Trương Vĩnh Ký – Huấn nữ ca 1882 – Phần 08 – Chung

Trương Vĩnh Ký - Huấn nữ ca 1882 - Phần 08 - ChungĐặng Huỳnh Trung (bản chữ Nôm)

Trương Vĩnh Ký (chép ra chữ Quốc ngữ)

Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1882


Huấn nữ ca – Phần 08,

Khi ăn khi ngủ phải thăm,

Mẹ nằm bên ướt, con nằm bên khô;

Mãn nghe con khóc ô ô,

Đói ăn khát bú kĩ dò chớ sai;

Dầu sanh tạp chủng một hai,

Bệnh trong tâm phúc, bệnh ngoài bì phu;

Riêng chăm thuốc uống thuốc đồ,

Kiêng ăn nhịn ngủ sợ lo ân cần; (790)

Trẻ thơ vừa lúc hay ăn,

Miệng nhai cơm búng, tay mằn cá xương;

Áo chăn may vá lặp lường,

Thước dài thước vắn xem đường dọc ngang;

Những là vóc nhiễu bạc vàng,

Chớ đeo chớ mặc ra đàng phải tai;

Thủy ngân thạch tín mọi loài,

Kiếm nơi cất kín kẻo mai con lầm;

Dây thừng, dao búa, chùy châm,

Đồng tiền chiếc đũa con cầm chớ trao; (800)

Thần linh miễu thẳm điện cao,

Đừng cho xông xáo bước vào hại con;

Biết đi biết chạy lon bon,

Giữ gìn nước lửa cho tròn thỉ chung;

Khí trời nóng lạnh tố dông,

Những hơi sương gió chớ bồng con ra;

Lớn lên gái mẹ trai cha,

Tôn thầy gần bạn, đều là chánh nhơn;

Trà đình tửu tứ chớ thân,

Sĩ nông công cổ bốn dân tập rèn; (810)

Ơn thầy ngãi bạn giả đền,

Ít nhiều hậu bạc theo nền nếp ta;

Tới ngày nam thất nữ gia,

Vợ chồng định liệu cửa nhà qui mô;

Ví dầu di phúc thác ô,

Hết lòng đưỡng dục mới phô rằng người;

Trẻ thơ tính nết hay chơi,

Mình làm mẹ nó chớ dời con ta;

May mà con có thầy cha,

Tay dìu miệng dắt phận ta đã rồi; (820)

Ví bằng mẹ góa con côi,

Cần nên dạy bảo khi ngồi khi ăn;

Nào là gà đá muôn săn,

Bạc cờ đĩ thỏa áo khăn dập dìu;

Nào là bạn quỉ bạn yêu,

Trường chay đám bội rủ kêu đêm ngày;

Nào là trà tỉnh rượu say,

Bàn đèn ống điếu bắt tay chào mời;

Nào là cá nước chim trời,

Rày câu mai bán khắp nơi quên về; (830)

Nào là ăn nói u mê,

Cắt tay đặt miệng kẻ chê người cười,

Kể chi con một con mười?

Mình làm đạo mẹ cạn lời với con;

Bằng đà nói ngọt nói ngon,

Mà con nghịch mạng đánh đòn cho đau;

Cửa buồng ngăn trước ngăn sau,

Trong màn ngoài sáo bảo theo phép nhà;

Gái nầy mười tuổi xa cha,

Trai kia mười tuổi nằm xa mẹ mình; (840)

Nàng dâu chàng rể đã đành,

Tớ trai tớ gái thuộc thành áo cơm;

Chớ cho lửa bén gần rơm,

Ếch nầy giếng nọ người đơm kẻ bày;

Vật chi trao chịu sang tay,

Lựa nơi mà đặt giữ ngày như đêm;

Dầu mà thuốc vấn trầu têm,

Có cơi có hộp chớ hiềm không đưa;

Cấm đừng hoa nguyệt kéo cưa,

Hát đi hát lại lọc lừa tiếng dâm; (850)

Cũng đừng vào chốn tối tăm,

Nghiêng tai nói nhỏ lâm râm nhiều lời;

Dầu khi đi đứng gần nơi,

Phải lên tiếng trước cho người sửa sang;

May ra mình lấy chồng sang,

Hay là quyền chức đi đàng công danh;

Khuê môn mình giữ phận mình,

Nhẽ đâu nói việc triều đình làm chi?

E mình là đứa vô tri,

Đưa dây dứt mối có khi mà lầm; (860)

Huống chi mình lại hắc tâm,

Ngửa tay cất lấy huỳnh câm đem vào;

Ví dầu trà đặt bánh trao,

Không bao nhiêu đó cũng giao lại người;

E mai tội lệ tới nơi,

Đồ lưu trảm giảo muôn đời đục nhơ;

Bằng may lánh khỏi bấy giờ,

Của nầy phi ngãi cũng chờ lúc ra;

Nào là địa ngục dạ xoa,

Nào là phá háo sao sa cửa mình? (870)

Luật trời phép nước chẳng khinh,

Chi bằng giữ vẹn liêm trinh mà nhờ;

Bạn hiền mời rước đợi chờ,

Những người đàng điếm đi ra cho rồi;

Ví bằng đứng đứng ngồi ngồi,

Nào ai  phải lứa vừa đôi chi mà?

Một mai miệng lỡ chơn sa,

Lấy theo nết nó, nết ta chi còn?

Cho hay đen mực đỏ son,

Lại thêm ống méo bầu tròn những xưa; (880)

Vậy nên phải luận người ưa,

Những trang thục nữ ta đưa bạn về;

Rồi ra tập nết tập nghề,

Công, dung, ngôn, đức bốn bề đều xong;

Chị em chung thỉ một lòng,

Sau thầy trước bạn chớ hòng phụ ai;

Những điều dạy bảo một hai,

Tám mươi ba tiết lòng dài ý sâu;

Những người làm gái làm dâu;

Cùng là làm mẹ vẹn đầu vẹn sau; (890)

Nói chi hèn khó sang giàu?

Trẻ già lớn bé nhủ nhau một bề;

Sao cho khỏi nhuốm thói mê,

Ấy là đặng chữ gia tề tốt thay;

Khí hòa vầy hiệp từ nay,

Trời đưa phước lộc một ngày một lên;

Trăm năm vàng cứng đá bền,

Dặn cùng ai nấy chớ quên dạy nầy. (898)

———————————————-  Chung ————————————————–

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Huấn nữ ca 1882 – Phần 07

Trương Vĩnh Ký - Huấn nữ ca 1882 - Phần 07Đặng Huỳnh Trung (bản chữ Nôm)

Trương Vĩnh Ký (chép ra chữ Quốc ngữ)

Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1882


Huấn nữ ca – Phần 07

Trẻ con nhiều đứa ngược tai,

Đừng binh chúng nó mà sai nghi người;

Sanh ra nhiều thốt nhiều lời,

Con ai mà lại dám chơi cùng mình;

Người chánh thất kẻ tiểu tinh,

Vợ trên hầu dưới đã rành trước sau;

Lỡ ra hòa thuận cùng nhau,

Em nưng chị ngã mầy tao thêm xằng;

Sứa đâu lại nhảy qua đàng,

Đá đâu trên cỏ lung lăng một mình; (690)

Gái người bạn với con mình,

Vốn duyên trời buộc để dành cho ta;

Xui người xa mẹ ngại cha,

Chịu mình tang chế những ba năm trời;

Gái mình rồi cũng dâu người,

Mẹ chồng khổ khắc lụy rơi hai hàng;

Cớ chi mình chẳng nhập giang?

Lại còn bươi móc lắm đàng khúc eo?

Chi hơn yêu đội nưng niu,

Bày khôn vẽ dại lấy điều ngọt ngon; (700)

Thương ra trái ấu cũng tròn,

Ghét ra những trái bòn bòn méo ngay;

Còn như phận gái gái hay,

Dầu em dầu chị mấy người ở chung;

Quen nhà mạ, lạ nhà chồng,

Dầu ai cũng vậy chớ lòng đôi co;

Một trăm ông chú không lo,

Mà lo một chút mụ o nhọn cằm;

Khua môi xang lưỡi om sòm,

Mình nom việc đó, ai dòm việc đây? (710)

May mà chống có con bầy,

Như ruộng nhiều lúa, như cây nhiều nhành;

Mai sau hương hỏa cơm canh,

Phần mồ đống mả có mình ở trong;

Còn khi bệnh cả nạn hung,

Con mình cậy có con chồng anh em;

Lẽ đâu chặt đũa trừ kem?

Một bề thiên ái, mà đem bụng xàng;

Vắng chồng mười tháng đầy trăng,

Gái trai trời định ai rằng thiệt hơn? (720)

Cù lao cúc dục là ơn,

Biết đâu phước tội mà hờn mà vui;

Đạo nhà khi tới khi lui,

Trai đâu bất tiếu sụt sùi mẹ cha;

Nào hay gái trở khem ra,

Môn mi dành để phước nhà từ đâu;

Huống chi nối nghiệp cơ cầu,

Máu mô thịt nấy chớ hầu đổi thay?

Ví bằng rút giắt trao tay,

Khác dòng khác họ có ngày suy vong; (730)

Việc nhà dễ một ai xong,

Mỗi người mỗi việc có trong có ngoài;

Kẻ trên khi gọi khi sai,

Sân chung mặt đó gặp ai nấy làm;

Dâng công mình chửa dạ cam,

Việc mình chẳng hết côm-lam việc người;

Bằng khi ai có vẽ vời,

Một mình vai vác chớ bươi móc gì;

Phụ công vốn phận nữ nhi,

Làm rồi cũng chớ kể chi sâu dày; (740)

Mình đã tốt phước làm thầy,

Phận người tôi tớ đỡ tay chơn mình;

Việc chi dạy bảo cho rành,

Sớm khuya nhắc nhủ tập tành nết na;

Chẳng ki tớ trẻ tớ già,

Cơm no áo ấm muối cà vải gai;

Đứa nào bệnh hoạn một mai,

Sống nuôi thác cất chớ hoài bỏ đi;

Dầu khi nhà nó việc gì,

Tiền cho gạo cấp kể chi từng đồng; (750)

Đứa nên định vợ gả chồng,

Đứa hư mình cũng một lòng trước sau;

Không nuôi ta đuổi đi mau,

Để chi đánh chưởi ra màu lôi thôi;

Đạo trời quả báo chi rồi,

E mai con cháu lại tôi tớ người;

Thai sanh ai chẳng nhờ trời,

Nghe chừng kết quả phải rời chồng ra;

Con ta ta giữ cho ta,

Cữ kiêng chẳng luận thai già thai non; (760)

Một là dục hỏa phạm con,

Tử cung rối loạn chẳng còn gì thai;

Hai là nhiệt độd vãng lai,

Sanh con yểu trát ghẻ sài quanh năm;

Ba là trước khí trúng nhằm,

Sanh con ngu lỗ mê tâm từ rày;

Ăn chi cua, ếch, lươn, cầy?

Gan heo, huyết lợn, tiêu cay, rượu nóng?

Chớ nên phục dược khi không,

Lại kiêng thịt chết với cùng chích sao; (770)

Hưng công động thổ khi nào,

Đồ tể hung ác chớ vào tận nơi;

Rau xanh cơm trắng theo đời,

Tai nghe tiếng đọc những người thi thơ;

Cũng đừng tĩnh tạo an cư,

Sớm khuya khó nhọc kể từ mới thai;

Nào là than đốt nghệ mài,

Dần dần sắm sẵn để mai lâm bồn;

Sanh con ra khỏi sản môn,

Mẹ ngồi nhưng nghĩ việc con lâu dài; (780)

Lòng thương chẳng lựa gái trai,

Đặng chi mầng nầy chớ hoài phụ tâm; (782)


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Huấn nữ ca 1882 – Phần 06

Trương Vĩnh Ký - Huấn nữ ca 1882 - Phần 06Đặng Huỳnh Trung (bản chữ Nôm)

Trương Vĩnh Ký (chép ra chữ Quốc ngữ)

Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1882


Huấn nữ ca – Phần 06

Ví bằng tiền cạn gạo không,

Tay sam tay ốc chớ hòng riêng than;

Chồng dầu số kiếp gian nan,

Hay là dốt nát cũng an phận mình;

Đương khi hoạn nạn gặp gầnh,

Trèo non lăn suối giữ tình ái ân;

Dầu mang tội với quân thân,

Ở trong li tiết cũng gần chớ xa;

Đường mây ai khỏi sẩy sa,

Trèo lên trượt xuống người ta có thường; (580)

Dầu cách dầu giáng một trường,

Mình cho vẹn đạo cang thường mới hay;

Dinh hư tiêu tức có ngày,

Trước giàu sau khó vận xây gởi trời;

Dầu chồng sa sút thua người,

Ăn đói mặc rách chớ dời lòng ta;

Ví bằng giận dữ đòi ra,

Làm tai làm ngược ắt là họa to;

Chồng yêu chồng mới bảo cho,

Dầu quở dầu mắng càng lo sợ nầy; (590)

Chớ nên nặng mặt sa mày,

Động nia chặt thúng nói cay nói nồng;

Chớ nên bỏ việc bỏ công,

Chạy ra xách nón đi dông đi dài;

Chớ nên giận lẫy nằm hoài,

Nhịn cơm nhịn cháo rằng ai bạc tình?

Chi bằng cúi mặt co mình,

Thốt thưa dịu ngọt cho đành lòng trên;

Vợ chồng đẹp cả đôi bên,

Trên hòa dưới thuận mới nên đạo nhà; (600)

Con chồng là cũng con ta,

Trẻ thơ ngây dại nó đà biết đâu?

Chớ nên lòng hiểm dạ sâu,

Giận chồng đánh cưởi mang câu bất từ;

Đàn bà những lúc khỉ cư,

Yếm dày khăn khít chắc khư lấy mình;

Dầu là quần bố tràm kinh,

Cũng cho tề chỉnh giữ mình đoan trang;

Đi nằm gài cúc gài quang,

Chớ tin phòng kín hở hang áo quần; (610)

Tắm đừng tắm lổ tắm trần,

Huống chi lại chốn giang tân nửa ngày;

Dầu khi vội vả lắm thay,

Chơn đi dè dặt guốc giày nhẹ không;

Đàng đá đàng cát long đong,

Lỡ chơn trái bước chổng mông van trời;

Đêm khuya nằm ngủ nằm ngơi,

Nghiêng mình theo gối chớ dời chơn tay;

Dầu khi giấc tỉnh giấc say,

Sáo quần chặt chịa khỏi bày mình ra; (620)

Làm người phải giữ nết na,

Khó mà khó sạch rách mà rách thơm;

Những là trầu nước mũi đờm,

Chớ nên vây vá mà nhờm mắt chơn;

Kìa nơi ván sạch chiếu trơn,

Đang khi dơ lấm chớ chen mình vào;

Dòng sông có phải nước ao?

Thủy quan Hà bá biết bao quỉ thần?

Gặp khi tiết nhựt đản thần,

Kẻ vò gạo cúng người cân nước thờ; (630)

Nguyệt kinh máu để tanh nhơ,

Chậu dầm tay giặt bấy giờ cho xong;

Chớ nên đem xuống dưới sông,

Tội nầy sẵn đó có hòng khỏi sao?

Nhị tiện nhơ nhớp xiết bào,

Có nơi có chốn lẽ nào đảm xiên?

Sao cho rõ mặt gái hiền,

Vi bằng quỉ lộn với tiên ra gì?

Phép nhà có phận tôn ti,

Ai ai mà chẳng bỉnh đi tánh còn; (640)

Đứng trời đã rạng như son,

Phận mình em út dâu con vợ hầu;

Lẽ đâu lộn đít lộn đầu?

Làm điều phạm thượng, buông câu loạn thường?

Những người ăn ở bất thường,

Gương trời soi xét tai ương chẳng vừa;

Vậy nên kêu dạ hỏi thưa,

Vào lòn ra cúi rước đưa kính nhường;

Tùng phu ta giữ đạo thường,

Xướng tùy hai chữ trăm đường thuận theo; (650)

Chớ nên chưởi chó mắng mèo,

Trâu đen trâu trắng ra điều chẳng hay;

Ơn cha ngãi mẹ nặng dày,

Sống thờ thác cất có ngày nào nguôi?

Cha răn mẹ bảo dể duôi,

Uổng chưng công đẻ công nuôi hai người;

Ai lớn bằng đất bằng trời?

Trời che đất chở già đời không quên;

Dầu khi gió dậy sấm rền,

Việc mình c1 trở chớ nên giận hờn; (660)

Trẻ con trái chứng từng cơn,

Đòi ăn đòi bú lờn đơn với mình;

Mẹ yêu con phải dỗ dành,

Chớ nên đánh chưởi chẳng lành bởi ta;

Anh em chồng cậy ruột rà,

Lẽ đâu mình nỡ tách xa hai đường;

Ví bằng người có huích tường,

Cũng nên ngăn đón trong giường trong chăn;

Của cha mẹ để có ngàn,

Ít nhiều sớt xẻ kẻ ăn người nhờ; (670)

Tớ tôi miệng lưỡi thêm thừa,

Tự ta giả điếc giả lờ cũng thôi;

Bạn đâu khác họ đã rồi,

Nay về một cửa ăn ngồi cùng nhau;

Ta nên kính trước nhường sau,

Chớ đem hèn khó sang giàu mà phân;

Bằng ai khinh dể mấy lần,

Một trăm điều nhịn lấy phần phải ta;

Đừng còn tút tít trong nhà,

Chồng nghe vội giận bất hòa bởi ai? (680)


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Huấn nữ ca 1882 – Phần 05

Trương Vĩnh Ký - Huấn nữ ca 1882 - Phần 05Đặng Huỳnh Trung (bản chữ Nôm)

Trương Vĩnh Ký (chép ra chữ Quốc ngữ)

Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1882


Huấn nữ ca – Phần 05

Đêm năm đóng cửa gài then,

Tới khi gần ngủ, tắt đèn đừng chong; (450)

Hao dầu lẽ ấy đã xong,

Còn e gian tế dòm trong soi ngoài;

Tinh hôm rồi lại tinh mai,

Tính cho nhẩm khoảng lo dài nghĩ xa;

Điều hơn sự thiệt bởi ta,

Đủ mười phần chắc mới ra việc làm;

Ngày ngày lấy gạo nấu cơm,

Tính nhười nhiều ít đặt cơm cho vừa;

Làm chua làm mặn làm dưa,

Cải cà tôm cá để chừa giọt mưa; (460)

Bếp lò than củi thừa ưa,

Cũng đừng nhúm trấu mạt cưa châm vào;

Bẹ cau tàu chuối cây rào,

Gốc tre củi bắp cất vào nhà sau;

Đậu mè, gạo nếp, hoa màu,

Cải ngô, cà mướp, bí bầu, môn lang;

Giống gì giống nấy sẵn sàng,

Hỏi đâu có đó sửa sang từ đầu;

Hạt tiêu gừng tỏi để lâu,

Đêm hôm lỡ chợ khỏi cầu xin ai; (470)

Bột đường mè đậu bắp khoai,

Phơi khô cất kín mưa dai lọt nhầm;

Lá đoan ngũ, muối lâu năm,

Rượu, dầu, ngải, thuốc, sẵn năm ba màu;

Phòng khi đau bụng nhức đầu,

Đưa ra cứu cấp, vậy sau thuốc thầy;

Mả mồ dê đạp trâu giầy,

Cửa nhà từng chịu lâu ngày võ phong;

Đôi khi rách xể hở lòng,

Tấm tranh trạc đất sửa trong lúc nầy; (480)

Áo chăn đứt sổ từ đây,

Mũi kim đường chỉ vá ngay cho rồi;

Chớ nên kẻo để lôi thôi,

Nhỏ làm nên lớn, công đôi diền dày;

Cưới ma kị lạp bội chay,

Hay là thổ mộc quan rày khách mai;

Việc chi rộng hẹp vắn dài,

Ít thêm nhiều bớt, một hai tính vừa;

Mãn nghe chợ ế hàng thừa,

Rẻ mua mắc bán lọc lừa thấp cao; (490)

Những là việc ấy biết bao?

So đo hơn thiệt dễ nào hư mau?

Nhà nghèo ăn trước trả sau,

Trời cho mình có, lẽ đâu át dùa;

Lúa bông lúc chửa tới mùa,

Dầu cho tiền trước hơn thua rõ ràng;

Cái cân cái thước cái lường,

Vâng theo phép nước lẽ thường quan dân;

Chớ nên ích kỉ hại nhân,

Vào nhiều ra ít chịu phần tội riêng; (500)

Cho vay đặt lãi có giêng,

Đầy năm đủ tháng người khiêng giả mình;

Ba phân luật lệ rành rành,

Ví bằng vi cấm trời dành họa sau;

Dầu ai vi ước để lâu,

Nhứt bổn nhứt tức có đâu tham nhiều?

Phước trời cho sẵn của tiền,

Làm sao cho khỏi kẻ yêu người cầu;

Thấy ai mình cốc sắc rau,

Bị mang lá liếm càng đau đớn lòng; (510)

Thiếu chi gạo hột tiền đồng,

Nới tay làm phước, đứa cùng đội ơn;

Phong hoàng thủy hạn từ cơn,

Thanh huỳnh bất tiếp sạch trơn như bào,

Càng ngày giá chợ càng cao,

Gạo châu củi quế lẽ nào bền gan?

Ra tay cứu kẻ cơ hàn,

Cho không bán rẻ tính toan mọi đường;

Một đôi chết chợ đau đường,

Hoặc khi ôn dịch bốn phương nhộn nhàng; (520)

Cháo cơm hườn tán nước thang,

Chiếu quan vải, giấy sửa sang bỉ bàng;

Chớ nên lòng sắt dạ gan,

Bó chày buộc chặt mà mang tội nhiều;

 Nhà buôn của tốt mới tiêu,

Ho1a chơn giá thật để chiêu mối hàng;

Chớ nên tay đổi tay sang,

Người lầm của xấu mình mang họa trời;

Xem hàng thuốc bắc mọi nơi,

Mấy ai giả hiệu giết người hại sâu? (530)

Những hàng tơ gạo đâu đâu,

Bột hồ nước tẩm sống lâu mấy đời?

Đi buôn sao chẳng ăn lời?

Tính cho vừa phải một lời thế thôi;

Dầu may vốn một lời đôi,

Cũng nhờ buổi chợ mà ngồi ăn chong;

Chớ nên gác giá khi không,

Trông người bắt bí nhiều đồng mà chi?

Tiền xanh có lúc dời đi,

Thiếu bù xấu đổi chớ ly một đồng; (540)

Của trời vốn thiệt của chung,

Mình tu mình đặng âm công về mình;

Người đời ai chẳng kính dinh?

Phải mua vừa bán một mình chi ai?

Hai bên đã thuận nhau rồi,

Chớ nên tranh đứng cướp ngồi làm chi;

Cây trời hơi gió cớ gì,

Người khi cảm nhiễm, đá khi đổ buồn;

Dầu khi đau nặng nằm tròn,

Thuốc thang châm chích cũng nhon bệnh nầy; (550)

Chớ nên bóng bóng thầy thầy,

Quét nhà ra rác thêm bày việc mình;

Làm người giữ đặng chữ lành,

Có thập phương Phật, trời xanh hộ trì;

Ví bằng khẩu độc tâm ki,

Tích ác phùng ác kêu chi Phật trời?

Những là đồng cốt dối đời,

Theo đàng tả đạo ở nơi miễu chùa;

Chớ nghe kêu dỗ mà hùa,

Rồi ra say thuốc mê bùa khốn thay; (560)

Số ta sẵn cỗ trời bày,

Phú quí bần tiện định ngày sơ sanh;

Bằng ta chứa đức làm lành,

Trời già kia phải thay nhành đổi bông;

Đừng còn tư tưởng nhọc lòng,

Cầu xâm quẻ bói gẫm không thật gì;

Chồng hiền vận kiển một khi,

Có rồng biến hóa, biết chi việc trời?

Dầu ta phú quí hơn người,

Cũng nên bò lết hết lời kính cung; (570)


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Huấn nữ ca 1882 – Phần 04

Trương Vĩnh Ký - Huấn nữ ca 1882 - Phần 04Đặng Huỳnh Trung (bản chữ Nôm)

Trương Vĩnh Ký (chép ra chữ Quốc ngữ)

Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1882


Huấn nữ ca – Phần 04

Giữ mình tuyết trắng giá trong,

Thiên duyên sẵn có tơ hồng buộc chơn;

Thấy trai thinh sắc chi sờn,

Mất ngơ tai lấp ai lờn đặng ta? (330)

Rồi ra hai họ hiệp hòa,

Ăn trầu uống rượu rõ ra duyên trời;

Dâu người phải giữ cho người,

Tiền dâm hậu thú một đời ô danh;

Hay là mang chữ thất trinh,

Để người dắt tới tụng đình thêm nhơ;

Chẳng qua nết gái lẳng lơ,

Ba năm khôn đặng, một giờ dại chi?

Nhắm nơi hầu vợ thiếu gì,

Phép nhà công cộng lễ đi riêng mình; (340)

Ai ai chẳng tưởng ân tình,

Kẻ mong kiếm của người giành xin con;

Dạ chồng cũng muốn vuông tròn,

Mình đà có phận sao còn dám chuyên?

Vợ chồng tơ tóc kết duyên,

Dẫu đi đâu vắng, bá niên đạo thường;

Ở nhà thờ phượng gia nương,

Nuôi con dạy bảo trọn đường hiếu trung;

Dầu ai một mặt hai lòng,

Gươm linh ba thước khôn đong tội nầy; (350)

Lưới vua thoát khỏi là may,

Còn e địa ngục phân thây xẻ mình;

Đương khi tuổi trẻ đầu xanh,

Bỗng đâu trời cướp duyên lành cách xa;

Thờ chồng ta giữ tiết ta,

Chữ cần chữ kiệm nghiệp nhà như xưa;

Tới năm mươi tuổi đã vừa,

Bảng vàng bia đá quan đưa tận nhà;

May ra con rạng mẹ cha,

Ơn trên phong tặng ông bà trăm năm; (360)

Ví dầu dứt nối tối nằm,

Đã rằng tái tiện cho nhằm sách xưa;

Ba năm tang chế có thừa,

Làm dâu cửa khác cũng chưa muộn gì?

Bằng không sáu lễ định kì,

Hộp trầu chén rượu mới đi cùng chàng;

Chớ nên lạt dạ thai hoang,

Lấy của chồng trước đưa sang trai nầy;

Lỡ ra đàng hiểm không may,

Hay là trộm cướp vào ngay nhà mình; (370)

Phải trai cường bạo tử hành,

Liều mình tự tử cho thành tiết đây;

Những trang liệt nữ xưa nay,

Miếu thờ bia dựng ngàn ngày rạng thay;

Nhà chồng tiền đủ gạo đầy,

Phận ta gìn giữ cho đày tớ trông;

Bà con ta có bần cùng,

Dầu may dầu sắm ơn chồng ơn ta;

Vật chi ngon béo trong nhà,

Để cho con trẻ người già ăn chung; (380)

Chớ nên ăn vụn ăn chùng,

Phả người bắt đặng hổ cùng thất gia;

Của người khác thể của ta,

Thấy người rơi rớt đưa ra cho người;

Can chi lục lạo tận nơi?

Lật rương bẻ khóa cật tơi về mình;

Người đời cần kiệm đinh sinh,

Có nhiều có ít cũng dành cho con;

Ngồi ăn núi lỡ non mòn,

Huống chi lại phá, của còn đặng đâu? (390)

Nhơn sanh y thực làm đầu,

Quan hôn tang tế lại hầu vãng lai;

Còn e bức trắc một mai,

Thủy hỏa đạo tặc, hoặc tai họa nghèo;

Vận nhà lúc nở lúc eo,

Khó theo phận khó giàu theo sức giàu;

Vậy nên dành trước để sau,

Phòng khi hưỡn cấp tiện mau tiện chầy;

Đờn bà đến thế là thầy,

Ví bằng hoang nết, lỏng tay khôn cầm; (400)

Bạc cờ là ổ trộm dâm,

Ăn ngồi lộn lạo, thục cầm nhung nhăng;

Lại thêm kẻ buộc người trăn,

Đạp đèn đá ghế nhiều thằng yêu ma;

Gái hiền phải lánh cho xa,

Dầu ai bước tới nát nhà hại thân;

Nữ trang vòng hột áo khăn,

Rách lành mới cũ xây vần đổi thay;

Vải gai thao đũi bận dày,

Địa sa dành để chờ ngày đi ra; (410)

Có khi khánh hỉ việc nhà,

Mặc cho đẹp mặt có ta có người;

Mặc rồi lại cổi hong phơi,

Tay mình tiếp lấy cất nơi rương hòm;

Bán mua giá chợ phải dòm,

Ít nhiều cao thấp tham lom cho nhằm;

Chẳng kì vốn một lời trăm,

Xin cho khỏi lỗ ăn nằm mới an;

Lại còn của giả người gian,

Xét xem cho kĩ, hỏi han cho tường; (420)

Nghe qua chắc chắn mọi đường,

Mới hòng cất lấy đặt sang tay mình;

Đồ gương lại với đồ sành,

Là giống hay bể tốt lành dễ xem;

Phận mình là phận con em,

Đang khi cất lấy phải đam lòng gìn;

Những người lợi khẩu khó tin,

Dỗ mình lấy của miệng xin tay cầm;

Làm người ai chẳng hảo tâm,

Của mình mình giữ chớ lầm đứa tham; (430)

Sanh nhai theo sức mà làm,

Mắt tai chẳng tới, chớ cam của trời;

Ruộng sâu trâu cái xa vời,

Buôn to bán lớn khắp nơi bạc tiền;

Một mình xem cả bốn bên,

Lấy ai trên bộ dưới thuyền cho ta?

Huống chi ra tướng vào tà,

Phải người xá nhập hết nhà không hay;

Chi bằng giữ phận ta nay,

Vừa buôn vừa bán cuốc cày ăn non; (440)

Mèo nhỏ phải bắt chuột con,

Có đâu tiền nát bạc mòn mà lo?

Hột cơm là ngọc trời cho,

Lợn gà sao đặng ăn no tày người?

Huống chi dơ nhớp đòi nơi,

Mò đưa chơn đạp mắt trời khôn dung;

Mai sau số hết bần cùng,

Chết sa địa ngục chịu vòng oan khiên? (448)


Còn tiếp

Related Images:

 

Trương Vĩnh Ký – Huấn nữ ca 1882 – Phần 03

Trương Vĩnh Ký - Huấn nữ ca 1882 - Phần 03Đặng Huỳnh Trung (bản chữ Nôm)

Trương Vĩnh Ký (chép ra chữ Quốc ngữ)

Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1882


Huấn nữ ca – Phần 03

Người nào chẳng có nhơn tâm,

Nghe ta dạy bảo mà chăm lấy cùng. (190)

Đờn bà hay dở ở lòng,

Thử nghe tiếng nói biết trong ruột rà;

Toan hầu mở miệng nói ra,

Luận câu phải trái, đẹp ta đẹp người;

Lại nên nhỏ tiếng thấp hơi,

Dịu dàng yểu nhiễu ít lời là hơn;

Việc chi đáng giận đáng hờn,

Chớ hề là chưởi lớn cơn phong đào;

Lấy lời ngãi lý mà trao,

Nói cho gang tấc phân hào chớ rợi; (200)

Đôi khi vui vẻ quá đời,

Hở môi một thí mỉm cười mà thôi;

Nên hư phải chẳng mặc ai,

Chuyện đâu bỏ đó, lựa đôi chối gì?

Ví bằng học lại học đi,

Đặt không làm có, lắm khi rầy rà;

Khi về thăm viếng mẹ cha,

Cũng đừng lẻo mách sui gia ngầy ngà;

Kẻ trên dầu quở mắng ta,

Chịu mình chẳng phải chạy ra nhận liền; (210)

Lẽ đâu dưới dám chống trên,

Nói gay nói gắt có nên vẻ nào?

Xóm giềng cùng giếng chung ao,

Nước lửa trộm cướp ra vào trước sau;

Con thơ tớ dại chìu nhau,

Vịt gà chó lợn đạp rau sự thường;

Cũng nên dập dã trăm đường,

Bằng lòng xuống khí nhịn nhường cho qua;

Trời kia nào phải cao xa,

Thần kia vốn thiệt coi ta đêm ngày; (220)

Việc gì không có đã hay,

Hai bên vai vác ở tay chơn mình:

Chớ nên thề miễu thề đình,

Miệng kêu là những bá linh hiệu thần;

Trời tru đất diệt về phần,

Ông bà bẻ cổ họa gần chẳng chơi;

Chớ nên buông miệng rủa người,

Ngọn hương cây chuối tới nơi lộ đầu:

Rủa người người có chết đâu?

E mình mắc lấy đào sâu lấp đờn; (230)

Có điều mình ngỡ nói chơi,

Người ta tưởng thật ra lời khinh khi;

Dừng còn hí hước làm chi,

Bắt tròn bẻ méo sanh nghi dạ người;

Việc nhà vừa lúc thảnh thơi,

Nghĩ điều tình nghĩa đi chơi láng giềng;

Chớ nên ngồi nói cà riềng,

Chớ nên nằm ngửa nằm nghiêng nhà người;

Hễ là trầu đãi nước mời,

Một giây một phút về nơi chốn nhà.(240)

Trăm năm bạn với chồng ta,

Lẽ đâu lại tỏ việc nhà cùng ai?

Chồng dầu trái mặt trái tai,

Cũng nên che đậy người ngoài mới hay;

Bằng chồng bội loạn lắm thay,

Ta cho phải đạo khuyên rày khuyên mai;

Việc chi châm chích tới ai,

Có sao nói vậy giữ ngoài như trong;

Chớ nên mật miệng gươm lòng,

Pha chơi pha thiệt mắc vòng họa thâm; (250)

Cũng đừng nói lấp nói lầm,

Bắt râu cha nọ đặt cằm mẹ tê;

Thấy người tài sắc dạ ghê,

Học không học khéo, dựa kề thân hơi;

Chớ nên trong ghét ngoài mời,

Ôm lòng đố kị kiếm lời yêu tưng;

Đêm khuya mình đặt xuống giường,

Hễ nghe gà gáy dậy nưng  việc làm;

Phải phòng tôi dại tớ tham,

Một mình săn sóc tái tam dặn dò; (260)

Những là nồi nấu trách kho,

Vò dưa chỉnh muối xem cho kĩ càng;

Hở ra đứa xách đứa mang,

Kiến dồn đầy lổ ắt hoang nghiệp nhà;

Siêng năng là phận đàn bà,

Khoan ăn bớt ngủ, mới ra gái hiền;

Việc nhà đầu lạ sau quen,

Học từ những lúc thiếu niên đã từng;

Sáng mai kẻ lớn xuống giầng,

Xếp màn cuốn chiếu tay dâng nước trà; (270)

Gần khi đi ngủ trong nhà,

Bỏ màn quạt muỗi trở ra rước vào;

Mãn nghe tiếng gọi thể nào,

Miệng dạ chơn chạy ngọt ngào hỏi thưa;

Vật chi vâng chịu trao đưa,

Hai tay cầm vững, chơn lừa mà đi;

Hoặc là sai khiến việc chi,

Hết lòng hết sức chớ suy nhọc nhằn;

Bữa thường hầu hạ cho săn,

Nước cơm trầu thuốc áo khăn gậy giày; (280)

Mắt lãng tai điếc lưng khòm,

Đi ngồi lúm cúm, trông nôm dắt dìu;

Dầu là nạn cả khúc đèo,

Cõng mang chồn cật cũng liều mình ta;

Gặp ngày cúng tế ông bà,

Muối thô mắm lạt phải ra tra trần;

Chẳng kì chả phụng nem lân,

Mâm trơn bát sạch quỉ thần đâu xa?

Đôi phen quan khách tới nhà,

Bạc là trầu nước, hậu là cháo cơm; (290)

Miễn sao mùi béo hơi thơm,

Lựa là cá thịt bát đơm cho đầy;

Việc thanh, bánh trái vá may,

Việc thô, củi nước cối xay chăm chèo;

Những loài gà lợn chó mèo,

Cơm thừa canh cặn rau bèo cũng chăm;

Lớn ra làm ruộng đặt tằm,

Trai cày gái dệt đứng nằm chẳng lơi;

Ấy là công việc ở đời,

Rỗi đâu ăn ngủ, chơi bời thẳng then; (300)

Trời cho hột gạo đồng tiền,

Mai cơm trưa cháo là tiên dưới trần;

Bánh rao quà bán chớ gần,

Huống chi trà rượu hư thân lắm dường;

Dẫu khi lỡ bữa xa đường,

Sẵn chưng cơm quán, cháo hàng nơi tê;

Lại còn nha phiện thuốc mê,

Càng nên xa lánh chớ hề gần xông;

Đờn bà phải có phụ dong,

Học chi thói đĩ mà hòng sửa sang? (310)

Sớm khuya thức dậy chửng chàng,

Rửa tay súc miệng vẻn vang mọi bề;

Cũng đừng học lấy thói mê,

Chơn đen mặt lọ người chê xấu mình;

Cho hay dầu sáp năm canh,

Chẳng qua những gái lầu xanh má đào;

Bội chay là đắm hỗn hào,

Một mình léo hánh, bước vào mang tai;

Chờ khi có bạn có đôi,

Thăm xem chỗ đứng nơi ngồi cho an; (320)

Nhủ nhau sắp lại một đàn,

Già sau trẻ trước, trai gian lạnh lùng;

Chị em gìn giữ cho ròng,

Đi trưa về sớm lọt vòng bướm ong;

Bằng khi ngũ phục chưa xong,

Càng nên giữ vẹn hiếu trung một lòng; (326)


Còn tiếp

Related Images: