Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 15: Kết

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 15: KếtTrương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 15: Kết


Sách viết cách nay cũng đã gần một trăm năm, trong lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai, nên có nhiều đoạn chữ rất cổ, câu văn không được mạch lạc, sáng sủa như hiện nay, cũng như cách dùng dấu ngã – hỏi, chữ cuối “t” và “c” hơi khác.


71. Chó sói và chồn

Bữa kia sói và chồn rủ nhau đi câu. Sói nói với chồn rằng: “Nề, đứa nào đem giỏ theo, rồi kéo cá về? Mầy hay là tao?”

Chồn rằng: “Đuôi anh chắc, thôi anh lãnh chuyện ấy.”

Sói chịu, Vậy chồn lấy dây chắc, cột giỏ vào đuôi sói, rồi đi câu với  nhau.

Bữa đó câu trúng quá, được cho một giỏ đầy cóng: sói kéo đi một đỗi, vụt dứt đuôi phứt. Ôi! Cha chả là đau.

Sói giận nói với chồn rằng: “Mầy gạt tao hử, thôi, để tao nhai xương mầy cho rồi.”

Chồn năn nỉ rằng: “Ăn tôi làm chi tôi nghiệp, anh? Anh theo tôi vô nhà chú thợ rèn gần đây, tôi mướn chú rèn cái đuôi anh chắc lại như thường, cho anh coi: mà có khi chắc hơn trước, không gãy, không đứt nữa.”

Sói nghe lời vô nhà chú thợ rèn: chú thợ thổi lửa nướng một miếng sắt đỏ, rồi đắp vô đuôi anh ta, nóng quá anh ta vụt chạy sải, la lối inh ỏi.

Chồn cũng chạy theo, gặp sói đang ngồi một bên đàn. Sói thấy mặt chồn, thì phát nổi gan, mà nói rằng: “Chuyến này tao ăn mầy đi cho rồi, chớ không dung nữa.”

Chồn rằng: “Anh cụt ơi, chơi chút vậy, mà anh oán chi, anh? Thịt tôi nó dai nhách, anh ăn mỗi răng, chẳng ích lối gì; chi bằng anh chịu khó theo tôi đây, nay mình trúng to: tôi biết có nhà kia có thịt dòi ngon quá đi: để mình đi ăn cắp ăn chơi cho sướng bụng.”

Sói ta nghe nói thịt dòi, nhiểu nước miếng, đi theo chồn. Tới nơi, đỡ chồn lên treo lấy mấy khúc dồi đem ra ngoài bụi.

Bây giờ chồn bày mưu rằng: “Ở đây không xong, sợ mấy đứa khác đánh hơi để dàng, thì ta không ăn được mấy miếng; thôi mình kiếm cây nào cao, leo lên để trển, rồi mình ăn với nhau cho vững bụng.”

Sói nghe bày liền chịu. Vậy chồn đem mấy khúc dồi trên chảng hai cây đầu cao, rồi ngồi ăn một mình.

Sói trèo lên không được, mới nói rằng: “Thôi, thì mầy ăn phần của mầy, còn phần của tao thì quăng xuống cho tao với chớ.”

Chồn ném xuống một hai miếng vụn  mà rằng: “Ừ đây, cho mầy ít miếng đây, Cụt.”

Sói giận nói rằng: “Tao mà bắt được mầy, thì tao nhai đi, thịt mầy có cứng bằng vỏ cây, tao cũng nuốt không dung.”

Nó liền la hét dậy rừng, mấy con chó sói khác nghe chạy tới nhiều lắm, anh cụt ta mới học lại cái chuyện con chồn ăn ở bất nhơn với mình. Mầy con kia nghe nói thì thương xót quyết hại chồn mà báo cừu giùm cho anh ra.

Vậy bọn nó bày thế mà bắt chồn; nó tính con nầy leo lên vai con kia, chồng tiếp lên luôn, dựa theo cây cho tới con chồn; nó bắt cụt ta chịu gốc, rồi nhảy trên vai nhau mà lên lần lần.

Khi gần tới, thì chồn la: “Bớ chú thợ rèn, đem miếng sắt đỏ đây mà sửa đuôi anh cụt một chút!”

Cụt ta nghe tên thợ rèn, nhớ trực bữa hỗm, hoảng hồn vụt chạy, mấy con kia nhào xuống lục cục, giận quá rượt theo anh cụt  bắt giặn họng chết. Chồn thấy vậy tức cười ngồi ăn cho hết dồi, rồi xuống đi mất.

Mạnh sức mà thua mưu người yếu là sự cũng thường thấy.


72. Thầy dạy ăn trộm, thử học trò

Có ông thầy kia làm thầy dạy phép đi ăn trộm. Học trò cũng được năm bảy đứa. Có một đứa mới vô sau, thầy mới thử coi cho biết nó có dạn dĩ lanh lợi hay không; thì thầy dắt nó đi ăn trộm với thầy.

Thầy đem rình cái nhà có đứa con gái hay làm hàng lụa. Biết có cây lụa dệt rồi, nó gói nó để trên đầu  giường kê mà ngủ. Thầy mở cửa biểu nó vô lấy cây lụa đem ra. Thầy thì đứng giữ nơi cửa; nó vào thắp đèn ló lên, rọi thấy rồi, thụt đèn đi, thò tay lấy cây lụa. Mà chưa từng đứng dựa cái giường sợ run rẩy, động con ấy thức dậy, nắm đầu chú bợm, nó thất kinh kêu: “Nó nắm đầu tôi rồi, thầy ôi!”

Thầy nó mới nói mưu: “Tưởng nắm đâu, chớ nắm đầu không hề gì, nắm mũi kia mới sợ.”

Con kia nghe tưởng nắm mũi chắc bỏ đầu nắm lấy mũi, nó giựt nó chạy ra được. Mõ ống làng xóm chạy tới rượt theo, nó sợ quá nhè bụi tre gay chun phóc vào trỏng. Gay đâm trầy trụa nát cả mình, mà khi ấy không biết đau? thủng thằng càng lâu càng đau, nhứt nhói rát đau lắm. Còn ông thầy chạy thẳng về nhà chỏng cẳng ngủ.

Sáng ngày ra thầy nói với vợ nó phải lo mà đi kiếm nó về. Chị phải đi kiếm đàng nào. Vợ nó ra đi kiếm, nó ở trong bụi tre gai thấy cỏn đi ngang qua mới kêu vô: “Mầy về nói với thầy cứu tao với. tao hồi hôm sợ quá chun vô đây. Họ rượt thét lấy chun đại vào không biết đau, bây giờ chun ra không được. Mình mẩy nát hết ” vợ nó về thưa lại với thầy.

Thầy xách gậy ra nó lại lục xin cứu. Thầy nó mới vùng la làng lên, bới làng xóm! Thằng ăn trộm đây! nó sợ đã sẵn, thất kinh quên đau vụt chạy tuốt ra được. Về nhà thuốc men hai ba tháng mới lành.

Còn có học trò khác dạn lắm, thầy nó muốn thử coi nó có biết khôn ngoan làm mưu, mà thoát thân khi túng ước hay không, thì đem anh ta tới nhà kia giàu lắm, thầy đánh ngạch vô được dở xương tre ra, biểu nó vô khuân đồ.

Nó chun vô, ở ngài thầy khóa quách lại, bỏ đó ra về ngủ. Nó ở trong không biết làm sao ra cho được ; mới tính dùng mưu. Vậy nó mới quơ hết quần áo tôt mặc vào sùm sùm sề sề. Lại lấy cái bung đội trên đầu, khuất mặt khuất mài đi hết. Ở trong rương mới kêu lên “Ớ chủ nhà, ta là thần; bấy lâu nay ta ở cho với mà làm giàu, nay mở rương cho ta ra đi dạo chơi ít bửa. Mở rương rồi đàn bà uế đi cho xa. Còn đàn ông thì nhang đèn, mà đứng nới ra xa xa, đừng có lại gần không nên.”

Trong nhà ngờ là thần thật, vật heo vật bò, để tạ thần. Lại mời tổng xã tới thị đó nữa. Dọn dẹp xong, tiêm tất, mở rương chống nấp lên dẹp lại hai bên đứng ra xa chờ ông thần ra.

Đâu ở trỏng mặc đồ sùm sề đầu dội cái bung đen đen, đi ra, rồi đi luôn đi, thầy dạy: “Ai có muốn cúng dưng vật chi, thì đi theo sau xa xa. Tới chùa thần vô ngự cho mà lạy.”

Thiên hạ ai nấy nghe đồn, rủ nhau đô hội đi theo coi.

Tới cái chùa kia, ông thần vô chùa, leo lên trên bàn thờ ngồi, cất cái bung đi. Thiên hạ vô thì đứng xa ngoài sân không dám vô. Bữa ấy anh học trò nhát, mà bị chúng rượt chun bụi tre gai, có đi theo coi. Biết là bạn học mình, thì thưa với quới chức, xin cho va vô coi cho gần. Mà mắc có lời thần đã phán, hễ ai lại gần, thì thần phạt sặc máu ra mà chết.

Làng tổng mới nói với nó: “Mặc ý, muốn chết thì vô.”

Nó bươn nó vô leo lên đàng sau dòm mặt, biết. Anh kia mới nói: “Anh đừng có nói ra, để nữa tôi về tôi chia đồ cho?”

Nó không tin nói:  “Không thì thề.”

Thằng nọ hỏi: “Thề làm sao?”

Nó nói: “Anh le lưỡi tôi liếm, tôi le lưỡi anh liếm thì là thề đó.”

Vậy thằng kia le lưỡi ra, anh nọ cắn ngang đứt lưỡi di, máu chảy ra, dầm dề; leng ten chạy ra, mà nói không dược, lấy tay chỉ biểu làng vô bắt.

Ai nấy thấy máu mủ vậy, thì ngờ nó bị thần phạt sặc máu, liền sợ thất kinh bỏ chạy ráo.

Thần ta mới mang đồ về nhà thầy, chia cho thầy mà đền ơn. Thầy khen nói: “Mầy học phép ăn trộm được rồi đó. Có muốn ra riêng thầy cho ra được.”


73. Con ruồi bị thưa, bị đập

Một người kia ở xứ rẫy bái quê mùa. Đến bữa nó đơm quảy  dọn ra một mâm cúng; con ruồi lên đậu ăn. Thì người chủ giận sao nó có hỗn; mới đi thưa với quan huyện rằng: “Lạy ông, tôi cúng cho cha mẹ tôi, mà con chi không biết, nó bay lên nó ăn trước đi, hỗn hào quá lắm.”

Ông huyện mới biểu nó: “Hễ nó hỗn hào vô phép, thì gặp nó đâu đánh nó đó.”

Nó vừa buônb miệng; con ruồi ở đâu bay lại, đậu trên mặt ông huyện ấy; thì thằng ấy nói: “Bẩm ông, ông mới xử nó làm vậy, mà nó còn dễ ngươi nó tới đậu trên mặt ông.”

Và nói và giơ tay ra giang cánh, đánh một vả trên mặt ông huyện xửng vửng.


74. Làm ơn mắc oán

Ngày kia, con beo buồn bắt khỉ võng đi dạo sơn thủy chơi, thình lình nghe tiếng chó sói đi săn. Khỉ, cái nghiệp nó nghe giớn giác, nghe động thất kinh, quăng võng, leo lên cây ngồi hết. Còn con beo cong lưng chạy miết dài. Chó sói cứ rượt mãi.

Con beo túng nước sợ có khi nó bắt được; may đâu gặp một ông già, theo lạy lục xin ông già cứu; ông già không biết làm làm sao, mới mỡ cái đãi, ổng biểu nó chun vô, rồi thắt lại vác trên vai mà đi. Chó sói chạy tới thấy đâu mất đi, mới hỏi thăm ông già. Ông già nói không có thấy. Chó sói bỏ về.

Ông già đi một dỗi xa xa, rồi mở miệng đãi thả con beo ra. Con beo phần thì mệt, phần thì đói bụng quá chừng nó đòi ăn thịt ông già đi. Ông già nói: “Tao làm ơn cứu mầy cho khỏi miệng chó sói, mà mầy đòi ăn thị sao?”

Con beo nói: “Cứu gì ông bỏ tôi vô đãi ngột, thiếu một chút nữa chết còn gì? Bây giờ đói bụng quá, phải ăn mới xong.”

Ông già nói: “Thôi thì đi hỏi chứng cớ cho hẳn hòi rồi ăn.”

Vậy tới chòm cây cao lớn, dắt nhau lại hỏi, thì cây nói: “Người ta là giống bất nhơn, ăn nó đi  để làm chi? Mấy tôi hằng giúp nó làm nên lương đống cửa nhà, mà nó còn lấy búa, lấy rìu nó chặt, chém chúng tôi hoài. Ơn ngãi gì mà để? Ăn nó đi?”

Con beo nói: “Đó còn từ chói gì nữa?” Nó xóc lại ó đòi ăn.

Ông già lại nói: “Cây cói biết gì? Nói vậy chưa đủ tin.”

Dắt nhau đi tới nữa; gặp một bầy trâu già. Con beo lại hỏi có nên ăn đi hay không? Thì trâu nói: “Chúng tôi làm đầy tớ nó già đời, cầy bừa, làm ruộng, cho có lúa gạo cho nó ăn cho no, đến khi chúng tôi chết rồi, nó còn phân thây, xẻ thịt, cái xương thì làm vạch, da thì bịt trống, đóng giầy, đóng dép, cứt  thì làm phân, không có biết công ơn chúng tôi chút nào, huống chi là anh? Ăn nó đi là đáng lắm.”

Con beo lại đòi ăn: ông già nói: “Lục súc vô đồ cũng chưa cũng chắc. lời tục ngữ có nói rằng: sự bất quá tam. Xin mầy để hỏi một lần nữa, rồi mầy hãy ăn tao cho đáng số tao.”

Dắt nhau đi nữa, một đỗi đành khá xa mới gặp một người con trai đi đường, đứng dừng lại hỏi: Thì người biểu nói gốc tích lại ban đầu cho nó nghe. Nghe biết rồi, mới nói: “Nào con beo hồi đầu mầy thâu mình lại, mà chun vô đãi ông già làm sao, thì làm lại coi thử, rồi hãy ăn thịt ông già.”

Con beo chun vô rồi thì nó thắt miệng đãi lại, vội bẻ cây đập con beo chết đi, và đánh và dặn: “Mầy vô ơn bạc ngãi với kẻ làm ơn cứu mầy, thì tôi mầy đập chết đi, thì đáng lắm.”

Lấy đó mà xét: ở đời biết là mấy người bạc tình, đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nơm? Chẳng những bội ơn mà thôi, mà lại dĩ ơn báo oán nữa. mấy người làm vậy bụng dạ dầy vò, chẳng người thì trời cũng hại nó đi có thuở.

Hễ làm lành thì gặp lành, mà làm dữ thì gặp dữ, chẳng chầy thì kíp, chạy đường trời không khỏi. Làm ơn mắc oán sự thường. Nhưng vậy ơn cũng chẳng mất đi đâu, làm sao cũng sẽ trả, chẳng người nầy thì người khác. Nên ai nấy cứ làm lành thì sẽ gặp lành mà chớ.

___________________________________________  Kết  ___________________________________

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 14

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 14Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 14


Sách viết cách nay cũng đã gần một trăm năm, trong lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai, nên có nhiều đoạn chữ rất cổ, câu văn không được mạch lạc, sáng sủa như hiện nay, cũng như cách dùng dấu ngã – hỏi, chữ cuối “t” và “c” hơi khác.


66. Cọp mắc mưu thỏ làm mà cứu voi

Lần khác con thỏ đi chơi, gặp con voi đang rầu rĩ bần xừ, mới lại mới hỏi vì làm sao mà làm bộ buồn bực làm vậy? thì con voi nói: “Bữa hổm con cọp gặp biểu tôi ngày kia tháng nọ tời chỗ nó nộp mình cho nó ăn thịt, mà nay đã gần tới kỳ, không biết liệu làm sao.”

Thỏ thấy tôi nghiệp thì nói: “Thôi để tôi tính giùm mà cứu cho, cho nó khỏi ăn thịt; hễ tới ngày thì lại rước tôi, tôi đi với, tôi làm phước cứu cho.”

Đến ngày đi nộp mình, thì voi đi tới rước thỏ, cỡi trên lưng mà đem tới chỗ hẹn. Thỏ dặn voi: “Cứ nằm đó không nói gì hết, để mặc tôi.”

Dặn dò xong rồi. Cọp đâu vừa tới. Thỏ ngó thấy cọp đến, thì nhảy ra trước đầu, táp một miếng, và táp và nói: “Không có con chi vừa.” Nhảy đàng sau, nhảy bên này bên kia cũng nói làm vậy. Rồi ngó quanh ngó quất thấy cọp lại: “Ờ ờ, có cọp đây, thịt ngon hơn thịt voi.”

Cọp nghe nói thất kinh, không hiểu đặng con gì nhỏ nhỏ mà dữ lắm vậy, vật voi xuống mà ăn, lại đòi còn ăn tới thịt cọp nữa. Nên nhảy trái ra chạy miết dài một thể.

Bầy khỉ thấy cọp chạy, thì kêu hỏi: “Việc gì mà chạy hung làm vậy.”

Thì cọp nói: “Úy đừng hỏi: Cái con chi nhỏ thó, mà nó vật voi nó ăn: nó thấy tôi nó nói: Ờ thịt cọp ăn ngon hơn thịt voi. Tôi sợ tôi chạy.”

“Anh dắt mấy tôi tới đó coi cho biết.”

Cọp nói: “Tao mạnh lại lẹ chơn, có sao tao chạy được, mà bây đến chừng làm vậy, mà chạy sao khỏi? “

Khỉ nói: “Không hề gì, để mấy tôi bức dây cột xâu lại với nhau rồi cột vào mình anh, rủi có làm sao, anh chạy anh kéo đùa  với tôi theo, có hề gì.”


67. Nói phạm thượng

Có một người kia chạy trong xóm chạy lại nhà người quen, có việc chi đó. Hỏi trẻ ở nhà: “Chớ cha bây đi đâu khỏi?”

Thì trẻ trong nhà nói: “Cha mấy tôi đi điền liệp”. Nghe nói tiếng về vua, thì giận chạy qua nhà ông nó mắng vốn: “Bầy trẻ bên nhà nó, nó phạm phép quá; nó nói: cha nó đi điền liệp.”

Ông nó mới hỏi: “Vậy mà hoàng nam hay là công chúa.” Người ấy lại tức mình, trưởng là trẻ nhỏ nó phạm thượng làm vậy thì thôi; có đâu ông nó cũng nói loát làm vậy nữa.

Giận, về, lại hỏi cha bầy trẻ, mắng vốn và con và ông. Cha nó mới hỏi: “Nó nói làm sao?”

Lão nói lại: “Tôi hỏi trẻ, anh đi đâu? Nó nói anh đi điền liệp. Rồi tôi qua bên nhà ông nó tôi nói. Ông hỏi: hoàng nam hay là công chúa?”

Thì người cha mới nói: “Vậy mà ngoại tổ hay là nội tổ.”

Thì lão lại càng giận, ra về, đi thưa với làng. Ra nhà vuông thấy có làng nhóm mới thưa: “Nầy tôi xin thưa với làng, con chú kia ở trong làng nói phạm phép: tôi tới hỏi cha nó đi đâu? Nó nói: Đi điền liệp. Hỏi ông nó; ông nó lại hỏi hoàng nam hay là công chúa? Rồi tôi nói với cha nó. Cha nó hỏi: Vậy mà ngoại tổ hay nội tổ? Xin làng phân xử.”

Làng mới nói: “Thôi, bữa nay còn mắc, để bữa nào hiệp nghị đã, sẽ xử.”

Anh ta nghe giận mới nói: “Tôi tức mình, tôi muốn băng đi cho rồi.”


68. Người hay đi kiếm ăn

Có người kia có tài hay đi ăn chực. Hễ đâu có đám tiệc, thì có anh ta; tới cà xốc kiếm ăn mà thôi. Có một người kia ở lối đó thấy gai con mắt, tính gạt nó một chuyến chơi; cho nên biểu vợ xách tiền đi chợ, giả đò đi mua đồ về dọn tiệc.

Chú chàng gặp bưng rổ đi mua đồ về nấu dọn. Anh ta nghe men tời, thấy dọn dẹp lớn; la lết ở đó chờ ăn. Chồng láy, vợ giả đò đau bụng, nhào lộn đứng sức, rên la om sòm.

Tiệc dọn đã rồi, bỏ đó lo thuốc men. Anh bợm ta cũng chạy xăng văng hỏi thăm người chồng: “Sao, đã nhẹ chưa?”

Chồng bứt đầu bứt óc nói: “Cha chả! Khó lòng thì thôi! Rủi bữa nay có việc sai thằng kia đi khỏi! Chứng bịnh nấy có một thứ máu cam làm thuốc trị mới đặng mà thôi, thằng đó mội lần có vậy thì nó kiếm mau lắm.”

Anh ta nóng, sợ đồ ăn nguội đi, “Thôi biểu trẻ đưa cái chén đây cho tôi kiếm cho.” Nó mới giang cánh tay nó ra, nó đấm mũi nó cho chảy ra.

Ngồi đợi coi có khá không, một lát chạy hỏi thăm, mà lần lần mũi nó sưng lên đau lắm; đến chừng nó đã sưng vù lên rồi. Chủ nhà đã nói với vợ mình đã nhẹ, ra mời ăn. Thì anh ta đau ăn không được, xin kiếu.

Té ra có ý kiếm ăn, mà phải chịu đói mà về; vì đau quá, ăn không đặng.


69. Thầy trừ chồn

Cái nhà kia hay nuôi gà nuôi vịt bán, mà bị chồn nó phá, nó ăn hết nhiều lắm. Gài bẫy, đánh nó hoài mà cũng không trừ nó cho lại được.

Anh kia nghe vậy, tính gạt ăn của nó một bữa chơi. Nên tới nói: “Nghe nói chồn nó phá gà phá vịt đây nhiều lắm. Có muốn trừ, thì tôi trừ cho.”

Chủ nhà nghe chịu liền. Vậy thầy mới biểu: “Đâm một con nhỏ, đậu cà ra làm nhân, cho đầy một thúng cái, đến mai tối đến, tôi làm phép cho một bữa thì hết.”

Thầy xách chiết tới, lấy bột, lấy đậu, đem ra nắm chồn, chồn nhỏ, để nơi ghế. Lại nắm một con lớn hơn hết để giữa.

Rồi đứng dậy, biểu vợ chủ nhà ra lạy. Thầy đứng vòng tay đọc: “Chồn đèn, chồn cáo, láo đáo ăn gà, tao chẳng có tha, tao tra vào chiết.”

Nói vừa rồi, bắt chồn bột bỏ vào chiết, bẻ lia nhơ vô túi. Con mẹ nọ thấy việc tiếc, thấy thầy lấy đã nhiều quá, thì nóng ruột, thì lồm cồm trỗi dậy, và lại và la chồn nào, chồn nầy, tôi cũng lấy một chồn. Rồi ôm con chồn lớn chạy vô mất.


70. Thợ may bị đập dùi đục trên đầu

Anh thợ may kia có tiếng hay đi nhà nầy nhà kia may đồ cho người ta, mà đi thì có đem theo một đứa để mang gói. Tới đâu, chúng dọn cơm dọn nước cho ăn, rồi kêu thằng đi theo ăn, thì anh thợ biểu đừng, nói nó đã ăn rồi. Thằng ấy đi bữa nào về bữa nấy, về đói xơ mép.

Bữa kia hai thầy trò, dắt nhau tới nhà ông huyện đi cắt dồ mà may. Thằng ôm gói, giận đã sẵn, tính báo anh thợ may một bữa. Khi anh thợ cắt đồ rồi xong xả ra tiểu. Ở trong này thằng đi  theo mới nói nhỏ với ông huyện rằng: “Bẩm ông, thầy tôi có chứng điên: đồ ông là đồ lớn tiền ông phải giữ, hễ ngó thấy mần mần dưới chiếu bộ giớn giác, thì là tới cơn điên, bứt xé đồ đi hết.”

Ông huyện hỏi: “Mà lấy gì mà trừ nó?”

Nó bẩm, dùi đục đập trên đầu một cái cho mạnh thì hết. nói rồi, nó lấy kim nó giấu đi. Anh thợ vào thấy mất kim, hai tay gõ dưới chiếu, cho nó dậy, con mắt thì láo luân ngó chăm chỉ mà kiếm.

Ông huyện tưởng  đã tới cơn điên nó, thì cầm dùi đục, lại đập trên đầu một cái bộp: mầy điên xé áo xé quần nghé!

Nó nói: “Bẩm ông, tôi không điên mà, tôi kiếm kim.”

Ậy! Ông huyện nói: “Thằng kia đi với mầy nó nói mầy điên.”

Nó mới hỏi: “Chớ sao mầy nói tao điên.”

Thằng kia nói: “Còn không điên nữa? Tới đâu nói tôi ăn cơm rồi, làm tôi đói bụng chết cha đi, không điên làm sao?”


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 13

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 13Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 13


Sách viết cách nay cũng đã gần một trăm năm, trong lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai, nên có nhiều đoạn chữ rất cổ, câu văn không được mạch lạc, sáng sủa như hiện nay, cũng như cách dùng dấu ngã – hỏi, chữ cuối “t” và “c” hơi khác.


61. Ông huyện thanh liêm cả đời, vì một lời nói mất đức thanh liêm

Ông huyện kia đắc chỉ ra ngồi huyện nơi kia. Mà ông ấy là người thanh liêm lắm, cho nên không dụng lễ mễ của ai, lấy một đồng, đem cửa trước cũng không xong, đem cửa sau cũng không lọt. Bà huyện thấy chồng không có ưa, thì cũng không dám lãnh lấy của ai vật gì.

Có cái làng kia nhờ ông huyện lắm, mà đền ơn nghĩa không được. Hễ đem tới giống gì, giống gì bất kỳ, vàng bạc tiền của gì, ông cũng không thèm gì hết; tức mình mới đem đút cho bà huyện. Mà bả cũng rằng rằng quyết một, một hai không dám lãnh. Ngài tôi thanh liêm, tính không có chịu, tôi mà có lấy nữa, sau rầy tôi. Làng càng nài, xin bà cất, nhậm lấy lễ, biểu trẻ thâu cho.

Bà thấy làng năn nỉ, cầm lòng không đậu, thì bày rằng: “Ông  huyện tôi, ngài là tuổi tí; vậy làng có bụng làm vậy thì thôi, làng có muốn, thì về đúc một con chuột bằng bạc đem  tới đây, để tôi chịu khó, tôi nói giùm cho, họa may có được chăng.”

Vậy làng nghe lời, về đúc một con chuột cống đặt ruột bằng bạc ròng, đem vô. Bà huyện lãnh lấy cất đi, không dám nói với chồng hay.

Đến sau khi ông huyện thôi làm quan, về hưu trí, thì nghèo; nhiều khi túng ngặt thiếu trước thiếu sau. Mà bà huyện thì lấy con chuột chặt lần ra mà bán, lấy tiền mua sắm ăn sắm mặc.

Bữa ông huyện nói với mụ rằng: “Bây giờ ta túng xây túng xài hơn thưở trước khi ta còn làm quan lắm; mà mụ lấy đâu mụ mua ăn mua mặc làm vậy?”

Thì bà huyện mới học lại chuyện làng đem của đền ơn, mà không lấy: “Thưở ông ngồi huyện, làng kia mắc ơn ông, mà tới năn nỉ đem lễ vật, mà tôi không chịu, họ nài quá tôi mới bày cho họ về đúc con chuột bạc đem dưng, vì ông là tuổi tí. Bậy giờ nhờ con chuột ấy, tôi chặt một khi một ít bán đi mà tiêu dùng.”

Thì ông huyện mới tiếc mới nói rằng: “Vậy sao bà không có nói là tuổi sửu, cho họ đúc con trâu. Phải nói vậy, bây giờ chẳng khá khiền đi ai?”


62. Mưu trí hơn là sức mạnh

Trong thú vật con cọp làm lớn, có oai quờn, hễ nó đi tới đâu, thì con nào cũng đều sợ nó. Còn một con chồn cáo hay phản nghịch, kiêu ngạo, lại dễ ngươi, gặp cọp thì nhún trể trở đít cho nó; rồi chạy tách đi mất. Cọp giận sao nó có dám khinh dị mình làm vậy.

Bữa nọ chồn cáo nằm ngủ, cọp đi tới chụp bắt lấy. muốn ăn thịt đi, mới mắng chồn ba điều, rồi có trị tôi nó: Mầy ỷ mầy có tài chạy hay, nên chi mầy khinh dễ tao ghe phen. Bây giờ tới số mấy rồi, tao nhai xương mầy, tao chẳng tha.

Con chồn mới nói với cọp rằng: “Mầy đừng làm phi ngãi, mà tao biểu các muôn thú hại mầy, mà khốn giờ.”

Cọp mới nói: “Mầy lấy giống gì, mà làm điều ấy được: mầy nói tao nghe coi thử?”

Chồn mới nói lại như vầy: “Tao có phép mà sai khiến đặng, vì Ngọc Hoàng có phong tao làm vua quản trị hết thảy: mầy cũng phải kính sợ tao nữa.”

Cọp nói: “Tao không tin ai, có lẽ nào mầy hèn hạ làm vậy, mà ai đi cho mầy chức quờn sang trọng thế ấy, mầy nói láo mà thôi.”

Chồn cáo lại gắng điều nầy nữa: “Như mầy không tin, thì mầy để tao leo trên lưng mầy tao cỡi, mầy đi dạo các nẻo đường rừng mà coi, thì mầy biết, chớ tao nói tay hai với mầy cũng không cùng.”

Cọp chịu: “Ừ, mầy đã quả quyết làm vậy thì mầy leo lên, tao đem mầy đi; nếu không có thiệt như lời , thì tao sẽ nhai xương mầy cho đáng tội.”

Khi chồn lên cỡi cọp; đi tới đâu tới đó, thì con chi cũng đều thất kinh chạy hết, mà con cọp lại tưởng chúng nó sợ con chồn, chớ không dè chúng nó sợ mình; cho nên trở lại xin lỗi với con chồn cáo, vưng phục đầu lụy con chồn. Cọp bái rạ đi, thì chồn dặn biểu cọp: “Từ nầy về sau mầy đừng dễ ngươi tao nữa, mới một lần, thì tao tha đi cho; mà sau có làm vậy, thì tao không dung nữa đó, chẳng chơi đâu.”

Chuyện nói xâm kẻ tiểu nhơn hèn hạ bất tài, mà hay nương thế kẻ có oai quờn mà húng hiếp người bình dân. Lại nói biếm người có quờn thế lớn, hùng hào, mà lại hữu dõng vô mưu, để cho kẻ dưới mình gạt được.


63. Thằng quáng manh đi làm rể

Thằng cha kia quáng manh đi hỏi vợ. Con mắt thì tử tế lành lẽ như thường, mà có tật quáng. Tới nhà làm rể. Bữa ấy ra đi cày ruộng, đánh mò theo chúng đi trước, ra làm được một buổi. Trưa lại, tới buổi thả cày chúng lật đật về ăn. Anh ta theo không kịp, đi sau lịch ịch sao sụp dưới giếng loạn, không biết đường nào mà lên.

Một chập lâu ở nhà ba mẹ vợ nói: “Ủa! thằng nó ham làm thì thôi! Trẻ, chạy ra kêu nó ăn cơm.”

Trẻ chạy đi kiếm, và đi và lầm bầm! cực thì thôi!… Nó ở dưới nghe, leo lên, đi theo về nhà.

Ngồi lại mâm ăn, bà mẹ vợ ngồi gần đó, chỉ món nọ món kia cho nó ăn. Nó khôn cứ lừa lừa theo lời mẹ vợ mà gấp trúng, không biết là quáng. Ở đâu con chó hỗn nó ăn trong mâm. Bà mẹ nói: “Sao con không đánh chó, để ăn vô làm vậy.”

Thì nó thưa: “Thưa mẹ, chớ đánh chó kiêng chủ nhà, tôi không dám đánh.”

Mẹ vợ nó nói: “Không có hề gì, cái dùi đục đây, nó có lại nó hỗn, thì đánh đại nó đi, đừng có sợ gì.”

Bà mẹ thấy nó nết na, nhát không dám ăn, không dám gấp, thì lại làm tài khôn, gắp đồ bỏ vô chén nó cho nó ăn. Nó nghe cọc rạch, nó tưởng là con chó lại ăn hỗn, nó đạp cho một cái dùi đục chảy máu đầu ra.


64. Ông thầy ăn khính bánh của học trò

Có một nhà giàu có sinh đặng một đứa con trai. Con nhà giàu, lại là con một, nên tưng lắm. khi được năm sáu tuổi, cha mẹ nó muốn cho nó đi học, mà sợ tới trường học, học trò nhiều đứa ngang tàng rắn mắt ăn hiếp chăng, nên tốn thì tốn, lo rước thầy về nhà cho học.

Mà anh thầy ấy hay ăn thép. Bữa kia mẹ thằng ấy đi chợ về, mua cho một tấm đường hay là cái bánh ngọt tròn tròn mà lớn. Con nó ra mừng mẹ đi chợ về, mẹ nó đưa bánh cho nó: nó mừng cấp ca cấp củm ôm lấy tiếc, chưa dám ăn, cầm chơi để dành.

Thầy thấy thèm, mới kêu thằng học trò lại: “Nầy con đem lại cho thầy tập nghe nghĩa cho con.”

Nó tình ngay thiệt thà, lật đật cầm đem lại. thầy lấy lấy, để ra giữa cái ghế; mới giả đò nghe sách cho nó coi: “Ngôi Thái cực là như vầy (để ra giữa nguyên y lẽ như vậy).”

Rồi bẻ hai ra, mà nói rằng: “Như vầy là thái cực sinh lưỡng nghi.”

Rồi lại bẻ ra làm bốn, mà nói rằng: “Như vầy là Lưỡng nghi sinh tứ tượng.”

Rồi thầy cầm lấy cái bánh, nói: “Còn như vầy là Tứ tượng biển hóa vô cùng” cầm đem lủm phứt cái bánh đi.

Thằng học trò mới lăn ra, nó giãy, nó khóc. Mẹ nó nghe, mới kêu mới kêu hỏi: thì nó nói: “Thầy nói để thầy tập nghe nghĩa cho tôi, rồi thầy ăn cái bánh của tôi đi.”


65. Con thỏ gạt con cù, cứu cá mà ra khỏi nôm

Con thỏ ở nhằm chổ đồng khô cỏ cháy, không có cỏ rác mà ăn cho no, tính qua sông, đi sang xứ khác thì nói với con cù rằng: “Anh chịu khó chở tôi qua bên kia sông,”

Cù hỏi: “Cái lưng tôi vậy ngồi có êm, có tốt không?”

Thỏ nói: “Còn nói chi nữa, đã láng thì chớ, mà lại mát nữa.”

Con cù chở qua tới bờ; nó lên rồi nó lại nói: “Cực chẳng đã tao mới ngồi trên lưng mầy mà thôi: tanh hôi dơ dáy quá; chị ở đâu mà đem mà gả cho uổng.”

Nói vậy rồi bỏ đi đi. Lên bờ, thấy cảnh mới vui vẻ xinh tốt, đi lần vô mọi khoai người ta mà ăn. Chủ vườn giận gài bẫy đánh. Thỏ quen chừng qua bữa sau cũng tới ăn đó ăn, mắc bẫy.

Người ta bắt được đem về, lấy cái nôm chụp lại để gần một bên cái chậu cá. Mà trong nhà bữa ấy tính làm việc chi đó, nghe nói: hai con cá với con thỏ thì đủ dọn.

Con thỏ nói với hai con cá rằng: “Hai anh biết, họ tính làm thịt ta đó. Mà hai anh có muốn ra cho khỏi hay không?”

Cá nói: “Làm sao không muốn. muốn lắm mà không được chớ.”

“Vậy thì làm vầy: hai anh nghe lời tôi thì xong: Cắn đuôi nhau mà vùng cho mạnh cho sạt bể hai cái chậu ra, thì lóc mà xuống hồ thì thôi: họ bắt không đặng đâu.”

Hai con cá nghe lời ra sức vùng bể chậu đi. Thỏ cao mưu kêu: “Bớ ông chủ, cá đi cà. Trong nhà lật đật chạy ra xách nôm theo mà chụp cá. Thỏ vùng chạy vụt đi mất.  Đã cứu cá mà lại cứu đặng mình.


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 12

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 12Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 12


Sách viết cách nay cũng đã gần một trăm năm, trong lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai, nên có nhiều đoạn chữ rất cổ, câu văn không được mạch lạc, sáng sủa như hiện nay, cũng như cách dùng dấu ngã – hỏi, chữ cuối “t” và “c” hơi khác.


56. Hữu dõng vô mưu

Thằng cày mở trâu ra sắm sửa đi cày. Ra đồng cày đàng kia qua đàng nọ. Trâu mệt đà le lưỡi. Mà mắc cày ruộng gần chơn núi, Chi cày thì thằng trai cầm cày hò hét, đánh đạp thá ví con trâu đà cơ khổ, lại thêm chửi rủa hành hạ quá chừng.

Con cọp ngồi rình trong bụi, ngó thấy vậy, thì giận lắm. Đến buổi thôi cày, thằng chăn thả trâu ra đi ăn. Con cọp mới lại gần kêu con trâu, mắng nhiếc sao có chịu làm vậy: “Mầy có vóc giạc mạnh mẽ sức lực, lại có hai cái sừng nhọn, là khí giái  mầy, sao mầy không cự không chống? Để gầm đầu mà chịu nó? Theo làm đầy tớ nó cho nó phạt mầy? Nó leo nó cỡi lưng cỡ cổ mầy như vậy?”

Con trâu mới nói rằng: “Trời sinh muôn vật, mà khôn thì làm sao cũng hơn mạnh thôi. Dầu mầy nữa cũng thua nó, huống chi là tao.”

Con cọp tức giận, mới nói rằng: “Tao có nghề trong mình, tao lại mạnh, cho mười nó đi nữa tao cũng làm chết, lựa là một.”

Con trâu nói: “Vậy thì mầy đi lại đây, đặng tao kêu nó đánh với mầy cho biết sức.”

Con trâu mới kêu thằng cày lại. Anh trai cày lơn tơn lại nói với con cọp rằng: “Tao bây giờ đang đói bụng, không có lẽ mà đánh với mầy đặng.”

Con cọp nói: “Vậy thì mầy đi ăn cơm đi, rồi có lại mà đánh với tao.”

Thằng cày nói: “Mầy hay nói láo lắm. Tao bỏ tao về, thì mầy chạy mất đi, còn gì đâu mà đánh?”

Con cọp nói: “Tao chẳng thèm trốn; mầy nói tao đọa kiếp. Mặt nào, chớ mặt nầy có chạy đâu!”

Thằng cày nói: “Như có thiệt làm vậy, thì rồi tao trói mầy lại đây, đặng tao về tao ăn cơm cho no, rồi tao ra mở mầy ra, đặng mầy đánh với tao. Như vậy mới chắc, không thì mầy trốn đi, tao có biết đâu đặng.”

Con cọp ỷ mình mạnh, thì nói: “Tao chẳng có sợ gì, trói thì trói.”

Nó mới đề cho thằng cày trói nó xong xả rồi, thằng cày mới chạy đi bẻ cây lại đánh con cọp. Con cọp mắc trói thất thế, vùng vẫy không được, bị đòn mà chết. Con trâu khi ấy mới khẻ miệng con cọp rằng: “Tao đã nói với mầy ấy, mầy không muốn nghe tao: mầy ỷ mầy sức lực mạnh mẽ mà thôi. Bây giờ mầy chết là đáng số mầy lắm. không thương hại lấy một chút.”

Ấy là mạnh mà không mưu; ỷ thế mạnh mà khinh dễ người ta. Có người tuy yếu thế yếu sức, mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được kẻ mạnh quờn, mạnh thế mà thấp mưu.


57. Thầy cho thuốc trừ muỗi

Người kia bất tài lỡ vận, không biết làm chi mà làm giàu. Ngày nọ đi lỡ đàng vào xóm đỗ nhờ. Đi từ sớm mai cho tới trưa, đói đã lủi. không phép ngồi không mà đợi cơm; mới bày chuyện nói mình có  phép trừ muỗi. Mà chỗ ấy thì nhiều muỗi lắm.

Ai nấy ngồi trông, rồi có xin đem về trừ muỗi; ai xin cũng chịu cho; dọn cơm thầy ăn, rồi thầy vò cơm có cục tròn tròn như hoàn thuốc tiêu, bỏ vô hầu bao. Cơm nước xong rồi, lấy ra mới đưa cho một người  một ít viên. Người ta hỏi đem về làm làm sao? Thì thầy mới nói: hễ khi muỗi cắn, thì sẽ lén mà lấy viên thuốc, mà châm chi trúng nó, thì nó hết.

Té ra thầy nói khào, mà nuốt cho qua ba miếng cơm. Rồi từ già ra đi. No bụng thì thôi, chẳng còn lo ai bàn bạc khen chê gì nữa.


58. Thợ hàn kim

Có một người cũng có chứng hay nói xạo mà kiếm ăn. Đi tới nhà người ta lạ, tính la lết đó chấy ba hột cơm dằn bụng; mới bày chuyện nói.

Người ta hỏi anh làm việc chi, thì anh ta nói mình là thợ hàn kim. Trong nhà mừng, lo dọn cơm nước cho chú thợ ăn. Ních cho một bụng cơm no nóc. Trầu thuốc tử tế.

Trong nhà với hàng xóm nghe đem kim lại, cậy thợ hàn giùm. Thợ lãnh lấy hốt cả bụm, rồi mới hỏi: vậy chớ còn mấy cái miểng sứt ra ở đâu, kiếm đem lại đây, tôi hàn mới được.

Mà đời nào ai lượm cái miếng nhỏ mà để dành? Té ra tốn một bữa cơm vô lối, chẳng nhờ được cái cóc rác gì hết.


59. Thầy pháp chữa ma Mèo

Lão kia nghèo, đi gặt mướn, vùi lấy lông lúa gặp một lũ con nít bắt thoa cho đứa nầy, đứa kia cùng mình. Nó về nó xót nó ngứa; nổi mề đay, sinh ghẻ sinh chóc. Thì lão tới giả  đò làm thầy pháp.

Cha mẹ mấy đứa con nít nghe nói, chạy tới hỏi thầy có phương chi giùm cho trẻ nhỏ. thì thầy nói: “Nó bị ma  mèo khuấy nó đó, giống gì? Bây giờ phải nấu cơm nếp cho nhiều.”

Ai nấy chạy về nấu đem tới. thầy mới lấy nắn tinh những mèo bằng cổ tay, cổ chơn, để đầu ghế. Rồi biểu múc hai ba thùng nước để đó, biểu đem con nít đến. Thấy đứng dậy hò hét một chặp; rồi mới đọc; “Mèo mẻo, mèo meo, mèo đừng nghẹo trẻ, tao bẻ mèo ra, tao tra vào đãy, tao quảy mèo đi… Kim niên, kim nhựt, kim ngoạt, kim thì… kim năng, thỉnh giải.”

Đọc rồi bẻ cổ mèo bỏ vào đãy hết. rồi biểu đem con nít tắm đi thì hết. Ba mươi đời thứ xót, hễ tắm thì hết; thầy làm lối, lấy cơm nếp đem về một bữa lứ lừ.


60. Con gái cầu chồng đại vương

Có một con kia nhan sắc đẹp đẽ, mà trong ý ước trông cho được một người sang trọng đứng vì vương vì tướng. cho nên thường bữa thường ra chợ mua nhang mua đèn, đem vô chùa vái cùng Phật Bà, xin xui khiến cho mình đặng như tình mình sở nguyện vậy.

Người bán nhang còn nhỏ tuổi, thấy cô ấy mỗi bữa mỗi ra đi mua nhang, thì lấy làm lạ: quải giỗ thì cũng có khi, có đâu mà mỗi ngày, ngày nào như ngày nấy. đánh mò theo coi; thấy vô chùa vái xin chồng sang. Anh ta dòm hiểu được ý, thì bữa khác mượn người khác bán thế cho mình. Liệu vừa chừng cô ấy vô chùa, anh ta vô trước núp sau tượng Phật. Cô vào thắp nhang, đốt đèn, ngồi lạy, xin một hai, cho được chồng làm vua làm tướng mà thôi. Chú chàng ở sau ứng tiếng lên nói: “Con muốn làm vậy mà không nên; con phải lấy thằng bán nhang ngoài chợ. Số con làm vợ đó.”

Cô ta ra về, vưng theo lời Phật Bà dạy ra tìm người bán nhang. Hẹn hò ngày kia buổi nọ, thì ra chỗ nọ cho nó đem về nhà. Vậy nó bỏ con ấy vào cái bao không, bỏ một đầu thì cô nọ, một đầu thì nhang, gánh thẳng về nhà. Đàng về nhà thì phải đi ngang qua cái rừng.

Bữa ấy có Thái tử đông cung đi săn trong ấy. Anh ta sợ gặp quân gia, quan quyền, có khi họ hỏi han khó lòng, mới đứng ngừng lại. Quân gia đâu vừa đi trợt tới. Nó thấy vậy gánh dẹp lại một bên đường, chạy tuốt vào bụi trốn trỏng. Quân thấy gánh, mà không có người, thì lại lục mà coi; mở cái bao ra thấy một nàng xinh tốt lắm, nằm khoanh trong ấy; thì dẫn lại cho Thái Tử xem.

Đức ông mới hỏi tự sự trước sau. Thì cô ấy gởi rõ duyên cớ đầu đuôi gốc ngọn lại đức ông nghe. Sẵn có săn một con cọp, thì Thái tử dạy đem con cọp bỏ vào cái bao cột lại, để lại trong gánh im lìm như trước. Còn cô ấy Thái tử đem về làm vợ.

Anh kia núp trong bụi nghe coi đã vắng tiếng, thì ra; lại rờ cái bao thăm coi vợ mình còn hay không. Bóp coi thấy còn, thì kê vai gánh về nhà.

Cha mẹ anh em ra mừng, hỏi chớ giống gì trong cái bao nầy vậy? thì nó nói nộ rằng: “Cọp đó, chớ gì? “

Cất nhang đồ rồi, nó rinh cái bao ấy vào phòng, đóng cửa lại, rồi lại mở miệng bao, được có đem vợ ra. Chẳng ngờ vợ đâu chẳng thấy, cọp ở trỏng nhảy ra, bẻ cổ anh ta chết tươi đi tức thì.

Bởi thiên lý vị nhiên, nên nghịch thiên giả tử.


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 11

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 11Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 11


Sách viết cách nay cũng đã gần một trăm năm, trong lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai, nên có nhiều đoạn chữ rất cổ, câu văn không được mạch lạc, sáng sủa như hiện nay, cũng như cách dùng dấu ngã – hỏi, chữ cuối “t” và “c” hơi khác.


51. Học phép hà tiện

Anh kia đi tìm thầy dạy học phép hà tiện. Tới nhà thầy, hỏi thầy phải mua chi mà làm lễ cúng tổ. Thầy mới biểu đi mua một cái bánh tráng mà thôi, đừng có mua gì nữa mà tốn tiền.

Nó mới đi chợ mua một cái bánh tráng, lại có mua một con gà, ôm về. Thầy nó thấy gà thì la: “Cái thằng dại, ai biểu mua gà làm chi cho uổng của?”

Học trò mới thưa với thầy: “Tôi tính làm vầy nên mới mua gà: là khi bẻ bánh tráng mà ăn, thì làm sao cho khỏi rớt vụn vằng xuống cũng uổng, nên mua con gà, để phòng khi rớt mảnh mún, thì nó lượm nó ăn, lớn lên thì bán được lời.”

Thầy nghe nói lý ấy thì nói: “Thôi, mầy hà tiện quá cha tao đi rồi, còn đi học gì nữa.”


52. Thiên lực, không phải nhơn lực

Ông kia làm quan tước phẩm cũng đã cao. Mà bởi thông minh có chí học hành, chớ chẳng phải là nhờ có ai đùm bọc nưng đỡ mà làm nên. Cho nên đề một tấm biển hai chữ Nhơn lực treo giữa nhà. Mà người vợ bé cũng là tay hay chữ, ra vô thấy chữ Nhơn lực, thì giận chịu không nổi.

Bữa ấy chồng cô ấy đi việc quan khỏi, ở nhà cô ấy bắc thang lên, thêm vào hai ngang, mà sửa ra chữ Thiên Lực. Chồng về ngó trực lên thấy Thiên Lực, thì hỏi trong nhà ai mà cải chữ Thiên làm vậy. Thì người vợ bé ra chịu sửa.

Ông lại hỏi: “Chớ sao mà nói Thiên Lực.”

Cô ấy thưa rằng: “Người sinh ở thế, mạng hệ ở trời, mọi sự cũng nhờ mạng trời dạy, trời khiến mới nên. Có ai mà bởi sức riêng mà làm nên được đâu?”

Ông ấy mới nói: “Có ở đâu? Tao đây cực khổ từ bé đến lớn, lo học hành hết hơi hết sức, mới ra làm vậy, nào có thấy sức trời giúp chi mô? Ờ, mầy nói làm vậy thì thôi, để coi mầy cậy sức trời có xong thì không cho biết.”

Ổng đuổi cô ấy đi, lấy áo quần với đồ nữ trang lại hết. Để cho cái áo cái quần rách xài xế bận mà đi. Vậy cô ấy ra thắp đèn nhang khói, mà vái với trời, xin: “Hễ chính ngọ tôi ra đàng mà gặp một người đàn ông nào, thì ấy là chồng tôi, được mà gởi tấm thân mà nhờ.”

Khấn vái xong xả, ra đi. Đi tới cái cầu dừa trưa đứng bóng, gặp một người đang câu cá, bộ quê mùa dốt nát, rách rưới túm trước túm sau, mới lại mới hỏi: “Chú kia, chú ở đâu mà đi câu đó; nhà chú ở đâu? “

Người câu cá mới xớ rớ thưa: “Tôi nghèo khổ, ngày đi câu cá, tối về ngủ trong hang đá, có che ba cái lá khô kia kìa.”

Vậy cô ta xách gói vào hang ở đó, nấu cơm nấu nước dọn dẹp tử tế, có mâm trên mâm dưới bĩ bàng. Anh kia tới buổi cuốn câu vác về nghỉ. Bước vào hang thấy mâm cao cỗ đầy, thì lấy làm lạ lắm. Cô kia mới mờ chú chàng ngồi lên trên, còn cô ấy ngồi dưới.

Ăn rồi cô ấy mới nói sự tình trước sau; lại bài lời mình khấn vái xin gặp ai đang chính ngọ, thì lấy người ấy làm chồng. Vậy bây giờ thiếp đã thề nguyền làm vậy, xin chàng cho thiếp theo mà làm vợ.

Người kia nói rằng: “Phận tôi khác, phận cô khác. Cô là người dung nhan tài sắc, tôi là đứa bơ vơ, khốn nạn, làm vậy sao xứng.”

Cô kia rằng: “Chẳng hề gì đều ấy mà lo, việc trời đã định vậy, thì hay vậy.”

Chồng cứ lễ cũ, thường bữa vác cần câu đi câu cá. Vợ ở nhà dọn dẹp, Sắm áo sắm quần cho chồng mặc; đêm vợ khuyên chồng thôi đi câu đi. Đem tiền bạc ra, biểu đi chơi bời, tới đám tới đình cho quen, cho biết việc đời, lịch thiên hạ sự với người ta.

Anh ta đã dốt lại khờ, chìu theo ý vợ, cột tiền đi ra chợ búa, quán xá chơi. Ngửa nón ra, mua bún, mua mắm nêm, đứng mời ai nấy, không ai ăn. Giận mình có của, mời người ta không ai thèm ăn; mà vợ căn dặn biểu đi làm quen làm lớn với người ta. Vậy mới mua thêm đồ, vào chùa gần đó nghỉ, thấy tượng phật nhiều, thì lại mời ăn. Tượng ngồi trơ trơ  mặt địa, không ừ hử nói đi nói lại gì hết. Nổi nóng mới lật ngửa cái tượng ấy xuống; lấy bún mắm nêm đứt trây cả miệng mồm: “Khinh người ta chi lắm vậy? ở sao bất lịch sự quá.”

Xong rồi bỏ phật nằm ngửa nằm nghiêng đó, xách nón về. Mà phật linh. Người ta vô chùa cúng, thấy tượng ngã chinh chòng thì lo thưa với làng với xã. Thiên hạ tới coi đông đúc, mà dựng lại không được. Phật hờn trì xuống không chịu dậy, lại cho ôn dịch chết dân trong làng nhiều lắm.

Làng báo với quan địa hạt; quan lại báo bộ. Vậy vua giáng chỉ: Hễ ai dựng được tượng lên được, thì cho chức quan lớn. Người vợ thấy yết thị dán, về học lại với người chồng.

Chồng nói: “Tưởng là chi, cái đều dựng phật, thì tao làm dữ đi chớ; tao lật xuống đó. Hôm trước tao mua bún thịt bánh trái đem vào đó ăn; thấy các ổng tử tế mời họ ăn, họ làm lẽ, tao giận, tao vật họ xuống, tao nhét đồ ăn và đổ rượu cho họ  đó.”

Vợ hỏi: “Có chắc làm vậy hay không?”

Lão chồng: “Sao lại không chắc? Hổm tao vật phật xuống tao đi; bữa sau tao vào nữa, thấy còn nằm, tao dựng lại tao lại mời nữa. Họ cũng cứ miếng cũ làm đời làm lẽ, tao giận tao lại vật họ xuống lại.”

Vợ mới biểu chồng ra đình, đánh mõ lên cho làng xóm tựu lại, cho có đông người ta coi; rồi chịu ra mà dựng tượng lên. Vậy nó dựng dậy được. Thiên hạ mừng rỡ khen ngợi.

Ít bữa tờ tư về tỉnh, tỉnh cụ sớ về bộ, bộ làm sách tấu. Vua ban phong quờn cao lộc cả, lại triệu về dẫn kiến. Thình lình đâu quân gia xe ngựa tới hang người ở, lều tranh chiếu rách; Thấy hai vợ chồng nghèo cui cút, một ngày tới tối những đi câu cá mà ăn. Bây giờ vinh vang võng đá dù lộng tử tế.

Tới kinh vào chầu cả hai vợ chồng. Khi ấy người chồng cũ cũng chầu đó. Liếc ngó thấy vợ bé mình, khi xưa bởi cãi chữ Nhơn Lực, mà đặt Thiên Lực, mà mình đuổi đi; bây giờ nhờ thiên lực, mà nên cơ hội nầy, thì mới biết mình đặt chữ quấy.


53. Cọp mắc bẫy, không ai thèm cứu

Con cọp làm chúa lâm, đến lúc se da cấm cung lại, ở nhà không đi đâu. Các loài cầm thú đâu có nghe tin chúa lâm khó ở, thì phép phải tới lui thăm viếng. Con nào con nấy tới thôi đủ mặt. Mà chúa lâm cấm cung thôi, bụng đà đói, nên tính bắt lỗi kẻ vô thăm mà ních thịt.

Vậy đầu hết anh chồn cáo vào, thì chú biểu lại gần mà hỏi: “Mình đau làm vậy, mà thơm hay là thúi?”

Thì anh chồn thiệt thà thưa rằng: “Thúi.”

Thì chúa nói: “Sao thì mầy dám chê tao thúi, tao làm chúa lâm, ngồi trên đầu trên óc thiên hạ mà thúi là sao?”

Giấng gáy lên, chụp anh chồn, mà anh kia lẹ nhảy trái ra khỏi.

Ra được mới trầm trồ nói: “Ý cha chả? Khó lắm!”

Con cò nói: “Thôi, cho tôi vô.”

Vô mà tính nói làm sao cho chảy thì vô. Cò nói không hề gì. Bước vô, Chúa lâm hỏi:” Ai đó?”

Cò thưa: “Tôi đây.”

“Xích lại đây cho gần”. Chúa cứ hỏi: “Chớ ông đau ốm làm vậy, mà ông thơm hay là thúi?”

Cò nói: “Thơm.”

Chúa lâm nổi giận nói rằng: “Thằng nầy nịnh nầy?” Vùng chụp nó mà hụt đi. Cò chạy ra sợ, mặt trái ngắt.

Chuột nghe nói, thì nói: “Thôi, để tôi vô.”

Chúa lâm thấy bóng vào, thì biểu lại gần; rồi hỏi: “Chớ sao? Ông đau, mà ông thơm hay thúi?”

Chuột nói cũng không thơm cũng không thúi. Thì chúa lại chụp, nói sao nó nói bậy. Chuột ra nói lại, ai nấy đều kinh tâm thảy thảy.

Cách năm bảy bữa, cọp đi rủi mắc bẫy cần vọt bật lên trên khí; may gặp chuột đi ngang qua đó. Thấy vậy mới hỏi: “Ủa? Ông làm gì leo lên trên ấy?”

“Ôi thôi! Đừng có hỏi; ông mắc bẫy rồi, có phương chi cứu với.”

Chuột mới nói: “Tôi thì cứu được: là tôi leo lên ra ngoài chót vót; nhỏ mình nhẹ, không sợ gãy té, rồi tôi cắn dây cho đứt đi thì xong. Mà tôi thì sợ một đều là ổng sẽ chụp tôi như bữa hổm. Tôi nầy là bao nhiêu, ăn cả lông cũng chưa đủ một miệng, mà hổm ông cũng hầm hầm đi nữa là.”

Nói vậy rồi bỏ đi mất.


54. Ruồi, muỗi, chim sắc với con rùa

Con ruồi con muỗi với con chim sắc, rủ nhau đi dạo đồng chơi. Ra đậu trên lá sen ở dưới bàu, nước trong mát mẻ lắm. Mới hỏi thăm nhau việc ăn ở thế nào, sướng cực làm sao.

Anh ruồi mới nói: “Tôi thì là sướng nhứt, có ai ví cho bằng. Từ Thiên Tử chí ư thứ dân, hễ có dọn yến tiệc gì, thì tôi ăn trước hết. Mâm cao cỗ đầy, ăn trên ngồi trước, hưởng trước chúng hết cả.”

Anh muỗi lại nói: “Tôi giống gì chẳng hạy, chớ mặt son má hồng nào, tôi cũng hưởng hết, sướng lắm.”

Anh chim sắc nói: “Tôi cũng sướng nữa: hễ là lúa sớm lúa mùa chi, thì tôi hưởng trước đi hết.”

Con rùa ở đâu dưới, bò lại cũng tranh sướng với chúng. Các con thượng cầm đó mới hỏi: “Ừ, anh sướng làm sao, nói cho tôi nghe với.”

“Tôi ở đây mát mẻ ăn uống vui chơi.”

“Mà anh ăn những vật gì nói nghe thử?”

“Thiếu gì món ăn: hột sen, sủ sen, cá rô, cá sặc, cá lóc, cá trê, đủ thứ.”

“Anh nói anh ăn nó, mà sao hãy còn thấy lên đánh móng đấy đi vậy?”

Con rùa nói: “Là không tôi có rau muống, tôi ăn rau muống thôi; tôi không có ăn các thứ ấy.”

Các con thượng cầm mới kêu nhau đi về. Anh rùa ra cầm lại: “Khoan đã nào, ở chơi về chi lật đật?”

Con ruồi mới nói: “Thôi, tưởng anh làm sao, cái này anh ăn những rau muống không, mấy tôi ở lại làm chi, đến ăn các thứ ấy.”


55. Con cóc với con chuột

Con cóc làm bạn với con chuột đã lâu ngày. Mà con cóc bụng dạ tử tế, hay chiêu hiền đãi sĩ. Thường bữa cóc hay đi chợ mua đồ về dọn tiệc mời anh chuột tới ăn uống chơi. Anh cóc thì ở hang, còn anh chuột làm ổ trên ngọn cây.

Bữa kia con chuột mua đồ về dọn ăn, tới mời con cóc lên nhà uống rượu chơi; mà con cóc không biết làm thế nào mà lên cho được. Thì con chuột biểu anh cắn lấy cái đuôi nó mà lên theo. Tới vừa gần cửa, thì chị chuột trong nhà ra chào: “Anh cóc đi dạo trên nầy.”

Con cóc hả miệng: ừ; thì sút té xuống chết đi.

Khi ấy vợ chồng con chuột nói với nhau, mà cười con cóc rằng: “Ba mươi đời thứ hay nhạy miệng, thì hay chết.”


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 10

Trương Vĩnh Ký - Chuyện đời xưa - Phần 10Trương Vĩnh Ký – Chuyện đời xưa – Phần 10


Sách viết cách nay cũng đã gần một trăm năm, trong lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai, nên có nhiều đoạn chữ rất cổ, câu văn không được mạch lạc, sáng sủa như hiện nay, cũng như cách dùng dấu ngã – hỏi, chữ cuối “t” và “c” hơi khác.


46. Trét chai cho trơn

Tên thợ lắp vò kia ngồi nơi trại một mình, đang nấu chai mà trét ghe. Xảy đâu có một tên trên rẫy cỡi lừa đi ngang qua đó, thấy lạ, mới đứng lại, nhảy xuống, bước vô coi và hỏi rằng: “Không biết anh nấu chi đó hé?”

“Chú mầy không thấy nấu chai đó sao?”

“Nấu chai làm chi vậy, anh?”

“Nấu chai trét ghe, chớ làm chi? Thuở nay không thấy người ta trét ghe hay sao?”

“Tôi ở trên rẫy, ghe có đâu mà thấy? Mà trét làm chi vậy, anh?”

“Khéo hỏi không! Trét cho nó trơn, cho ghe đi cho mau.”

“Vậy hả!… Tôi không có ghe, mà có con lừa đây, nó chạy tợ rùa bò. Không biết ước chừng trét chai nó, nó có trơn, có chạy mau hơn không?”

“Mau lắm chớ! “

“Thế thía! Không dám nào xin anh làm ơn trét giùm nó cho tôi chút; được không?”

“Sao không được? Đâu chú mầy vén cái đuôi nó lên; qua trét giùm cho mà coi.”

Tên rẫy mừng, dắt lừa lại, vén luốt đuôi lên; chú thợ múc một vá chai sôi, hất tạc vô chỗ ấy đó…Con lừa bèn nhảy nai, phóng riết…

“Phép hay thiệt! cám ơn anh!… Ủa cơ khổ! Thôi rồi! Nó chạy mau quá, mất rồi… Tôi theo bắt sao cho kịp?… Thôi, anh chịu khó làm ơn trét tôi luôn thể, trét bằng hai, cho tôi rượt cho kịp.”

“Mặc ý.”

Chú thợ tạt cho một vá chai sôi; anh ta nhủi xuống, la lên: “Cha ôi! Chết rồi! Trơn đâu mà chạy!”


47. Thầy bói bị trắc cổi quần vắt vai đi giữa chợ

Thằng cha thấy bói kia, đi đâu, có mướn đứa dắt để chỉ chừng đường sá. Mà nhằm đứa lý lắc hay chơi pha lửng; dặn nó hễ có mương thì nó la lên, cho thầy ta biết mà nhảy kẻo sụp.

Đi ngang qua chợ đông, nó muốn khuấy chơi, nó nói: “Mương, thầy mương ! Nhảy, thầy nhảy!”

Thầy nghe nói nhảy một chặp. Rồi nó nói: “Đây cái hào lớn, thầy cổi quần ra mà lội mới được.”

Anh thầy tin tưởng là thật, cổi tuột quần ra vắt vai đi xung xăng giữa chợ. Thiên hạ thầy trếu làm vậy, thì cười om cả chợ.


48. Hà tiện đến chết cũng còn hà tiện

Ông kia cả đời vẫn hà tiện rít róng, tiện tặn, không dám ăn dám mặc, bo bo giữ của hoài. Xán bịnh xuống, tính thể cầm không đậu, mới kêu ba đứa con vào trối trăn mọi sự.

Hỏi người con thứ tư: “Cha chết rồi, con tính chôn cất làm sao, cho khỏi tốn kém?”

Thì nó nói: “Mua một chiếc đệm rách bỏ xác vác đi, đào lỗ dập lại, thì khỏi tốn cơm tốn tiền.”

Mới hỏi đến người con thứ ba, thì con thứ ba nói: “Cha một mai có nhắm mắt lại rồi thì rinh mà chuồi xuống sông thì xong.”

Cha cũng chưa ưng bụng: “vậy cũng chưa hay mấy, vì phải mất công mà vô ích.”

Mới kêu con trưởng nam đầu lòng ra hỏi: “Trẻ em nó tính vậy đó mà như con, con tính làm sao?”

Vậy con thứ hai mới thưa với cha rằng: “Cha mạng một đi rồi, thì con chất lửa thui cái xác đi, lấy tro làm phân trồng hành, bán có lợi.”

Cha nghe nói ưng ý mới chịu, mà lại khen: “Con thiệt giống ý cha. Tính vậy là phải lắm.”

Hà tiện làm sao đến đỗi đã gần chết hòng lìa bỏ mọi sự, mà hãy còn so hơn tính thiệt, tính lợi tính hại!


49. Ba anh dốt làm thơ

Có ba anh học trò dốt, ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò, mà không có làm thơ làm phú với người ta, thì té ra mình dỡ lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau làm ít câu chơi. Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy:

Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.

Người thứ hai tiếp lấy:

Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.

Người thứ ba:

Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.

Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: hễ học hành giỏi, thì sau cũng phải chết. Cho nên tin như vậy, mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiều đồng lăng căng đi mua, ra ghé quán uống nước, ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì?

Thì nó nói: “Ba thầy tôi thông minh trí tuệ làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.”

“Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?:

“Có.”

“Mà có nhớ, nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao?”

Thằng tiểu đồng mới nói: “Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra,

     Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó;

     Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng: “Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể.”

Tiểu đồng hỏi: “Mua làm chi?”

Lão nọ mới nói: “Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.”


50. Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa

Bốn anh học trò đi đường, ghé vào chùa chơi. Ngồi coi ba bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi. Anh thứ nhứt thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:

Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gây!

Người thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:

Bên kia Thái Tử đứng khoanh tay.

Người thứ ba ngó quanh ngó quất, thấy tượng Châu Xương, thì đặt rằng:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác.

Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:

Ngoài nầy có quẳm đạp cầy thay.


Còn tiếp

Related Images: