Vân Tiên cổ tích tân truyện 1916

Vân Tiên cổ tích tân truyện 1916Ebook Truyện thơ: Vân Tiên cổ tích tân truyện

Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Phát hành: Liễu Văn Đường tàng bản

Năm: 1916

Nguồn: Thư viện Quốc gia

Ngôn ngữ: chữ Nôm


Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một tác phẩm được phổ biến rất sâu rộng ở Miền Nam. Ai cũng coi truyện này là một bài học về luân thường đạo lý.

Cho đến nay đã có nhiều bản truyện Lục Vân Tiên ra đời, bản Nôm có, bản chữ Quốc Ngữ có, bản dịch ra tiếng Pháp cũng có. Nhưng đáng tiếc là các bản truyền miệng hoặc in thành sách đều có nhiều câu khác nhau.


Giới thiệu với độc giả ebook của truyện thơ Lục Vân Tiên, phiên bản chữ Nôm được khắc in (bản gỗ) vào năm 1916 do Liễu Văn Đường tàng bản.

Download ebook Vân Tiên cổ tích tân truyện định dạng pdf.

Danh sách các bản Lục Vân Tiên.

Related Images:

Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên – Hồi thứ 21 – Chung

Nguyễn Đình Chiểu - Lục Vân Tiên - Hồi thứ 21 - ChungHồi thứ 21 – Chung: Vân Tiên gặp Nguyệt Nga về tâu vua, ân oán trả rồi về vinh qui cưới nàng Nguyệt Nga.

Ghi chú từ người đánh máy:

Những năm đầu thế kỷ 20 (bản in này vào năm 1901), chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ và chính tả khác so với hiện tại.

Chúng tôi xin phép “sửa lỗi chính tả”, đồng thời để trong ngoặc đơn ( ) các chữ gốc của cụ Trương Vĩnh Ký để các độc giả so sánh và đánh giá quá trình phát triển của chữ quốc ngữ trong 100 năm qua.


Đoạn nầy tới thứ Nguyệt Nga;

Ở đây tính đã hơn ba năm rồi.

Ðêm khuya chong ngọn đèn ngồi;

Chẳng hay trong dạ bồi hồi việc chi.

Quan âm thuở trước nói gì;

Éo le phỉnh thiếp lòng ghi nhớ hoài.

Ðã đành đá nát vàng phai;

Đã đành xuống chốn dạ đài gặp nhau.(1810)

Phải chi hỏi đặng Nam Tào;

Đêm nay cho đến đêm nào gặp nhau.

Nguyệt Nga gượng giải cơn sầu;

Xảy nghe lạc ngựa ở đâu tới nhà.

Kêu rằng: Ai ở trong nhà;

Đường về quan ải chỉ ra cho cùng.

Nguyệt Nga ngồi sợ hãi gùng;

Vân Tiên xuống ngựa thẳng xông bước vào.

Lão bà lật đật hỏi chào;

Ở đâu mà tới rừng cao một mình?(1820)

Vân Tiên mới nói sự tình;

Tôi là quốc (quấc) trạng trào đình sai ra.

Đem binh dẹp giặc Ô Qua.

Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây.

Lão bà nghe nói sợ thay;

Xin ông chớ chấp tôi nay mụ già.

Vân Tiên ngồi nhắm Nguyệt Nga;

Lại xem bức tượng lòng đà sanh nghi.

Hỏi rằng: Bức ấy tượng chi;

Khen ai khéo vẽ dung nghi giống mình. (1830)

Ðầu đuôi chưa rõ sự tình;

Lão bà khá nói tánh danh cho tường.

Lão bà chẳng dám lời gian;

Tượng này vốn thật chồng nàng ngồi đây.

Tiên rằng: Nàng xách lại đây;

Nói trong tên họ tượng nầy ta nghe.

Nguyệt Nga lòng rất kiêng dè;

Mặt thời giống mặt còn e lạ người.

Ngồi che tay (tai) áo hổ (hỗ) ngươi;

Vân Tiên thấy vậy mỉm cười một khi.(1840)

Rằng: Sao nàng chẳng nói đi?

Hay lời ta hỏi động chi chăng là?

Nguyệt Nga khép nép thưa qua;

Người trong bức tượng tên là Vân Tiên.

Chàng đà về chốn cửu tuyền;

Thiếp lăm trọn đạo lánh miền gió trăng.

Vân Tiên nghe nói hỏi phăn;

Chồng là tên ấy vợ là tên chi?

Nàng bèn tỏ thiệt một khi;

Vân Tiên vội vã (vả) xuống quì vòng tay.(1850)

Thưa rằng: Nay gặp nàng đây;

Xin đền ba lạy sẽ bày nguồn cơn.

Để lời thệ hải minh sơn;

Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi.

Vân Tiên vốn thiệt là tôi;

Gặp nhau nay đã phỉ rồi ước mơ.

Nguyệt Nga bảng lảng bơ vơ;

Nửa (nữa) tin rằng nửa (nũa) ngờ rằng ai.

Thưa rằng: Đã thiệt tên ngài;

Khúc nôi xin cứ đầu bài phân qua.(1860)

Vân Tiên dẫn (dẩn) tích xưa ra;

Nguyệt Nga khi ấy khóc hoà như mưa.

Ân tình càng kể càng ưa;

Mảng (mãng) còn bịn rịn trời vừa sáng ngay.

Xẩy nghe quân ó vang dầy;

Bốn bề rừng bụi khắp bày can (cang) qua.

Vân Tiên lên ngựa trở ra;

Thấy cờ đề chữ hiệu là Hán Minh.

Hán Minh khi ấy dừng binh;

Anh em mừng rỡ tỏ tình cùng nhau.(1870)

Minh rằng: Tẩu tẩu ở đâu;

Cho em coi mặt chị dâu thể nào;

Vân Tiên đem Hán Minh vào;

Nguyệt Nga đứng vậy miệng chào có duyên.

Minh rằng: Tưởng chị ở Phiên;

Quyết đem binh mã tới miền Ô Qua.

May đâu sum hiệp một nhà;

Giặc đà an giặc khải ca hồi trào.

Tiên rằng: Nàng tính thể nào;

Nàng rằng: Anh hãy về trào tâu lên. (1880)

Ngõ nhờ lượng cả bề trên;

Lịnh tha tội trước mới nên về nhà.

Trạng nguyên từ giã lão bà;

Dặn dò gởi lại Nguyệt Nga ít ngày.

Ta về đem bức tượng nầy;

Tâu cho khỏi tội rước ngay về nhà.

Tiên Minh trở ngựa đều ra;

Ðem binh trở lại trào ca đề huề.

Sở vương nghe Trạng nguyên về:

Sai quân tiếp rước vào kề bên ngai.(1890)

Sở vương bước xuống kim giai;

Tay bưng chén rượu thưởng tài Trạng nguyên.

Phán rằng: Trẫm (Trẩm) sợ nước Phiên;

Có ngươi Cốt Ðột phép tiên lạ lùng.

Nay đà trừ Cốt Ðột xong,

Thực trời sanh trạng giúp trong nước nhà.

Phải chi trước có trạng ra;

Làm chi nên nỗi Nguyệt Nga cống Hồ?

Lịnh truyền mở yến triều đô;

Rày mừng trừ giặc Ô Qua đặng rồi. (1900)

Trạng nguyên quì tấu một hồi;

Nguyệt Nga các việc khúc nôi rõ ràng.

Sở vương nghe tấu ngỡ (ngở) ngàng;

Phán rằng: Trẫm (trẩm) tưởng rằng nàng ở Phiên.

Chẳng ngờ nàng với Trạng nguyên;

Cùng nhau trước có nhơn duyên thuở đầu.

Thái sư trước bệ quì tâu;

Ô Qua dấy động qua mâu cũng vì.

Trá hôn oán ấy nên gây;

Nguyệt Nga nàng thiệt tội thì khi quân.(1910)

Trạng nguyên mặt đỏ phừng phừng;

Nguyệt Nga trinh tiết ví bằng người xưa.

Thái sư trước chẳng lo lừa;

Thiếu chi dân thứ phải đưa tới nàng?

Dầu cho nhựt nguyệt rõ ràng;

Khôn soi chậu úp cũng mang tiếng đời.

Ngay gian sao cũng có trời;

Việc nầy vì trẫm (trẩm) nghe lời nên oan.(1920)

Trạng nguyên tâu trước trào đàng:

Thái sư trữ dưỡng tôi gian trong nhà.

Trịnh Hâm là đứa gian tà;

Hại tôi buổi trước cũng đà ghe phen.

Sở vương phán trước bệ tiền;

Những ngờ tưởng ngõ tôi hiền mà thôi.

Vậy cũng đạo chúa nghĩa tôi;

Thái sư ý muốn cướp ngôi chín trùng.

Hán xưa có gã Đổng công;

Nuôi thằng Lữ (lử) bố cướp dòng nhà Lưu.(1930)

Đời xưa tôi nịnh biết bao;

Thái Sư nay cũng có khác nào đời xưa.

Thấy người trung chánh chẳng ưa;

Rấp ranh kế độc lập lừa mưu sâu.

Trịnh Hâm tội đáng chém đầu;

Ay là mới hết người sau gian tà.

Sở vương phán trước trào ca;

Thái sư cách chức về nhà làm dân.

Trịnh Hâm là đứa bạo thần;

Giao cho quốc (quấc) trạng xử phân pháp hình.(1940)

Nguyệt Nga là gái tiết trinh;

Sắc phong quận chúa hiển vinh rõ ràng.

Kiều công xưa mắc tội oan;

Trẫm (trẩm) cho phụ chức làm quan Đông Thành.

Trạng nguyên dẹp giặc đã đành;

Kiệu trương tán phụng cho đành vinh hoa.

Bãi chầu chư tướng trở ra;

Trạng nguyên mời hết đều qua dinh ngồi.

Họ Vương họ Hán họ Bùi;

Cùng nhau uống rượu đều vui đều cười.(1950)

Trạng nguyên mới hỏi một lời;

Trịnh Hâm tội ấy các người tính sao?

Truyền quân dẫn Trịnh Hâm vào;

Mặt nhìn khắp hết miệng chào các anh.

Minh rằng: Ai mượn kêu anh?

Trước đà đem thói chẳng lành thời thôi.

Dẫn ra chém quách cho rồi;

Ðể chi gai mắt đứng ngồi căm gan?

Trực rằng: Minh nóng nói ngang;

Giết ruồi đâu xứng gươm vàng làm chi?(1960)

Xưa nay mấy đứa vô nghì ;

Dầu cho có sống làm gì nên thân?

Hâm rằng: Nhờ lượng cố nhân;

Vốn em mới dại một lần xin dung.

Trạng rằng: Hễ đứng anh hùng;

Nào ai có giết đứa cùng làm chi?

Thôi thôi ta cũng rộng suy;

Truyền quân mở trói đuổi đi cho rồi.

Hâm mầng khỏi chết rất vui;

Vội vàng cúi lạy (lại) chơn lui ra về.(1970)

Còn ngươi Bùi Kiệm máu dê;

Ngồi chai bộ mặt như về thịt trâu.

Hán Minh Tử Trực vào tâu;

Xin đưa quốc (quấc) trạng kịp chầu vinh qui.

Một người Bùi Kiệm chẳng đi;

Trong lòng hổ thẹn vì mình máu dê.

Trạng ngươn xe giá chỉnh tề;

Sai quân hộ vệ rước về Nguyệt Nga.

Bạc vàng đem tạ lão bà;

Nguyệt Nga từ tạ thẳng qua Đông Thành.(1980)

Võng điều gươm bạc lọng xanh;

Trạng nguyên Tử Trực Hán Minh lên đàng.

Trịnh Hâm về tới Hàn giang;

Sóng thần nổi dậy thuyền chàng chìm ngay,

Trịnh Hâm bịcá nuốt rày;

Thiện trời  báo ứng lẽ nầy rất ưng.

Thấy vầy nên dửng dừng dưng;

Làm người ain nấy thì đừng bất nhân.

Tiểu đồng trước giữ mộ phần;

Ngày qua tháng lại đã gần ba năm.(1990)

Của đi khuyên giáo mấy năm;

Tính đem hài cốt về thăm quê nhà.

Hiềm chưa thế đặng người ta;

Còn đương thơ thần vào ra Đại Đề.

Trạng nguyên khi ấy đi về;

Truyền quân bày tiệc lo bề tế riêng:

Tiểu đồng hồn bậu có thiêng;

Thảo tình thầy tớ lòng thiềng ngày nay.

Ðọc văn nhớ tới châu mày;

Đôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng.(2000)

Người ngay Trời Phật động lòng;

Phút đâu ngó thấy Tiểu đồng đến coi.

Trạng nguyên còn hãy sụt sùi;

Ngó lên bài vị lại xui lòng phiền.

Tiểu đồng nhắm ngử nhìn nghiêng;

Ông nầy sao giống Vân Tiên cũng kì!

Ông nào mất xuống âm ti;

Ông nào còn sống nay thì làm quan!

Trạng nguyên khi ấy hỏi chàng:

Phải ngươi đồng tử mắc nàn (mắt nàng) chốn ni?(2010)

Mấy năm tớ mới gặp thầy;

Cùng nhau kể nỗi đắng cay từ ngằn;

Ai dè còn thấy bổn quan;

Ba năm gìn giữ mồ hoang đã rồi.

Trạng nguyên khi ấy mừng vui;

Tớ thầy sum hiệp tại nơi Đại Đề.

Đoạn thôi xe giá ra về;

Tuần du phút đã gần kề Hàn giang.

Võ công từ xuống suối vàng;

Thể Loan cùng mụ Quỳnh (Quình) Trang đeo sầu.(2020)

Mẹ con những mảng (mãng) lo âu;

Nghe Vân Tiên sống gặp chầu công danh:

Cùng ta xưa có ân tình;

Phải ra đón rước lộ trình họa may.

Loan rằng: Mình ở chẳng hay;

E người còn nhớ những ngày trong hang.

Trang rằng: Con có hồng nhan;

Cho chàng thấy mặt thì chàng cũng ưa.

Ví dầu còn nhớ tích xưa;

Mẹ con ta lại đổ thừa Võ công.(2030)

Cùng nhau bàn luận đã xong;

Soi gương đánh phấn ra phòng rước duyên.

Nay đà tới thứ Trạng nguyên;

Hàn giang đã tới bỗng liền đóng quân.

Bạc vàng châu báu áo quần;

Trạng nguyên đem tạ đáp ân ngư tiều.

Ngư tiều nay đặng danh biêu;

Ơn ra một buổi của nhiều trăm  xe.

Trạng nguyên chưa kịp trở về;

Thấy Quỳnh (Quình) Trang đã đứng kề trong quân.(2040)

Trang rằng: Tưởng chữ hôn nhân.

Mẹ con tôi đến lễ mừng Trạng nguyên;

Võ công đã xuống Huỳnh tuyền;

Xin thương lấy chút thuyền (thiền) quyên phận nầy.

Trạng rằng: Bưng bát nước đầy;

Ðổ (đỗ) ngay xuống đất hốt rày sao xong?

Oan gia nợ ấy trả xong:

Thiếu chi nên nỗi mà mong tới đòi?

Hán Minh Tử Trực đứng coi

Cười rằng: Hoa khéo làm mồi trêu ong.(2050)

Khen cho lòng chẳng thẹn lòng;

Còn mang mặt đến đèo bòng nỗi chi?

Ca ca sao chẳng chịu đi?

Về cho tẩu tẩu để khi xách giày.

Mẹ con đứng thẹn thuồng thay;

Vội vàng cúi lại chơn rày trở ra.

Trở về chưa kịp tới nhà;

Thấy hai ông cọp nhẩy ra đón đàng.

Thảy đều bắt mẹ con nàng;

Ðem vào lại bỏ trong hang Thương Tòng.(2060)

Bốn bề lấp đá bịt bùng;

Mẹ con than khóc không trông ra rồi.

Trời kia quả báo mấy hồi;

Tiếc công son điểm phấn giồi bấy lâu!

Làm người cho biết ngãi sâu;

Gặp cơn hoạn nạn cùng nhau cho tròn.

Ðừng đừng theo thói mẹ con;

Thác đà mất kiếp xấu còn bia danh.

Trạng nguyên về tới Ðông thành;

Lục ông trước đã xây dinh ở làng.(2070)

Bày ra sáu lễ sẵn sàng;

Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga.

Sui gia đã xứng sui gia;

Rày mừng hai họ một nhà thành thân;

Trăm năm biết mấy tinh thần?

Sanh con sau nối gót lân đời đời.(2076)

……………………. Chung ………………………..


Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Phiên âm quốc ngữ: Trương Vĩnh Ký

Related Images:

Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên – Hồi thứ 20

Nguyễn Đình Chiểu - Lục Vân Tiên - Hồi thứ 20Hồi thứ 20: Vân Tiên ra kinh thi đậu trạng nguyên – Vua sai đi dẹp giặc Ô Qua với Hán Minh

Ghi chú từ người đánh máy:

Những năm đầu thế kỷ 20 (bản in này vào năm 1901), chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ và chính tả khác so với hiện tại.

Chúng tôi xin phép “sửa lỗi chính tả”, đồng thời để trong ngoặc đơn ( ) các chữ gốc của cụ Trương Vĩnh Ký để các độc giả so sánh và đánh giá quá trình phát triển của chữ quốc ngữ trong 100 năm qua.


Năm sau lịnh mở khoa thi;

Vân Tiên vào tạ xin đi tựu trường.

Trở về thưa với xuân đường;

Kinh sư ngàn dặm một đường thẳng ra.(1740)

Vân Tiên dự trúng khôi khoa;

Đương trong ngâm tý thiệt là năm nay.

Nhớ lời thầy nói thiệt hay;

Bắc phương gặp chuột ra rày nên danh.

Vân Tiên vào tạ triều đình;

Lịnh ban y mão cho vinh về nhà.

Xảy nghe tin giặc Ô Qua;

Phủ vây quan ải binh ba bốn ngàn.

Sở vương phán trước ngai vàng;

Chỉ sai quốc trạng dẹp loàn bầy ong.(1750)

Trạng nguyên tâu trước bệ rồng;

Xin dưng một tướng anh hùng đề binh.

Có người họ Hán tên Minh;

Sức đương Hạng (Hạn) Võ mạnh kình Trương Phi.

Ngày xưa mắc án đày đi;

Phải về nương náu từ bi ẩn mình.

Sở vương phán trước trào đình;

Chỉ sai tha tội Hán Minh đòi về.

Sắc phong phó tướng binh đề;

Tiên Minh từ ấy xiết gì mừng vui?(1760)

Nhứt thinh phấn phát oai lôi;

Tiên phuông hậu tập trống hồi tấn binh.

Quan sơn ngàn dặm đăng trình;

Lãnh cờ bình tặc phá thành Ô Qua.

Làm trai ơn nước nợ nhà;

Thảo cha ngay chúa mới là tài danh.

Phút đâu binh đáo quan thành;

Ô Qua xem thấy thối binh di đồn.

Tướng Phiên hai gã đường đường;

Một chàng Hoả Hổ một chàng Thần Long.(1770)

Lại thêm Cốt Ðột Nguyên Nhung

Mắt hùm râu đỏ tướng hung lạ lùng.

Hán Minh ra sức tiên phong;

Ðánh chàng Hỏa Hổ Thần Long một hồi.

Hán Minh đánh xuống một roi;

Hai chàng đều bị một hồi mạng vong.

Nguyên Nhung Cốt Ðột nổi xung;

Hai tay xách búa đánh cùng Hán Minh

Hán Minh sức chẳng dám kình;

Thấy chàng hóa phép thoát mình trở lui.(1780)

Vân Tiên đầu đội kim khôi;

Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.

Một mình lướt (lước) trận xông vô;

Thấy ngươi Cốt Đột biến hô yêu tà.

Vội vàng trở ngựa lui ra;

Truyền đem máu chó đều thoa ngọn cờ.

Ba quân gươm giáo đều giơ;

Yêu ma xem thấy một giờ vỡ tan.

Sa cơ Cốt Đột chạy hoang;

Vân Tiên giục ngựa băng ngàn đuổi theo.(1790)

Đuổi qua mới đặng bảy đèo;

Khá thương Cốt Đột vận nghèo nài bao.

Chạy ngang qua núi Ô Sào;

Phút đâu con ngựa sa hào thương ôi!

Vân Tiên chém Cốt Đột rồi;

Đầu treo cổ ngựa phản hồi bổn quân.

Ôi thôi! Bốn phía đều rừng;

Trời đà tối mịt lạc chừng gần xa.

Một mình lạc nẻo vào ra;

Lần theo đường sá phút đà tan canh.(1800)

Một mình trong chốn non xanh;

Không ai mà hỏi lộ trình trở ra.


Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Phiên âm quốc ngữ: Trương Vĩnh Ký

Related Images:

Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên – Hồi thứ 19

Nguyễn Đình Chiểu - Lục Vân Tiên - Hồi thứ 19Hồi thứ 19: Vân Tiên nhờ thuốc tiên sáng mắt – bỏ chùa, từ Hán Minh đi về thăm cha.

Ghi chú từ người đánh máy:

Những năm đầu thế kỷ 20 (bản in này vào năm 1901), chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ và chính tả khác so với hiện tại.

Chúng tôi xin phép “sửa lỗi chính tả”, đồng thời để trong ngoặc đơn ( ) các chữ gốc của cụ Trương Vĩnh Ký để các độc giả so sánh và đánh giá quá trình phát triển của chữ quốc ngữ trong 100 năm qua.


Đoạn nầy tới thứ ra đời;

Vân Tiên thuở ấy ở nơi chùa chiền.

Nửa đêm nằm thấy ông tiên;

Ðem cho chén thuốc mắt liền sáng ra.

Kể từ nhuốm bịnh đường xa;

Tháng ngày thấm (thắm) thoát kể đà sáu năm.(1670)

Tuổi cha rày đã năm lăm;

Chạnh lòng nhớ tới dầm dầm (dằm dằm) nhỏ sa.

Vân Tiên tính trở lại nhà;

Hán Minh đưa khỏi đôi ba dặm đường.

Tiên rằng: Ta lại hồi hương;

Ơn nhau sau gặp khoa trường sẽ hay.

Minh rằng: Tôi vốn chẳng may;

Ngày xưa mắc phải án đày trốn đi.

Dám đâu bày mặt ra thi;

Ðã đành hai chữ qui y chùa nầy.(1680)

Tiên rằng: Phước gặp khoa nầy;

Sao sao cũng tính sum vầy cùng nhau.

Mấy năm hẩm hút tương rau.

Khó nghèo nỡ phụ sang giàu đâu quên?

Lúc hư còn có lúc nên;

Khuyên ngươi chữ dạ cho bền thảo ngay.

Hán Minh trở lại am mây.

Vân Tiên về một tháng chầy tới nơi.

Lục ông nước mắt tuôn rơi;

Ai hay con sống trên đời thấy cha?(1690)

Xóm riềng cô bác gần xa;

Ðều mừng chạy tới chật nhà hỏi thăm.

Ông rằng: Kể đã mấy năm;

Con mang tật bịnh ăn nằm nơi nao?

Thưa rằng: Hoạn nạn xiết bao;

Mẹ tôi phần mộ nơi nào viếng an?

Ðặt bày lễ vật nghiêm trang;

Ðọc bài văn tế trước bàn minh sinh:

Suối vàng hồn mẹ có linh;

Chứng cho con trẻ lòng thành ngày nay.(1700)

Tưởng bề nguồn nước cội cây.

Công sâu ngàn trượng ngãi dày chín trăng.

Suy người nằm giá khóc măng;

Hai mươi bốn thảo chẳng bằng người xưa.

Vân Tiên nước mắt như mưa;

Tế rồi lại hỏi việc xưa ở nhà.

Ông rằng: Có nàng Nguyệt Nga.

Bạc tiền đem giúp cửa nhà đặng xuê.

Nhờ nàng nên mới ra bề;

Chẳng thì khó đói bỏ quê hư rồi.(1710)

Vân Tiên nghe nói hổi ôi;

Chạnh lòng nghĩ lại một hồi giây lâu.

Hỏi rằng: Nàng ấy ở đâu?

Đặng con đến đó đáp câu ân tình.

Lục ông thuật việc triều đình;

Ðầu đuôi chuyện vãn tỏ tình cùng Tiên!

Kiều công rày ở Tây Xuyên;

Cũng vì mắc nịnh biếm quyền đuổi ra.

Tiên rằng: Cám nghĩa Nguyệt Nga;

Tôi xin qua đó thăm cha nàng cùng.(1720)

Tây-Xuyên ngàn dặm thẳng xông;

Đến nơi ra mắt Kiều công khóc liền.

Nguyệt Nga rày ở Tây Phiên;

Biết sao cho đặng đoàn viên cùng chàng?

Mấy thu Hồ Vie65v (Việc) đôi phang;

Chẳng qua máy tạo én nhàn rẽ nhau.

Thấy chàng dạ lại thêm đau;

Đất trời bao nỡ chia bâu cho đành?

Hẹp hòi đặng chút nữ sanh;

Trông cho chồi quế trổ nhành mẫu đơn.(1730)

Nói rồi lụy nhỏ đòi cơn;

Cùng nhau một sự oán hờn nên gây:

Thôi con ở lại bên nầy;

Hôm mai thấy mặt cho khuây lòng già.

Vân Tiên từ ấy lân la;

Ôn nhuần kinh sử chờ khoa ứng kì.


Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Phiên âm quốc ngữ: Trương Vĩnh Ký

Related Images:

Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên – Hồi thứ 18

Nguyễn Đình Chiểu - Lục Vân Tiên - Hồi thứ 18Hồi thứ 18: Nguyệt Nga trốn họ Bùi – lão bà gặp đem về nuôi.

Ghi chú từ người đánh máy:

Những năm đầu thế kỷ 20 (bản in này vào năm 1901), chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ và chính tả khác so với hiện tại.

Chúng tôi xin phép “sửa lỗi chính tả”, đồng thời để trong ngoặc đơn ( ) các chữ gốc của cụ Trương Vĩnh Ký để các độc giả so sánh và đánh giá quá trình phát triển của chữ quốc ngữ trong 100 năm qua.


Xảy ra tới lúc canh ba;

Nguyệt Nga lấy bút đề vài câu thơ.

Dán trên vách phấn một tờ;

Vai mang bức tượng kịp giờ ra đi.(1640)

Hai bên bờ bụi rậm rì;

Ðêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng lờ.

Lạ chừng đường sá bơ vơ;

Có bầy đom đóm (đôm đốm) sáng nhờ đi theo.

Qua truông rồi lại lên đèo;

Dế kêu giắng giỏi ve ngâm lạnh lùng.

Giày sành đạp sỏi thẳng xông;

Vừa may trời đã hừng đông lố đầu.

Nguyệt Nga đi đặng hồi lâu

Tìm nơi bàn thạch ngõ hầu nghỉ chơn.(1650)

Người ngay trời phật cũng vưng;

Lão bà chống gậy trong rừng bước ra;

Hỏi rằng: Nàng phải Nguyệt Nga?

Khá tua gắng (gắn) gượng về nhà cùng ta.

Khi khuya nằm thấy Phật bà;

Người đà mách bảo nên già tới đây.

Nguyệt Nga bán tín bán nghi;

Ðành liều nhắm mắt theo đi về nhà.

Bước vào thấy những đờn bà:

Làm nghề bô vải lụa là mà thôi.(1660)

Nguyệt Nga đành dạ ở rồi;

Từ đây mới hết nổi trôi chốn nào.

Hỏi thăm ra chốn Ô sào;

Quan sơn mấy dặm đi vào tới nơi.


Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Phiên âm quốc ngữ: Trương Vĩnh Ký

Related Images:

Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên – Hồi thứ 17

Nguyễn Đình Chiểu - Lục Vân Tiên - Hồi thứ 17Hồi thứ 17: Nguyệt Nga nhảy xuống sông nhờ Quan Âm đem vô bờ – vào vườn gặp Bùi ông đem về nuôi – bị Bùi Kiệm dỗ ngon dỗ ngọt

Ghi chú từ người đánh máy:

Những năm đầu thế kỷ 20 (bản in này vào năm 1901), chữ quốc ngữ còn sơ khai, cách dùng từ và chính tả khác so với hiện tại.

Chúng tôi xin phép “sửa lỗi chính tả”, đồng thời để trong ngoặc đơn ( ) các chữ gốc của cụ Trương Vĩnh Ký để các độc giả so sánh và đánh giá quá trình phát triển của chữ quốc ngữ trong 100 năm qua.


Đêm nay chẳng biết đêm nào,

Bóng trăng vặc vặc bóng sao mờ mờ.

Trên trời lặng lẽ (lẻ) như tờ;

Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn.(1490)

Than rằng: Nọ nước kìa non;

Cảnh thời thấy đó người còn về đâu?

Quân hầu đều ngủ đã lâu;

Lén ra mở bức rèm châu một mình.

Vắng người có bóng trăng thanh;

Trăm năm xin gởi chút tình lại đây!

Vân Tiên anh hỡi có hay?

Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng.

Than rồi lấy tượng vai mang;

Nhắm chừng nước chảy vội vàng nhảy ngay. (1500)

Kim Liên thức dậy mới hay;

Cùng quân thể nữ một bài đều lo.

Cùng nhau lặn chẳng dám hô;

Thầm toan mưu kế chẳng cho lậu tình:

Việc nầy là việc triều đình;

Ðốc quan hay đặng ắt mình thác oan.

Muốn cho cẩn nhiệm trăm đàng;

Kim Liên thế lấy làm nàng Nguyệt Nga.

Trá hôn về nước Ô Qua;

Ai mà vạch lá ai mà tìm sâu?(1510)

Tính đà xong xả chước mầu;

Phút nghe thuyền đã đến đầu ải quan.

Đốc quan xe giá sửa sang;

Kiệu trương long phụng rước nàng về Phiên.

Nào hay tì (tĩ) tất Kim Liên;

Ðặng làm hoàng hậu nước Phiên một đời.

Nguyệt Nga nhảy xuống giữa vời;

Sóng thần đưa đẩy vào trong bãi rày.

Bóng trăng vừa khuất ngọn cây;

Nguyệt Nga còn hãy chơi rày âm cung.

Xiết bao sương tuyết đêm đông;

Mình nằm giữa bãi lạnh lùng ai hay?(1520)

Quan âm thương đứng thảo ngay;

Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa.

Dặn rằng: Nàng hỡi Nguyệt Nga;

Tìm nơi nương náu cho qua tháng ngày.

Ðôi ba năm nữa gần đây;

Vợ chồng sao cũng sum vầy một nơi.

Nguyệt Nga giây phút tỉnh hơi;

Định hồn mới nghĩ mấy lời chiêm bao.(1530)

Nên hư chưa biết làm sao?

Bây giờ biết kiếm chốn nào dung thân.

Một mình luống những bưng khuâng (khuân).

Phút đâu trời đã rạng hừng vừng đông.

Một mình mang bức tượng chồng;

Xảy đâu lại gặp Bùi công dạo vườn.

Ông rằng: Người ở hà phương;

Việc chi mà tới giữa vườn hoa ta?

Nàng rằng: Trận gió thổi qua;

Chìm thuyền nên nỗi mình ra thể hầy.(1540)

Tối tăm sảy bước tới đây

Xin soi xét tới thơ ngây lạc đàng.

Bùi ông đứng nhắm tướng nàng;

Chẳng phen đài các cũng hàng trâm anh.

Ðầu đuôi han hỏi sự tình;

Nàng bèn lời thiệt việc mình bày qua.

Bùi công mừng rước về nhà;

Thay xiêm đổi áo nuôi mà làm con.

Ta cũng sanh một chồi non;

Tên là Bùi Kiệm hãy còn ở kinh.(1550)

Trong nhà không gái hậu sanh;

Ngày nay lại gặp minh linh phước trời.

Nguyệt Nga ở đã an nơi;

Ðêm đêm nghĩ lượng việc đời gần xa.

Một lo về nước Ô Qua;

E vua bắt tội cha già rất oan.

Hai lo phận gái hồng nhan;

Sợ khi bảo dưỡng mưu toan lẽ gì.

Nguyệt Nga luống những sầu bi;

Xảy đâu Bùi Kiệm tới khi về nhà.(1560)

Từ ngày thấy mặt Nguyệt Nga;

Đêm đêm trằn trọc phòng hoa mấy lần.

Thấy nàng thờ bức tượng nhân,

Nghiệm trong tình ý dần lân hỏi liền.

Tượng nầy sao giống Vân Tiên;

Bấy lâu thờ có linh thiêng điều gì?

Nàng rằng: Làm phận nữ nhi;

Một câu chánh tiết phải ghi vào lòng.

Trăm năm cho trọn đạo tùng;

Sống sao thác vậy một chồng mà thôi.(1670)

Kiệm rằng: Nàng nói sai rồi;

Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa?

Làm người trong cõi gió mưa;

Bảy mươi mấy mặt người xưa thể nào.

Chúa xuân còn ở vườn đào;

Ong qua bướm lại biết bao nhiêu lần?

Chúa đông ra khỏi vườn xuân;

Hoa tàn nhụy rữa như rừng bỏ hoang.

Ở đời ai cậy giàu sang;

Ba xuân dẫu hết ngàn vàng khôn mua.(1580)

Hay chi như vãi ở chùa;

Một căn cửa khép bốn mùa lạnh tanh,

Linh đinh một chiếc thuyền tình;

Mười hai bến nước biết mình vào đâu!

Ai từng mặc (mặt) áo không bâu;

Ăn cơm không đũa ăn trầu không cau?

Nàng sao chẳng nghĩ trước sau;

Giữ ôm bức tượng bấy lâu thiệt mình.

Nàng rằng: Xưa học sử kinh;

Làm thân con gái chữ trinh làm đầu.(1590)

Chẳng phen thói nước Trịnh đâu;

Hẹn người tới giữa vườn dâu tư tình.

Kiệm rằng: Ðã biết sử kinh;

Sao không soi xét để mình ngồi không?

Hồ Dương xưa cũng góa chồng;

Còn mơ nhan sắc Tống công cũng vừa.

Hạ Cơ lớn nhỏ cũng ưa;

Sớm đưa Doãn (Doản) Phủ tối ngừa Trần Quân.

Hán xưa Lữ Hậu thanh xuân;

Còn vua Cao tổ mấy đành Dị Ky.(1600)

Ðường xưa Võ hậu thiệt gì?

Di Tôn khi trẻ Tam Tư lúc già.

Cứ trong sách sử nói ra;

Một đời sung sướng cũng qua một đời.

Chính chuyên làm sự đổi dời;

Lăng Vân trắc nết hết đời cũng ma.

Người ta chẳng lấy người ta;

Người ta đâu lấy những là tượng nhân?

Cho nên tiết phận hồng nhan;

Học đòi Như Ý vẽ (vẻ) chàng Văn Quân.(1610)

Nguyệt Nga biết đứa tiểu nhân;

Làm thinh toan chước thoát (thát) thân khỏi rồi.

Bùi ông ngon ngọt trau giồi;

Muốn nàng cho đặng sánh đôi con mình:

Làm người chấp nhứt sao đành;

Hễ là lịch sự có kinh có quyền.

Tới đây duyên đã bén duyên;

Trăng thanh gió mát cặm thuyền chờ ai?

Nhớ câu: Xuân bất tái lai;

Ngày nay hoa nở e mai hoa tàn.(1620)

Làm chi thiệt phận hồng nhan?

Năm canh gối phụng màn loan lạnh lùng.

Vọng phu xưa cũng trông chồng;

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phui pha.

Thôi thôi khuyên chớ thở ra;

Vầy cùng con lão một nhà cho xuôi.

Nguyệt Nga giả dạng mừng vui;

Thưa rằng:Người có công nuôi bấy chầy,

Tôi xin dám gởi lời nầy:

Hãy (hảy) tua chậm chậm sẽ vầy nhơn duyên;(1630)

Tôi vào lạy tạ Vân Tiên;

Chay đàn bảy bữa cho tuyền thỉ chung.

Cha con thấy nói mừng lòng;

Dọn nhà sửa chỗ động phòng cho xuê.

Chiếu hoa gối sách bốn bề;

Cổ đồ bát bửu mượn về chưng ra.


Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

Phiên âm quốc ngữ: Trương Vĩnh Ký

Related Images: