Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 099 – Đăng Thê Hà sơn tự

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 99 – Đăng Thê Hà sơn tự

Phiên âm (*)

Quế tỉnh tiền đông trú sứ xa,

Trọng xuân kim thủy bộ Thê Hà.

Đào tình trúc lục tôn trung tửu,

Ngộ khách đào hồng dã ngoại hoa.

Nộn Ngọc tuyền trừng mông dưỡng thủy,

Quan Âm lâu tịnh giác mê gia.

Hành nhân bất tận đăng lâm cảm,

Nam bắc huyền huyền thiên nhất nhai.


Dịch nghĩa: Lên chùa núi Thê Hà

Tỉnh Quế mùa đông trước dừng xe sứ,

Tháng hai năm nay lần đầu bước lên núi Thê Hà.

Gây tình, trúc biếc rượu trong chén,

Làm vui cho khách hoa đào hồng ngoài đồng.

Suối Nộn Ngọc trong vắt được hưởng nước nuôi dưỡng,

Lầu Quan Âm thanh tịnh giác ngộ cho người thoát khỏi bến mê.

Người đi đường có cái cảm vô tận về việc leo lên núi,

Nam Bắc xa xôi cách trở chân trời.


Hoài Anh dịch thơ

Tỉnh Quế đông trước tạm ngơi,

Giữa xuân nay lại lên chơi Thê Hà.

Gây tình, chén rượu, trúc xòa,

Làm vui cho khách màu hoa đào, hồng.

Suối Nộn Ngọc nước mát trong,

Lầu Quan Âm tịnh rửa lòng tục thanh.

Thú lên cao quyến rũ mình,

Bắc Nam cách trở bỗng hình như  quên.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tập: 098 – Quế Lâm trừ dạ

Trịnh Hoài Đức – Cấn Trai thi tậpCấn Trai thi tập: 98 – Quế Lâm trừ dạ (1)

Phiên âm (*)

Tây Chân thủ tuế nhược tình hà,

Thủy điểm bồn đăng kiểm mấn bà.

Nghinh tống niên quang bằng lẫm tửu,

Khu trừ khách lệ sảnh lân na.

Địch mai tuyết trọng hương phong thiểu,

Sơn quán tiêu hung bộc trúc đa.

Minh nhật tiêu hoa nan viễn hiến,

Lữ đình thần tử thán tha đà.


Dịch nghĩa: Đêm trừ tịch ở Quế Lâm

Ở Tây Chân đón giao thừa tình như thế nào,

Nước rỏ đèn chậu, kiểm lại mái tóc bạc.

Đón năm mới tiễn năm cũ, dựa vào rượu trong kho,

Khu trừ ôn dịch, nơi đất khách nhờ nhà hàng xóm tống quan ôn.

Trạm mai tuyết nặng, gió thơm ít,

Quán núi quỷ một chân hung dữ, tiếng pháo tre nhiều.

Ngày mai hoa hồ tiêu xa xôi khó dâng,

Đình nơi đất khách, kẻ bầy tôi than nỗi lần lữa.


Chú thích

(1): Quế Lâm: Thành phố ở phía đông bắc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).


Hoài Anh dịch thơ

Ở Tây Chân đón giao thừa,

Đèn chậu soi tóc bạc phơ chạnh buồn.

Rượu kho sẵn đó dùng luôn,

Khử tà: đàn tống quan ôn láng giềng.

Trạm mai tuyết nặng gió im,

Pháo ran quỷ núi quán đêm chạy liền.

Hoa tiêu khó hiến dâng lên,

Tháng ngày lần lữa, lòng riêng ngậm ngùi.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Related Images:

Cũng vì gả ép: 18 – Luận bàn thế cuộc – Phần 1

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Cũng vì gả ép
Trung Lập báo (1924 -1933)

Truyện: Cũng vì gả ép

Tác giả: Vị Hoàn, Tứ Linh

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Cũng vì gả ép: Luận bàn thế cuộc – Phần 1

Đặng Song thấy Hồ Hải là gái, mừng biết dường nào, rồi nói với Cẩm Tú rằng:

– Bây giờ nàng mới hết biểu tôi cưới vợ bé và cho nàng làm bạn cầm kỳ mà thôi. Sự đâu may mắn lạ dường, làm cho nàng rạng như gương tiết lành. Ví chăng duyên nợ ba sanh, có đâu duyên ngẫu thiên thành vậy vậy?

Cẩm Tú rằng:

– Nghĩ mình mặt dạn mày dày, nay chàng đã nhắc lại đau thay tấc lòng. May mà Hồ Hải chẳng phải là đờn ông, phải không thiếp biết tỏ cùng ai đây? Tú bà đã nói vật rồi, chữ trinh ở đó có người bảo kê. Hãy lấy việc Hồ huynh mà bói, thì ngày sau thiếp chẳng khỏi chàng khinh. Thiếp đương quấc sắc thiên tài, chàng yêu hoa, yêu vẫn một thì điểm trang. Rồi sau lục phấn phai hường lòng kia giữ được thường thường mãi chăng? Nếu cho là thắm chỉ hồng, biển tình tuy lai láng, chớ không chừng có dợn xao. Nỗi cơn sóng gió ba đào, bình yên thì thôi, mà hễ có rầy rà, thì chàng chỉ chỗ trinh chàng kể, thiếp chịu mà sao kham? Cho nên thiếp tắt lòng phàm, quyết vô am tự mà làm ni cô. Rứa thời khỏi nhục, khỏi ô, vườn gà, núi séo nam mô thanh nhàn.

Mẹ Cẩm Tú nói:

– Nó nói bộ để đợi lịnh cha mẹ, nay có lịnh ta rồi, mà nó còn muốn bẻ ống vặn nài! Cõng mang con nặng trong thai, ngày nay bao lớn thi hài lại quên!

Nguyễn Sinh nói:

– Anh đi vắng mặt bấy chầy, nhờ trời mà đặng hội nầy đàon viên. Cô Ba, xin nghe lời tôi khuyên, vị tình huynh trưởng viễn phương mới về. Đặng gia ơn nghĩa vẹn nghì, trai tài gái sắc kém gì người xưa.

Hồ Hải rằng:

– Cô Ba, ngày này cá nước gần duyên ưa, tôi xin hãy bỏ, hãy chừa sự tu.

– Tôi thề hết tiếng với nàng, nếu lưng biền, nói càn chết đi. Sự nàng nghịch cảnh nghịch thì, sao mình lại gắt với mình lắm chi? Từ xưa tài mạng không vì, thường hay tương đố vận thì lắm ru. Tại nàng quấc sắc hơn người, máy xanh cho đến đất trời ghét ghen.

Nguyễn Phong nghe Cẩm Tú còn ngảnh nữa lại muốn đi tu, thì nói rằng:

– Đồ bất hiếu! Còn cha còn mẹ nỡ dạ nào muốn tẻ mà đi!

Nguyễn Phước nói:

– Ối! Mẹ cha mà nó kể đi gì, con ngỗ nghịch ấy tại mình vô phước.

Đặng Song nói:

– Vả Phật đạo khởi Thiên Trước, Phật Thích Ca là người nước Chà Và. Vẫn người chẳng biết tiếng ta, nói năng những tiếng Chà Và tinh nguyên. Ví dầu có khẩn có nguyền, nghe làm sao đặng tịnh thiên chuyện gì. Xưa Lương Võ đế suy vi, thân vong quấc phá cũng vì Như Lai. Mục Liên tìm xuống Dạ Đài, cứu không được mẹ thấy tài Phật đâu? Tuy là nói chuyện dị đoan, chớ tích xưa nhắc chuyện hoang đàng vậy đa. Tàu cho đạo Phật lớn hơn, huyền điệu nhiệm mầu hơn đạo trời. Mà sao nay đạo trời thanh thế lắm thay! Nước nào thờ Đức Chúa Trời ngồi trên thiên hạ, lấy nước người như chơi.

Nước Thiên Trước là nơi Phật ở, sao bây giờ lở vở lắm thay! Bị Hồng Mao lấy hơn mấy trăm năm nay! Tài Thích Ca Mâu NI đâu há! Tàu đặt chuyện trong truyện Tây Du phép lạ: Tề Thiên lên loạn thiên cung. Nội các tiên trên trời hiệp với lôi công, đánh chẳng xuể Ngộ Không vậy. Tổ đạo tiên là Thái Thượng Lão Quân, cũng không làm chi nổi. Bị thế, thiên đình bối rối, Ngọc Hoàng cầu cứu với Phật Như Lai (là Thích Ca Mâu Ni đó). Như Lai dùng một bàn tay, bắt Đại Thánh dường như thám nang thú vật. Nói như rứa, đạo trời thua đạo Phật, mà sao nay đạo Phật lật bật mà ở dưới đạo trời?

Vì Ăng Lê thờ đức Chúa Trời, mà đặng ở trên nước Ấn Độ? Náo cái tịnh bình của Nam Hải Quan Âm đâu? Sao không rút hết nước biển Thiên Trước mà rút luôn tàu bè vô trỏng? Nào câu chú “Án ma ni bát di hồng” của Phật Tổ đâu, chẳng dời cả núi Ngũ Hành Sơn mà đè cả bọn chim nước của mình? Phật xưa nay không làm ích gì cho bổn thân mình, mà cũng không giúp chi cho nước. Chớ mấy người theo đạo trời thì nhiều kẻ an bang định quấc, thâu cõi nầy, lấy phương kia cũng nhờ tay có đạo. Coi lại coi, nội hoàn cầu bây giờ, không có nước nào sùng đạo Phật mà đặng chiếm trị một nước thờ Đức Chúa Trời. Vả lại Như Lai là ông Phật đầu, mà đã mang tội thất hiếu cùng cha mẹ. Song thân của người làm vua nước Thiên Trước nhưng người đành bỏ mà đi.

Song thân ban đầu còn lấy lời khuyên mà người cũng không ở lại. Sau thét rồi song thân năn nỉ, ỷ ôi, khóc lóc, xiết than, sầu thảm vô hồi nhưng vậy người cũng đành bỏ! Năn nỉ 5, 7 lần mà người cũng chắc dạ nằn nằn quyết một mà thôi, lén trốn đi chẳng chút đoái hoài, tiếng “cha, mẹ” người chẳng hề mở miệng nhắc nhở. Ngài có vợ có con, song ngài cũng làm cho oan ương Nam, Bắc, phụ tử chia đàng. Đối với đời thì ngài mắc tội với trần gian, vì sanh ra thế chớ ngảnh việc thế.

Nước Thiên Trước mê đạo ngài mà hủ tệ, dân gần ba trăm triệu, nước cũng xem xem nước Tàu, không ăn xài lãng phí như Annam cho nên trong nước rất giàu, tiền của biết bao nhiêu mà kể. Song năm tối cứ lo kinh kệ, mêm man cái đạo dị thường, chẳng toan cho nước thạnh cường, chừng nước tới trôn rồi, phép Phật cự với đại bác thần công sao lại? Sao nàng còn hãy mong xách dép về Tây? Bắt chước người bất hiếu chi vầy, lần chuỗi bồ đề mãn kiếp có thấy ai thành đâu há? Có bài thơ xưa nói về “Thanh ni hồi tục” như vầy:

Đài gương đã gởi phận mong manh,

Lạt lẽo ngày xanh, nghĩ chả đành!

Của bụt lo đền ơn bảy kiếp,

Khối tình còn bận nợ ba sanh.

Dọ đương lở dở màu son phấn,

Lá gió lao xao cái én anh.

Ở thế chớ mong lòng chán thế,

Kíp về lo trả nợ sanh thành.

Lại có bài ca Tứ Đại của người Long Ẩn quán ở ở Trà Vinh đặt nói về Đạo Thích Hà Vi, như vầy:

Làng kia chẳng rõ vụ thời,

Làm chay thí tế tơi bời,

Bị thầy chùa phỉnh người dị đoan.

Ích chi thủy lục trai đàn?

Khiến bạc vàng muôn ngàn trôi sông.

Thật là uổng côn có ích chi đâu nà?

Tức tối thay, biết hỏi ai cho tường bổn mặt,

Kẻo xốn xang lòng như dao cắt tâm can.

(Ngậm thở rồi lại ngậm than!)

Tốn hao của dư muôn,

Lo lắng làm bôn chôn đôi ba làng, năm bảy tổng,

Xúm nhau mà theo (lục) thổ, hương đăng rực rỡ, tinh anh chói lòa.

Bới có dư ăn trong nhà,

Của cải mấy tòa mới toan xài cho bớt đi,

Giàu có để làm chi,

Khiến tốn hao xuất năm,

bảy chục cúng Phật cho nhiều,

Hầu khỏi đọa trầm luân (nghĩ dửng, dừng dưng!)

Nhớ xưa lúc nhà Lương, Võ đế lầm tai ương,

Bởi tại lòng tin Phật Tổ,

Chốn đài thành ngọa tử, ngửa nghiêng xã tắc.

Như Lai đâu không phò?

Cám rha1n giả cô dờ vi Phật lập chùa,

Nên nỗi tàn giang san,

Hỡi người đồng bang,

Chớ ngủ mê kêu nhau thức dậy,

Quét sạch mây mù theo ngọn đuốc văn minh.

 (Xin đừng có khinh!)

Đua tranh bới dị bang,

Samh làm người trần gian,

Hết lòng ân cần,

Lo thủ đại lợi mới ngoan,

Hùn hiệp mãi thương, thời đặng vững vàng.

Chóng chóng khá viễn tư,

Hậu khỏi cận ưu.

Hỡi ai đừng tưởng sự tu,

Phật nào hộ trì,

Qua Ấn Độ còn xa xuôi,

Dư bằng thối lui,

Hãy lo việc kim thời.

Phận tôi phân phải trái cuộc đời,

Dám đâu khoe sức khoe tời,

Xin khán quan rộng suy xét lợi,

Xem cho tường giả chơn lấy ra lóng trong gạn đục,

Bỏ phức tu trì mau theo dõi văn mình.

(Xin đừng có khinh!)

Xưa nay lẽ dinh hư trước mắt đã hãn tàng.

 Sanh người sanh trong cọi dinh hoàn,

Chán trần thế hủy mình hay hơn.

Còn bây giờ đây trong miền Lục tỉnh đạo Thích Ca coi mòi họ chấn chỉnh lại nhiều. Người làm đầu tin những người giàu có biết điều, mà phần nhiều vi phú bất nhơn, thường làm việc ác. Nay có tuổi hồi tâm sợ sẹt, e ngày kia có chết mà phải địa ngục hành hình. Nên chi họ cậy Phật làm cho họ khỏi khổ hình, như rứa, họ va tiếng hối lộ cho Phật đó.

Đã tích ác làm giàu có, hoặc tôi ư thiên vô sở đảo giả, Phật nào lại hơn trời? Dẫu sùng tu miễu võ đòi nơi, trong lòng đao kiếm tu thời uổng thay! Lập chùa miễu sao không cất nhà trường, nhà thương, nhà thí? Có tiền nuôi sãi tăng sao không bao cho học trò nghèo đi học bên Tây?

Buộc nó học ròng như là làm đồ chai, làm giấy, chế tơ lụa, thuộc dạ, làm đồng hồ, thế đường, cách hấp cá hộp. Nói tắt một lời học các món về kỹ nghệ, mỹ thuật, không phải học đồ can hệ tới quấc gia như là đúc súng, đóng tàu trện, vì mấy sự nầy dẫu mấy nghìn thu nữa mình cũng không biết.

Lập chùa miễu sao đành để cho trong làng mình lắm đứa trẻ con côi cút không ai nuôi dưỡng, dắt dìu, giáo hóa, lớn lên vô trí vô năng. Cứu một mạng người bằng cất năm bảy cảnh chùa, vì nuôi đứa cô độc, cút côi cũng như cứu mạng nó, chớ để cho thân sơ thất sở, thiếu sự tiếp dưỡng, lớn lên lao ốm thể con cò ma và thất điều giáo dục, dầu có sống cũng như thác vậy. Có tiền để cất chùa miễu, thà để làm những điều ích nước lợi dân, làm phước nhỡn tiền còn hơn làm chùa miễu dường của đổ sông đổ biển.

Đặng Song nói một hơi dường như nước chảy, làm cho Cẩm Tú nghĩ lại chàng nói phải chẳng sai. Phần thì bác, cha mẹ và anh chị dâu đốc vô và dức la hoài, nên Cẩm Tú chịu vui lòng vầy cầm sắt.


Còn tiếp.

Related Images:

Hà Tiên – Cuộc sống điền viên – Chương 628

You need to login to view this content. Please . Not a Member? Join Us

Cũng vì gả ép: 17 – Nguyễn Sinh trở về

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Cũng vì gả ép
Trung Lập báo (1924 -1933)

Truyện: Cũng vì gả ép

Tác giả: Vị Hoàn, Tứ Linh

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Cũng vì gả ép: Nguyễn Sinh trở về

Nội nhà có hỏi thăm có gặp Nguyễn Sinh chăng, Hồ Hải thở dài than vắn. Anh ta rằng mình đi lính đó, là có ý qua tìm Nguyễn Sinh, đặng mà đoái công thục tội. Nhưng mà hơn mấy năm trường, vắng bặt âm hao, không thông tin tức.

Qua ngày sau, mặt trời mới vừa rựng mọc, Hồ Hải từ giã mà đi nói chuyện gấp, hễ công chuyện hoàn thành thì trở lại chẳng sai.

Không dè mới năm giờ chiều, nội nhà đang ngồi dùng cơm, bỗng nghe trước ngõ có xe hơi tốp máy. Trong giây phút thì có tiếng gõ cửa. Nguyễn Phong ra lịnh cho vào.

Mà ngạc nhiên thay, sững sờ thay! Nhìn trân thay!

Có một ông quan còn trai, ăn mặc chỉnh tề, bước vô một cách rất khoan thai, tay thì cặp một vị phu nhơn bận đồ đầm, dung nhan ai thấy cũng lạnh mình vì sắc nước hương trời chói rạng. Vừa thấy Nguyễn Phong và vợ chồng Nguyễn Phước, thì hai vị ấy liền quì mà chào hỏi.

Chư độc giả thử nghĩ coi ai đó vậy?

Còn Nguyễn Phong, vợ chồng Nguyễn Phước và Cẩm Tú chạy lại ôm ông quan một ấy và đỡ dậy, cả nhà khóc mướt cùng nhau, có một mình Đặng Song hơi ướm lụy mà thôi. Ông quan một đó chẳng phải ai đâu, ấy là Nguyễn Sinh vậy. Bởi rứa cho nên cha con, mẹ con, bác cháu, anh em mừng rỡ hết tình, vui hết bực mà lại có pha nước mắt.

Thuở biệt ly đau phiền cũng dữ, cơn đoàn viên hân hỉ láng lai. Thuật hàn huyên, hỏi đủ mọi việc dông dài, sự cảm xúc của mọi người trong khi ấy khó mà tỏ được. Còn phu nhơn đó thì đứng cười chúm chím, ngó Đặng Song và Cẩm Tú phần nhiều.

Nguyễn Phước hỏi:

Còn vị phu nhơn nầy là ai vậy? Quen lớn với con hay là vợ của bằng hữu chi chi? Ở bên Tây với trẻ mà về hay là đầm lai bên Đông Pháp?

– Thưa nàng vốn con nhà Hồng Lạc, giả trai qua bển tùng chinh, cũng bị sanh cầm nhốt chung cùng nhau một dinh, bởi đồng bang, đồng mạnh và đồng chưởng nên thương nhau mà kết nguyền phu phụ. Con cũng biết giá thú bất cáo là có tội, song gặp nghịch cảnh và lúc biến quyền, không rõ sống thác giờ nào, nên cùng nhau vàng đá lời giao, trông may được tha về sau sẽ thưa với cha mẹ.

Nội nhà nghe nói gái giả trai thì càng nghi hơn nữa. Mẹ Nguyễn Sinh mắt thì ngó chăm chỉ vị phu nhơn đó, miệng thì hỏi Nguyễn Sinh:

– Ở bển bấy lâu, con có gặp Hồ Hải lần nào chăng? Vì nó cũng có đi tùng chinh vậy?

Nói rồi thuật hết đầu đuôi tại sao mà Hồ Hải đi Tây trợ chiến.

Nguyễn Sinh tính bề, nếu để lâu e sanh ra sự giễu cùng cha mẹ, mà mang lụy lỗi ngời, chàng bèn chỉ phu nhơn đó mà nói:

– Ấy là Hồ Hải chớ ai? Xin cha mẹ xem tường cho kỹ?

Hồ Hải thấy nói thiệt rối thì lật đật quì:

– Xin cha mẹ, bác, Đặng gia và cô nương miễn chấp.

Bây giờ nghe tiếng quả thiệt là tiếng của Hồ Hải, thì nội nhà biết bao nhiêu lấy làm lạ, làm kỳ.

Nguyễn Phước nói:

– Sự nầy dẫu cho thần quỉ cũng nan tri thôi, có thật là Hồ Hải thì nguồn cơn con hãy tỏ. Chớ như việc vậy dầu trời cũng rõ, làm cho con trai gần ba mươi năm rồi trở lại làm đàn bà! Thật xưa nay chẳng có ai như vậy đa, đâu con hãy phân sự thiệt.

– Thưa, nói ra lẽ hổ hang không xiết, hai mươi mấy năm con giả dạng con trai. Nguyên hồi mẹ con đương có thai, thì ông nội của con có hứa rằng nếu sau sanh sản cháu trai thì ông sẽ cho của cháu hai ngàn mẫu ruộng. Nghe hứa vậy ai mà chẳng muốn? Nên cha mẹ cháu toa rập với bà mụ mà nói rằng trai ngõ hưởng gia tài cho trọn.

Song năm 1907, ông của con thọ khổn, vù hùn hiệp với Minh Câm Công ty, mà bị họ kẻ nói rằng theo Nhựt Bổn, vì ông Gilbert Trần Chánh Chiếu làm đầu hội nầy. Ổng cho con đi du học bên Nhựt, nên bị việc chẳng may, ông Chiếu hết tiền, nhà cửa, mà ông của con cũng hao hết mấy muôn bạc. Sự ấy tuy hao tài tốn của mà không đáng tức.

Qua năm 1908 lại nổi lên Thiên Địa Hội gần cùng khắp Nam Kỳ. Từ thứ dân cho tới quan kia, bên văn võ phần nhiều theo “húi”. Kèo vàng, kèo xanh, kèo đỏ. Ấy là khổ hao của họ Hồng. Mỗi người đều phải làu thông câu “vạn vọng biểu huynh lai chỉ giáo, Hồng môn tiểu đệ thị bất tri. Nghĩ Annam làm việc ngu si, hội ấy của bọn cách mạng nhà Thanh bày đặng quyên tiền bên đất Việt. Người mình kiến thức rất hẹp, theo làm chi mà tốn bạc tốn tiền? Lại đánh nhau giành “ngủ hổ” nầy kia ăn tết, lân xanh, lân vàng chém như chém chuối.

Lâu lâu có một thằng Chệt làm đầu húi, tới góp tiền nói rằng vâng lịnh ở Cholon truyền. Góp nội tỉnh nầy cũng có lẽ hơn 15, 20 muôn bạc. Tiền ấy để sắm thần công, đại bác, để đạp đổ đế quyền bên Tàu. Té ra Annam làm mọi cho bên Tàu, nghĩ cũng thiệt thòi lắm bấy.

Ông của con hay tin vậy, vào hội nầy tốn biết mấy ngàn đồng. Sau bị kẻ rằng liên can tới đám Thiên Địa Hội ở làng Song Vinh mà sở mật thám đã bắt còng, ông của con trút hết thảy gia tài sự nghiệp mới khỏi tù rạt.

Bị vậy nên nghèo xẩu mình mà thác, nghĩ tới đây cháu oán ba thằng Thiên Địa Hội biết chừng nào. Rứa nên, cha mẹ hết được hưởng gia tài, mà con cũng phải giả trai hoài vậy.

Ngày con xin đi lính tình nguyện, quan thầy thấy con đường đường diện mạo. lẫm lẫm oai phuông thì cho đi liền không coi chi ráo. Con chắc mình trước nên con mới dám xin đi, và con mặc đồ đờn ông thì con giống hịch nam nhi, bởi giả trai hồi mới đẻ và có tướng mạo phe trai nữa.

– Ôi! Tụi bây quá dữ! Gạt ta hơn mấy năm trường. Khác nào như thừa tướng họ Lương bị Tô Ánh Tuyết và Mạnh Lệ Quân gạt vậy. À thôi! Việc đó đã đành có đó, sao còn dắt Cẩm Tú làm chi?

– Thưa vì có thơ ni, cô Ba quyết tự tử cho nên con phải đem đi mà cứu mạng. Chẳng dè việc lộng giả thành chơn mà sanh ra khốn nạn, thiếu chút nữa con cũng mạng vong, mà cô Ba cũng không rồi.

Cẩm Tú nghe mắc cỡ vô hồi, vì mình nhè má phấn mà mình muốn trao thân gở phận. Bị vậy mà làm thinh lẳng lặng, cúi mặt chẳng dám nhìn ai. Hồ Hải nghe nhắc chuyện Cẩm Tú làm tuần, cúng tế mình thì cười thầm và nghĩ cho Cẩm Tú cũng đa tình lắm. Hồ Hải nói mình giữ cái thơ là cố ý ngày giải oan cho mình và Cẩm Tú luôn thể, vì dắt nhau đi là muốn cứu mạng người, chớ thuở nay chưa có điều chi cùng nhau làm bại hoại phong hóa.


Còn tiếp.

Related Images:

Cũng vì gả ép: 16 – Gặp lại Hồ Hải – Phần 2

Vài lời từ người đánh máy

Truyện này được tác giả viết từ những năm đầu thế kỷ 20 nên có nhiều từ cổ và cách hành văn, chính tả cũng khác so với hiện nay.

Tôi xin phép sửa vài lỗi “chính tả” ở các cách dùng dấu hỏi, dấu ngã trong nguyên tác để tránh gây hiểu lầm cho các độc giả trẻ.

Tài liệu mà tôi có được đã cũ và việc chia thành chương hồi không rõ ràng nên tôi mạn phép tạm chia lại theo nội dung của truyện. Tôi sẽ chỉnh sửa khi có được tài liệu chính xác hơn. 


Cũng vì gả ép
Trung Lập báo (1924 -1933)

Truyện: Cũng vì gả ép

Tác giả: Vị Hoàn, Tứ Linh

Nguyên quán: Trà Vinh

Xuất bản: Truyện được đăng nhiều kỳ trên tờ Trung Lập Báo, năm 1924.


Cũng vì gả ép: Gặp lại Hồ Hải – Phần 2

Cẩm Tú làm thinh bộ mặt héo xàu, thở dài thở vắn, kêu Đặng Song nói:

– Hồi nãy, thiếp đang coi hát tới màn thứ ba, có một gã mua giấy hạng nhứt đi vô. Thiếp thấy rõ ràng là Hồ Hải chẳng sai. Nhưng mà không biết quả hay là tại mắt thiếp coi chẳng thiệt. Cơn thấy thiếp lòng quặn đau chẳng xiết, nhớ lại khi bôn tẩu cùng nhau. Sự tự nhiên cái cảnh hồi đó nó đồ lại rất u sầu, thiếp lui chơn trở gót mau mau, kẻo chàng Hồ thấy thì sanh điều bất trắc.

– Ủa! May dữ a! Nói vậy thì Hồ huynh chưa thác, vậy mà bấy lâu lưu lạc nơi nào? Thôi! Mình ở nhà để tôi tới đó kiếm coi, đêm nay thứ bảy hát tới sáng, chắc ảnh còn ở đó. Ôi lấy cái hình nầy đem theo nhìn ảnh.

Nói rồi chạy riết ra kêu xe kéo đi một hồi.

Cẩm Tú sợ run cho nên chạy theo không được mà dặn ít lời, bèn té xỉu trên mền mà nghỉ mệt.

Nguyên Cẩm Tú thừa ưa gặp Hồ Hải thì cảm xúc biết bao.

Thấy Đặng Song lấy cái hình chạy đi kiếm Hồ Hải, thì run lập cập gần té nhào, muốn cản lại mà mở miệng không ra tiếng. Vì trí tưởng Đặng Song đi kiếm Hồ Hải đặng có sanh chuyện rầy rà. Nếu hai chàng có xảy việc ra, sự hộ, hôn điền thổ không phải dể.

Đặng Song lên xe biểu chạy dông một nước, ít phút đồng hồ đã đến rạp hát cải lương. Chàng chạy vô tìm ngó tứ phương, theo ghế hạng nhứt, không thấy ai giống cái hình Hồ Hải. Khi ấy chàng rất nóng nảy, nhảy lên xe biểu chạy trở về. Gần tới nơi thấy một gã nam nhân, đi qua đi lại trước cửa ngõ mình mà có ý dòm hành việc chi vậy.

Đặng Song lại gần nhìn rõ ràng là Hồ Hải, vội vàng rằng:

– Anh có phải là Hồ huynh chăng?

Đáp rằng:

– Thưa phải. Mà sao nhân huynh lại biết tánh danh của tôi?

– Có hình đây nhơn huynh hãy coi.

– Ôi! Hình của tôi. Do nào về tay nhân huynh được? Nếu vậy Nguyễn tiểu thơ vô phước làm sao đây, nên hình mới rớt rơi? Khiến đồ vật tư nhơn, tiểu thô ôi có biết?

– Nguyễn tiểu thơ bây giờ là nội trợ của tôi, thiệt hữu phúc vô cùng, chớ không phải vô phúc như nhơn huynh nghi đa!

– Nói vậy nhơn huynh đi với tiểu thơ hồi nãy đây mà! Tôi mắc nhìn Nguyễn tiểu thơ lắm cho nên xem nhơn huynh không rõ, xin miễn chấp.

– Tôi mô dám chấp, xin mời dời gót ngọc vô tư tệ trang.

– Thưa cám ơn. Nay tôi rõ Nguyễn tiểu thơ phú quí giàu sang, bấy nhiêu đó cũng đủ cho tôi cổi tấm lòng sầu muộn. Xin cho tôi cáo từ sớm, vì mai nầy tôi còn trở về Trà Vinh.

– Xin chớ từ, tôi mời thỉnh thiệt tình. Chẳng phải đặt bẫy mà anh sợ.

– Tôi chẳng sợ chi hết, chỗ chiến trường tôi từng trải mấy năm. Thôi, tôi thấy anh thật dạ, thật lòng, xin đi trước cho tôi nối gót.

Cẩm Tú nghỉ một giây bớt mệt, ra đứng trước cửa mà ngó chừng, xốn xang xem một phút như một năm. Bỗng thấy Đặng, Hồ vào đến, Cẩm Tú dường giấc chiêm bao chưa tỉnh, đứng trân trân vì cảm xúc tràn trề.

Hồ Hải rằng:

– Chào tiểu thơ! Mừng tiểu thơ mạnh giỏi!

Cẩm Tú còn làm thinh chẳng nói, Đặng Song lại vỗ vai mà hỏi:

– Sao không chào đáp cho Hồ huynh?

Cẩm Tú đang giữa đôi tình, bắt chước Túy Kiều, nói rằng:

– Chào chàng Hồ đó, là người ngày xưa.

Đương hỏi han chưa rồi sau trước, Nguyễn Phước giựt mình thức nghe, chờ dậy coi có chuyện chi đây, mà đôi trẻ chừng nầy chưa ngủ. Ra gặp mặt xiết bao mừng rỡ, hỏi chào nhau tở mở hân hoan.

Hồ Hải hỏi thăm đôi cụm song đàng, nghe còn mạnh giỏi chàng vui chẳng xiết. Mỗi người đều thuật việc mình, thiệt có chỗ làm cho lụy rơi, có chỗ làm cho miệng cười. Hồ Hải xin lỗi Nguyễn Phước tha tội, Hồ Hải lại tạ ơn Đặng Song và nói rằng nếu chẳng có Đặng Song thì Cẩm Tú c9a4 lầm tay kẻ độc. Tội ấy về, Hồ Hải chịu, vì cah2ng dắt nên Cẩm Tú mới dám đi.

Nhưng mà Đặng Song lại nói Hồ Hải là ân nhơn của va, rằng nếu không có Hồ Hải thì Cẩm Tú đã cam bề tự ải. Nếu như vậy thì va già đời quyết không cưới vợ, vì va quyết rằng không còn ai đức hạnh và tài mạo bằng Cẩm Tú.

Cho nên va lấy nhiều tiền bạc mà tạ ân, Hồ Hải không lấy mà lại nói, nếu dùng tiền bạc mà đãi nhau như rứa, thì hổ thẹn lắm. Hồ Hải nói anh ta vì nghĩa mà thôi chớ tiền bạc như đồ phấn thổ, trong việc ngãi nhơn dừng dùng tới nó làm chi. Đặng Song biết chàng là bực trí tri, càng vì nể, lại càng yêu mến. Hồ Hải thấy Đặng Song chẳng ghen tương, biết là người quân tử trượng phu, cho nên vui dạ ở chơi hai bữa.

Trong cơn Hồ Hải ở đó, thì Đặng Song hậu đãi lắm. Đặng Song biểu Cẩm Tú bổn thân châm rượu mà dâng và biểu Cẩm Tú đàm đạo với Hồ Hải, nói rằng tình cũ nghĩa xưa, mựa đừng yểm cựu nghinh tân. Hồ Hải thâm cảm thạnh tình, còn Cẩm Tú thấy chồng thành thực đáng bực chí quân tử, đại trượng phu nên Cẩm Tú lấy thiệt lòng mà trò chuyện tất tình cùng Hồ Hải. Song hai đàng là đứng bình lễ quân tử, những điều cầm sắt bỏ ráo, duy lấy lễ chủ khách mà tung hô, đối đãi, cử chỉ cùng nhau mà thôi.


Còn tiếp.

Related Images: