ấy vừa đến nơi thì con thiên lý mã đã thác, người ấy liền mua lấy cái cốt con thiên lý mã mà đem về. Khi về vua quở trách hỏi “Làm gì lạ vậy?”. Người ấy mới tâu rằng: “Vả trong thiên hạ ắt có con thiên lý mã khác chớ chẳng không song ai biết rằng mình có lòng chuộng mà phòng đem đến. Bởi ấy mình mua cái cốt con thiên lý mã là có ý tỏ cho thiên hạ rõ rằng: Mình có dạ yêu con thiên lý mã cho đến đỗi cái cốt nó mà còn dám đam tiền ngàn mà mua thay. Nghe vậy thì thiên hạ ai có thiên lý mã lại chẳng muốn đam đến mà bán hay sao?” Ấy cho nên, tôi nay nhà thiếu người sửa trắp mà lại muốn chọn cho đặng bực tài đức. Nay gặp người tài đức đã biết người tuy có ch62ng song làm như thế là có ý tỏ cho thiên hạ biết rằng: Tôi hết lòng mến cái người tài đứa vậy, thì những người tài đức trong thiên hạ há chẳng muốn về mà sửa trắp nưng khăn cho tôi sao? Vả lại đất Nam kỳ ta có lời cổ ngữ rằng: San bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá nữ đa dâm; nghĩa là núi chẳng cao, nước chẳng sâu, trai hay dối, gái nhiều dâm. Mà nay thấy đặng người trinh bạc dường thế lại chẳng đáng tặng đặng mà làm gương cho Nam kỳ ta hầu cho thuần phong mỹ tục sao? Ấy đó cô em hãy kỹ xét coi việc tôi làm, lời tôi nói nãy giờ có phân tấc nào sai quấy không?

Nhan Khả Ái thấy vậy thì lắc đầu mà nói rằng:

– Những lời ấy đều là cưỡng từ đoạt lý mà thôi. Tuy cậu nói thì cậu gọi nghe xuôi nhưng mà tai tôi nghe thì nghe nhiều chỗ trái, xin cậu hãy lấy lại mấy nén bạc ấy và đi lo việc mình cho xong kẻo để e cho trễ việc mình mà chẳng ích chi cả. Tôi nói thiệt chừng nào mà mặt trời mọc ngược nơi hướng tây tôi mới xiêu theo giọng kèn tiếng quyển, chớ mặt trời còn mọc hướng đông thì đừng mong mơ tưởng.

Nói bấy nhiêu đoạn bước vào trong chẳng thèm ra nữa.

Trương Bá Vạn thấy vậy thì biết con nầy lòng gang dạ sắt chẳng dễ mà đặng đâu. Thôi để ta kiếm nhà gần đây ở một ít ngày rồi sẽ lập kế mà ép hắn thì mới đặng cho. Như vậy bèn lấy bốn nén bạc từ giã bà già mà đi.


Còn tiếp

Related Images:

Trương Duy Toản – Phan Yên ngoại sử – 03

Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân

Vài lời từ người đánh máy:

Truyện này được xuất bản năm 1910 – những năm chữ Quốc ngữ còn sơ khai nên có nhiều từ cổ và cách ngắt câu rất khác so với hiện đại.

Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” theo hiện đại; giữ nguyên các hành văn để đọc giả cảm nhận được phong cách viết của các nhà văn xưa.


Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 03Chương III:

Dưng chước mầu toan bề trí phú,

Dùng mưu quỉ tính cuộc tiểu tinh.


Đây nói về Vương Thế Trân khi từ biệt Nhan tiểu thơ rồi thì cứ noi theo đường cũ mà trở lại; vừa đi nửa đường bèn gặp một người bạn thiết tên là Cao Minh Lượng. Người nầy vẫn thuở trước có học một trường với Vương Thế Trân, tuy là võ nghệ kém hơn Vương Thế Trân song trí hóa rộng nhiều, hay thấy biết nhiều việc cao xa, trong thiên hạ ít ai bì kịp, bình nhựt nếu Vương Thế Trân có muốn tính toán việc chi thì hay nghị với Cao Minh Lượng.

Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 03
Vương Thế Trân đi nửa đường gặp Cao MInh Lượng

Cho nên hôm nay gặ đây thì Vương Thế Trân lấy làm mừng rỡ lắm liền hỏi hỏi:

– Vậy chớ Cao huynh đi đâu đó vậy?

Cao Minh Lượng đáp rằng:

– Tôi tính đi lên làng trên đây mà đòi ít giạ lúa đem về mà chi độ. Còn Vương đệ đi đâu đó?

Vương Thế Trân liền thuật đầu đuôi các việc và nói.

– Bây giờ tính trở về mà phân phát của cải ấy cho chúng lâu la biểu nó tứ tán ra làm ăn đừng quen thói dữ ấy nữa.

Cao Minh Lượng nghe vậy thì cười rằng:

– Vương đệ tính như thế thì cũng phải song chưa phải là kế hay. Vì nếu nay Vương đệ chia phân cho nó rồi Vương đệ rút vô rừng núi mà ở thì càng thâm mai một anh hùng, chớ biết chừng nào cho lập thân đặng. Vậy nay, qua có một kế vạn toàn xin em khá nghe theo. Vả lúc nầy là lúc thiên hạ cả loạn những bọn khi nghĩa biết bao nhiêu mà bọn nào cũng chẳng làm chi cho nên việc, cứ có một đều đến mấy chỗ phú gia dọa hẵm, cướp giựt mà thôi, cho nên mấy chỗ ấy để tiền trong nhà chẳng khác để gươm để đao vậy. Vậy nay mình sẵn có bọn nầy thì hãy biểu nó theo mình rồi đến mấy chỗ phú gia ấy vào trần thuyết lợi hại cho người ta nghe rằng: “Nay giặc Tây Sơn tuy đương chiếm đoạt Nam kỳ nầy, song chưa chắc bọn giặc ở an đặng, vì dòng Lê cũng còn nhiều ông, song chẳng biết chư ông để tiền trong nhà có chắc là giữ đặng chăng? Vậy nay anh em chúng tôi tính dắt nhau ra miệt Bình Thuận nơi giáp giái Trung – Nam lưỡng kỳ mà mở cuộc đồn điền; vả lại chỗ ấy có đất hoang dư trăm muôn mẫu, mặc sức ta mở mang mà cày cấy, phòng khi cần vương mộ nghĩa mà trợ lực cho Lê trào. Ví bằng số nước có suy vi thì chúng ta cũng chẳng mất thửa phần giàu có vậy. Nay chúng tôi xin chư quí ông hãy hùn vô kẻ ít người nhiều đặng anh em tôi sắm sửa đồ vật và mua trâu bò mà đi làm cuộc ấy, tên mấy ông sẽ đem vô sổ hẳn hòi, như sau có khá chúng ta sẽ chia nhau cho phân minh, hay là như ông nào tính muốn theo anh em tôi mà lo việc thì cũng tiện vậy”. Đó tính như vậy phải tiện không? Vương đệ nghĩ đó mà coi như triều đình thạnh thì mình ắt đặng chữ sang, còn triều đình suy thì mình cũng sẵn cái giàu; chớ làm như em thì biết ngày nào cho thấy mòi khá cho đặng.

Vương Thế Trân nghe nói có lý liền ưng chịu, đồng rủ nhau trở lại. Khi về đến nơi Vương Thế Trân mới bảo sấp lâu la ấy hãy theo mình mà làm ăn, như đứa nào chẳng muốn theo thì ở lại cũng chẳng hại chi.

Vậy trong ấy có hơn ba trăm người tình nguyện đi theo, Vương Thế Trân mới dắt hết trở về Phan yên, rồi đến nhà mấy ông phú hộ mà tố trần việc tính làm ấy. Mấy ông phú hộ đều ưng lòng, kẻ đưa năm ngàn người đưa bảy ngàn quan, cộng hết thảy số tiền là chín trăm năm mươi sáu ngàn quan (956.000), mới rải ra đi mua trâu bò sắm cày bừa trục phản đủ đồ.

Khi cuộc tiệc sắm xong, Cao Minh Lượng lại bảo phải đầu đơn xin với giặc Nhạc Huệ phê cho mình một cái phép ra chiếm cứ nơi giáp giái Trung Nam lưỡng kỳ ấy mà khai phá làm ruộng, chớ vì không vậy thì e bọn ta rất đông chúng nó ắt nghi là khí nghĩa làm loạn chi đây thì ắt chẳng khỏi mang họa về sau.

Khi đơn trạng phê rồi đồng kéo nhau hơn sáu trăm người, trâu hơn ngàn ngoài con, lội bộ mà ra đến chỗ ấy. Đi nửa tháng trường mới tới nơi, liền cất trại dài hơn bốn trăm căn cho người ta ở và nhốt trâu cùng đồ đạc theo cuộc cày cấy.

Từ ấy mỗi ngày cứ đốc suất cho quân ấy ra ruồng phá lo việc ruộng nương chớ chẳng nói đến việc chi nữa hết. Lẩn bẩn thiều quang thấm thoát tin đã tám tháng trời, khai phá có hơn bảy mươi ngàn ngoài mẫu, mới lo mua giống các nơi đam về đặng cấy thử mùa đầu coi có khá cùng chăng?

Mới vừa sửa soạn rủi đâu có một bọn lâu la hơn ngàn người đến cất trại gần đó mà ở. Nguyên bọn nầy bị binh Cai cơ Chấn đuổi ra Trung kỳ, rồi lại bị binh ngoài Trung kỳ đuổi dồn lại cho nên chẳng biết đi đâu phải trú lại nơi đó.

Tuy là mấy ảnh chẳng dám động chi đến bọn Vương Thế Trân, và tuy vậy Vương Thế Trân có văn phê hẳn hòi song e chẳng khỏi việc tai bén họa đinh về sau. Và bọn ấy chẳng chầy thì kíp cũng phải bị bắt vì bởi tiền môn cự hổ hậu môn tấn lang thì chúng nó chạy đâu cho khỏi.

Thấy việc như vậy, Cao Minh Lượng biết thế ở chẳng yên cho nên biểu Vương Thế Trân phải tịnh trở về Phan Yên chẳng nên ở lâu chốn nầy, ắt cũng có ngày bị họa lây chớ chẳng không.

Vương Thế Trân nghe phải liền phân phát trâu bò gạo lúa cho mấy trăm người ấy, rồi với Cao Minh Lượng đồng chở hết những tiền còn lại có hơn mười muôn quan, mướn xe chở tiền xuống Mũi Né kiếm ghe bầu mướn về Phan yên đặng có thối hồi cho mấy người hùn, rồi sẽ lo phương khác.

Hai anh em khi đi đến Mũi Né mướn đặng ghe hai chiếc chở tiền, một chi61c chở người, qua ngày sau ghe mới kéo neo. Chạy đặng hai ngày một đêm trời êm gió thuận, cả thoàn đều vui vẻ. Qua bữa sau chừng sáu giờ sớm mai, thấy khí trời mát mẻ gió máy bặt tăm ghe chẳng chạy đặng; mặt biển bằng trang như nước trong chậu. Một lát, có gió rao rao hướng Đông Nam thổi tới, ghe vát đặng một hồi. Chừng một giờ chiều, gió lại thổi chánh Nam, cả thoàn đều có bụng lo, mới tính kiếm nơi mà đụt gió.

Chẳng dè gió thổi đến mạnh quá dựa bờ chẳng đặng; chưa đầy một khắc sóng dậy ba đào, nhắm lại chiếc ghe chẳng khác một cái phao lồng trên dòng nước. Nào buồm nào cột thảy đều đi theo ngọn gió. Nhiều khi ngọn sóng đưa lên tưởng đã đụng trời, khi lại giựt xuống như vào địa phủ.

Nào lái nào bạn đều khoanh tay mà kêu trời, chớ chẳng biết làm sao cho đặng. Hai chiếc ghe tiền chìm mất, còn mỗi người đều chắc phải chôn vào bụng cá mà thôi.

Thình lình trời vụt tối đen như mực, những người ngồi trên ghe còn lại đều chẳng thấy nhau đặng, lại thêm mưa lớn xối nhàu dường như ai múc nước mà đổ vậy; chớp nháng đầy trời, nghe những tiếng xôn xao và sét nổ; mỗi người đều sởn gáy ghê mình, ai ai cũng phải vịn cứng vào be ghe bằng không thì ắt phải theo ngọn sóng mà chôn vào bụng cá chớ chẳng không?

Thôi! Cả thoàn những tiếng khóc tiếng than, kêu trời trách đất vang rân chẳng biết sao mà nói cho cùng đặng. Qua lối tám giờ tối nhờ một cái chớp cả thoàn đều thấy phía tây bắc có một cục chi đen trày cao hơn mấy trượng, trườn ngay tới giữa chiếc ghe, cả thoàn đều điếng ngắt, tên đà công vụt nhảy ra có ý xô tay bánh vạy mà tránh cái vật ghê gớm ấy.

Dè đâu chẳng kịp, vừa nắm đến tay bánh thì ghe trước mũi nghe một cái rầm, trọn cả mũi ghe đều nát nghiến, nước ào vô, cả thoàn đều xuống biển, mới biết vật ghê gớm ấy là một chiếc tàu lớn vì tối đen nên chẳng thấy mà chạy sấn nhầm trên chiếc ghe hiểm nghèo nầy.

Bên tàu hay đụng ghe rồi thì lập tức ngừng máy, liệng trái nổi xuống và mở dây thả mấy chiếc tam bản treo hai bên đặng có cứu vớt những người khốn khổ ấy.

Thời may Vương Thế Trân, Cao Minh Lượng và năm người thủy thủ đều vớt đặng còn sót có một mình chủ ghe mà thôi. Ai nấy đều sa nước mắt. Hỏi ra mới biết tàu ấy là tàu buôn của người nước Anh Quấc, ở Phố Mới (nay là Singapore) chạy về Mã Cao (nay là Ma Cao, Áo Môn huyện Hương Sơn gần vàm Hổ Khẩu tỉnh Quảng Đông) .

Quan chủ tàu liền bảo cấp quần áo cho mấy người bị nạn nầy thay đổi cho khô khan, rồi tàu cứ việc chạy thẳng đường qua Mã Cao.


Còn tiếp

Related Images:

Trương Duy Toản – Phan Yên ngoại sử – 02

Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân

Vài lời từ người đánh máy:

Truyện này được xuất bản năm 1910 – những năm chữ Quốc ngữ còn sơ khai nên có nhiều từ cổ và cách ngắt câu rất khác so với hiện đại.

Tôi mạn phép sửa các “lỗi chính tả” theo hiện đại; giữ nguyên các hành văn để đọc giả cảm nhận được phong cách viết của các nhà văn xưa.


Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 02Chương II:

Trừ cường đạo nên trang nghĩa khí,

Kết phụng loan rõ mặt trung trinh.


Nói về Vương Thế Trân khi thấy bọn ấy đi rồi thì sẽ lén bước ra hé cửa dòm coi cho biết chúng nó muốn làm chi. Đứng ngó giây lâu chẳng thấy tăm dạng chi cả, vừa muốn bước vô đóng cửa lại đặng mà nghỉ, lại vẳng nghe nơi phía bên kia rào có tiếng đờn kìm rất nên tao nhã, rõ ràng tiếng kim tiếng thạch chen nhau, song nghe cho kỹ thì có hơi ai oán thảm sầu quá đỗi.

Nghe như vậy liền bước lại vạch rào dòm qua coi ai đờn cho biết. Vừa ngó qua đặng thì thấy dưới bóng trăng có một người con gái độ chừng 16,17 tuổi đương ngồi trên một tấm đá trắng mà đờn.

Trương Duy Toản - Phan Yên ngoại sử - 02
Dưới bóng trăng Nhan tiểu thơ dạo tiếng đờn kìm.

Bởi nghe có hơi động nên chị ta day mặt qua hướng ấy mà ngó chừng, cho nên Vương Thế Trân mới thấy rõ thiệt là một trang tuyệt sắc, nguyệt thẹn hoa nhường, thiên kiều bá mị, vạn chưởng phong lưu, coi chẳng khác như thiên thượng Hằng Nga. Song xem chưa mãn nhãn mà người ngọc đã day qua hướng  khác cứ việc đờn, còn thấy cái lưng mà thôi. Lấy làm bức tức nên anh ta mới có ý làm động một lần nữa cho nàng ấy day mặt lại.

Chẳng dè nàng ấy liền lên tiếng kêu hai đứa a hườn bảo lại bên rào coi có gian nhơn nào đó. Hai đứa liền vưng chạy vòng ra cửa rào gặp anh ta còn chăm chỉ ngó trân, hai đứa a hườn liền lại vỗ vai nạt rằng:

– Gian nhơn ở đâu dám đến đây mà dòm lén như vậy?

Anh ta giựt mình ngó lại thấy hai đứa a hườn thì mắc cỡ nên đổ cộc nói xẳng rằng:

– Ta đây là đường đường nam tử, bốn phương thiên hạ nghe tên, sáu tỉnh anh hùng nép mặt, sao bay dám cả gan gọi ta là gian nhơn?

Hai con a hườn thấy vậy thì chẳng dám nói chi cả, một đứa đứng đó giữ chừng, còn một đứa chạy vô đọc mấy lời ấy cho tiểu thơ nghe. Tiểu thơ liền bảo ra mời anh ta vô; vô đến nơi thì tiểu thơ liền đứng dậy bái mà nói rằng:

– Chẳng biết tướng quân có phải là Vương công tử chẳng?

Vương Thế Trân liền đáp rằng:

– Phải,

Rồi hỏi:

– Vì sao mà tiểu thơ biết đặng tên tôi? Còn tiểu thơ là ngươi chi của Trịnh trại chủ mà lại ở đây?

Nàng ấy vừa nghe nói như vậy thì quì xuống lạy mà nói rằng:

– Tướng quân ôi! Việc thảm khổ của tôi đây nói sao cho cùng đặng. Và tôi tên là Nhan Khả Ái, cha tôi là Nhan Kế Hiền, trước ngồi tri phủ Định Tường sau về hưu trí lập nghiệp nơi đây; nhà giàu có lớn, ruộng đất nhiều. Cách năm tháng trước, Trịnh Cao dẫn vài trăm lâu la đến đây giết cha tôi mà đoạt cả gia tài ruộng đất, nhờ có của ấy nó mới chiêu binh mãi mã thêm mà ra đại sự ngày nay như vầy. Nó lại cưỡng bức mẹ tôi bảo phải theo nó mà hầu hạ. Mẹ tôi vì thương tôi cho nên phải ẩn nhẫn mà chịu sự hổ thẹn, đợi cơ hội mà trả cừu cho cha tôi. Cho nên từ ấy nhẫn nay mẹ con tôi mỗi đêm mỗi đặt bàn giữa trời mà nài với Hoàng Thiên, xin sai người đến cứu mẹ con tôi và rửa hờn cho cha tôi. Cách bà đêm nay mẹ tôi có nằm chiêm bao thấy cha tôi về mách bảo rằng: Lời khẩn nguyện của mẹ con tôi đã thấu đến thiên đình rồi, cho nên cha tôi đã đặng phong làm thần trong xứ nầy, và trong đêm nay sẽ gặp một người nghĩa sĩ tên là Vương Thế Trân, phải tố trần sự oan khúc cho người ấy thì người ấy sẽ cứu và oán cừu ắt trả đặng. Vậy mà hồi chiều nầy nghe con a hườn tôi nó nói nghe rằng bữa nay có tên Vương Thế Trân nào đó đến nhục mạ Trịnh gia cho nên gia gia mới phục rượu cho người ấy rồi khiến đem bỏ ra sau nhà vườn đặng có đem đồ dẫn hỏa mà đốt cho chết. Nghe như vậy cho nên tôi lấy làm lo rầu quá, vì thấy điềm chiêm bao nói Vương ân nhân đến cứu, sao nay ân nhân đến đây lại bị hại thì làm sao mà cứu mẹ con tôi đặng. Nên tôi mới ra đây đờn ít chặp giải khuây, chẳng dè gặp ân nhân đây thật lấy làm may mắn quá. Vậy xin ân nhân thương lấy mẹ con tôi ra tay tế độ mà vớt kẻ trầm luân cho khỏi chốn nhuốc chơ, cho xong bề cừu oán, thì tôi cũng nguyện ngậm vành kết cỏ mà đáp ơn sâu, mang lông đội sừng mà đền ơn nghĩa trượng.

Nói rồi cứ việc lạy khóc. Vương Thế Trân thấy vậy liền biểu a hườn đỡ dậy rồi nói rằng:

– Tôi cũng biết bọn Trịnh Cao, Trịnh hạ là đồ chẳng ra chi, song chẳng dè nó dám cả gan làm việc độc ác như thế. Nay nó lại dụng ám tiễn thương nhơn mà hại tôi nữa thì tôi thiệt khó dung đặng, ngặt vì chẳng biết cây đòn gánh của tôi nó để đâu, nếu chẳng có cây ấy thì lấy chi mà chống cự với bọn nó cho đặng?

Nhan Khả Ái liền thưa rằng:

– Tôi thấy nó cất đồ hành lý và cây đòn gánh ấy trong phòng nó, song lúc nầy nó mắc ra ngoài đặng đốc quân xe củi và đồ dẫn hỏa phòng đốt ân nhân, nên để tôi vào thưa cho mẹ tôi hay, rồi tôi sẽ biểu a hườn lén lấy đem ra cho.

Vương Thế Trân liền nói:

– Nếu vậy thì được.

Nàng Nhan Khả Ái liền trở vô với hai con a hườn một chặp thấy hai đứa khiêng cây đòn gánh ra giao cho Vương Thế Trân mà nói rằng:

– Cô tôi kính lạy ân nhân xin ráng cứu người chớ bây giờ chẳng dám ra nữa, vì e tiết lậu cơ mưu mà khó lòng.

Vương Thế Trân cũng nhắn lại nói:

– Xin thưa với tiểu thơ hãy an lòng để mặc tôi toan liệu.

Nói rồi, nhảy ngang rào mà trở về chỗ cũ. Về đến nơi thì lấy cây đòn gánh phá một lỗ nơi vách phía sau rồi khóa cửa trước lại mà nghỉ.

Vừa nằm xuống thì đã nghe có tiếng sạt sạt cung quanh nhà ấy. Vương Thế Trân liền lại chỗ hở mà dòm thì thấy Trịnh Cao và Trịnh Hạ đều cỡi ngựa, tay cầm binh khi đốc sức cho quân sĩ xe vận những lưu hoàng, diêm tiêu, cây sài dẫn hỏa sắp bao xung quanh nhà ấy.

Vương Thế Trân thấy vậy thì giận lắm song chẳng thèm nói, để coi cho biết nó làm đến việc rồi sẽ ra tay cũng chẳng muộn chi. Sắp đặt rồi, Trịnh Cao mới truyền quân bao vây nhà ấy ba lớp, rồi mới nổi lửa lên mà đốt, trong giây phút thì bốn phía lửa đã hừng đều.

Trịnh Cao liền chỉ vô đống lửa mà mắng rằng:

– Loài thất phu, cho hết cái kiếp khua môi, cho hết cái đời uốn lưỡi. Cha chả! Mi giữ lòng trung nghĩa với Lê trào, nay sao chẳng kêu nhà Lê đến đây mà tắt lửa dùm cho mi.

Đương nói láp dáp chẳng dè trong nầy Vương Thế Trân chun ra ngả sau chống roi nhảy ngang qua ngọn lửa vừa đến trước mặt Trịnh Cao.

Trịnh Cao thấy vậy cả kinh lính quýnh, Vương Thế Trân chẳng thèm nói chi cả, cứ hươi roi đánh tới. Trịnh Cao né khỏi rồi chém lại một siêu, chẳng dè Vương Thế Trân đỡ hất cây siêu ra mạnh quá làm cho cây siêu gãy làm hai đoạn.

Trịnh Hạ thấy vậy bước tới tiếp chiến làm cho Trịnh Cao thoát khỏi. Vương Thế Trân thấy vậy e nó chạy mất, nên triển hết bình sanh chi lực mà đánh xuống một roi. Cây giáo của Trịnh Hạ cũng gãy lìa mà lại bị cái trớn roi mạnh quá làm cho anh ta té xuống ngựa.

Vương Thế Trân bồi thêm một roi nát nghiến như tương, rồi liền thót lên lưng con ngựa của Trịnh Hạ phá tan quân sĩ mà tìm kiếm Trịnh Cao.

Còn Trịnh Cao khi thoát ra khỏi rồi, thì biết việ nầy bể ra đây, chắc tại mẹ con Nhan Khả Ái chớ chẳng ai, nên tuốt vô nhà quyết kiếm cho đặng mà giết cho rồi, rồi sẽ tầm phương tị nạn. Ai ngờ mẹ con Nhan Khả Ái biết trước nên đã dắt nhau ra sau đụt vườn mà trốn, cho nên Trịnh Cao đào soát cùng nhà mà chẳng gặp, lại sợ Vương Thế Trân theo bắt mình, nên chẳng dám kiếm lâu, lật đật trở ra thót lên ngựa mà chạy. Ai ngờ vừa đến cửa vườn thì Vương Thế Trân cũng vừa sải ngựa đến đó.

Khi Vương Thế Trân thấy Trịnh Cao trong cửa vườn chạy ra thì thất kinh, tưởng có lẽ nó đã hại mẹ con Nhan Khả Ái, nên nạt rằng:

– Súc sanh! Mi đã hại mẹ con Nhan Khả Ái rồi chăng?

Trịnh Cao liền nói rằng:

– Mẹ con Nhan Khả Ái ở đâu tôi không thấy, còn tôi với đại ca không thù oán chi, sao đại ca nỡ bức tôi chi lắm vậy?

Vương Thế Trân giận nạt lớn lên rằng:

– Súc sanh, mi còn gọi không cừu không oán nữa? Mi đã dụ dỗ ta làm điều phi nghĩa ta chẳng khứng làm, lại lấy lẽ lợi hại mà phân trần cho mi nghe, mi lài mống lòng ám hại ta như vậy còn gọi là không thù sao?

Trịnh Cao liền năn nỉ rằng:

– Xin đại ca rộng xét, nào phải tại tôi đâu, nhơn em tôi là Trịnh Hạ, nó dại lén tôi mà làm ra việc như vầy, đến chừng tôi vừa hay được thì tức tốc ra đặng mà cản nó. Chẳng dè đến nơi thì nó đà nổi lửa, tôi vừa đứng ngó, kế đại ca lướt đến đánh tôi, chớ tôi nào có lòng ám hại đại ca đâu. Nếu tôi có lòng như vậy xin cho tôi chết về mũi đao thương kim kích.

Vương Thế Trân thấy thề như vậy thì cười mà nói rằng:

– Thôi để ta giúp cho mi thấy lời thề ấy là linh.

Nói rồi đánh một roi, Trịnh Cao nát óc nhào xuống ngựa mà thác.

Xong rồi Vương Thế Trân trở lại thì quân sĩ đều quì mọp dưới đất mà xin dung. Vương Thế Trân liền khiến chữa lửa và đi kiếm mẹ con Nhan Khả Ái. Khi kiếm đặng rồi thì mẹ con Nhan Khả Ái đồng lạy ta Vương Thế Trân và xin cho cái đầu của Trịnh Cao đặng mà tế Nhan Kế Hiền. Vương Thế Trân liền cho. Mẹ con Nhan Khả Ái mới đem đầu Trịnh Cao lại bên mồ của Nhan Kế Hiền đặt bàn tế tự khóc kể rất nên thê thảm.

Việc rồi Nhan phu nhơn mới nói với Vương Thế Trân rằng:

– Nếu mẹ con tôi mà ngày nay chẳng gặp đặng ân công ắt phải ôm hờn ngậm oán mà chịu chớ chẳng biết ngày nào mà trả cho đặng. Nay mẹ con tôi như vầy thì cũng chẳng biết lấy chi mà báo đáp cho ân công. Vậy nếu ân công chẳng hiềm quê kệch thì tôi xin dưng con gái tôi đây đặng sửa trắp nưng khăn làm thân tôi tớ mà đáp đền nghĩa cả cho ân công, xin ân công chớ phụ lời thiếp.

Vương Thế Trân liền nói rằng:

– Như phu nhơn có lòng đoái tưởng đến tôi dường ấy thì tôi đâu dám từ, ngặt vì ngày nay tôi chưa biết chắc là tôi phải ở đâu, chí tôi đương tang bồng trong võ trụ. Vả lại nếu nay mà tính gấp chi cho khỏi tiếng thị phi rằng tôi vì một tiểu thơ mà giết chết cả nhà họ Trịnh, thì anh hùng trong bốn bể há coi tôi ra gì? Vậy cho nên xin phu nhơn cùng tiểu thơ khá kiếm nơi mà ẩn dật, đợi một đôi năm tôi lập thân cho xong xả rồi sẽ tương sáu lễ mà đem tiểu thơ về chẳng là phải lẽ hơn?

Phu nhơn nghe nói như vậy liền kêu con mà nói rằng:

– Thôi ngày nay, oán chồng đã trả, thân cou tuy vậy chớ cũng đã xong rồi, mẹ xin con sau có về với Vương ân công thì cũng phải giữ cho trọn đạo thờ chồng, chớ khá học theo con nhà thất giáo mà lỗi đạo tùng phu thì cha mẹ nơi chín suối cũng chẳng an đặng.

Nói rồi liền khóc rống một hồi đoạn đập đầu vô mộ chí của chồng mà thác.

Nhan tiểu thơ cấp cứu chẳng kịp, liền nhào lăn nơi đất bất tỉnh nhơn sự. Vương Thế Trân thấy vậy liền dạy a hườn cứu cấp; chừng tiểu thơ tỉnh lại thì Vương Thế Trân khuyên giải rồi hỏi Nhan tiểu thơ.

– Vậy chớ còn bà con nơi nào không?

Nhan tiểu thơ thưa rằng:

– Tôi còn một người dì ở làng kế đây.

Vương Thế Trân liền khiến bọn lâu la chôn cất phu nhơn rồi biểu phải ở đó mà đợi, đừng rẽ ra, để ta đi đưa Nhan tiểu thơ đến nhà người dì rồi sẽ trở lại mà phân phát của tiền lúa gạo cho chúng bay về lo làm ăn đừng theo lập đảng tụ đoàn mà làm việc cướp giựt như vậy nữa. Dặn rồi thì đi với tiểu thơ và hai con a hườn tom góp đồ tế nhuyễn của tiểu thơ rồi thẳng qua làng kế đó mà tầm nhà người dì.

Đi tới trời sáng mới đến ranh Cẩm Giang Thôn, tầm kiếm hỏi han hồi lâu mới gặp nhà. Vương Thế Trân vào nhà liền thuật hết đầu đuôi và xin gởi gắm tiểu thơ ít năm rồi sẽ lo bề phối hiệp. Nói rồi liền từ giã bà dì ấy và tiểu thơ mà trở lại. Bà già cầm ở lại dọn cơm nước rồi mới lên đường, khi từ biệt nhau thì hai đàng đều rơi lụy.

Tiểu thơ liền làm một bài thơ mà tiễn biệt Vương công tử như vầy:

Ân tình hai chữ mới vương mang,

Phút chút bèo mây nghĩ nỗi càng.

Thiếp chốn cô phòng dầu an phận,

Chạnh người mưa nắng dặm quan san.

Vương công tử liền họa lại:

Ba giềng dồn dập một vai mang,

Chẳng đã đưa chơn bước lại càng.

Một bước một lo vì liễu yếu,

Quản bao thân kẻ vạn trùng san.

Thi họa vừa rồi thì hai đàng sái lụy mà phân tay.


Còn tiếp

Related Images: